Tư Duy Trừu Tượng

84

1. Tư duy trừu tượng

1.1 Tư duy trừu tượng là gì?

Tư duy trừu tượng là một hình thức của tư duy sáng tạo, phản ánh hiện thực một cách gián tiếp thông qua ngôn từ. Do đó, khi vốn ngôn từ càng đa dạng, phong phú thì tư duy gắn liền với nó cũng linh hoạt, phân tích sâu sắc hơn về sự phức tạp của các khía cạnh trong thế giới, có thể diễn đạt được mọi vấn đề một cách bao trùm, rõ ràng và dễ hiểu nhất có thể.

Tư duy trừu tượng chính là nhìn mọi thứ như một bức tranh tổng thể. Nói một cách đơn giản hơn thì tư duy trừu tượng là tư duy bên ngoài chiếc hộp.

Tư duy trừu tượng không thể dồn nén ở trong bất cứ khuôn khổ nào hoặc bị ràng buộc bởi cá thể độc lập nào. Điều này có nghĩa là nếu nói các nhiệm vụ được phân công của một dự án là cụ thể, thì tư duy trừu tượng ở đây chính là để trả lời cho câu hỏi Tại sao cần phải làm dự án đó.

Nhờ không bị giới hạn phạm vi suy nghĩ mà con người có thể tưởng tượng, sáng tạo không ngừng.

Nói một cách đơn giản hơn là tư duy trừu tượng chính là nghĩ về những cái bạn vừa nhìn thấy, nghĩ về các triết lý trong đầu. Người có tư duy trừu tượng thường sử dụng cách nói ẩn dụ và phép loại suy để nghĩ về thế giới.

Họ có thể hiểu được những lời đã nói và cả những lời không được nói ra bằng cách xâu chuỗi lại các bằng chứng để suy luận. Họ suy luận rất tốt và có thể hình dung ra được chiều không gian khác của một vật thể mà không cần xoay vật thể.

tư duy trừu tượng
Sử dụng cả hai bán cầu não để tư duy trừu tương

1.2 Ví dụ về tư duy trừu tượng:

  • Các diễn viên hài. Họ quan sát thế giới xung quanh một cách bao quát rồi tìm ra những điều hợp lý nhưng vô lý (theo nghĩa bóng) để tạo ra sự bất ngờ cho người nghe.
  • Khi học môn toán học, trừu tượng hoá các khái niệm và con số (không gian, kích thước vật) thay vì đặt tay lên một vật cụ thể để cảm nhận.

1.3 Quan hệ bổ sung cho nhau của tư duy trừu tượng và tư duy logic

Tư duy trừu có quan hệ mật thiết với tư duy logic, nó thuộc vùng tiềm thức nhiều hơn thuộc vùng ý thức.

Thế thì tại sao hai loại tư duy này lại phải đi cùng nhau?

Như đã nói ở trên, người có tư duy trừu tượng sẽ có khả năng phán đoán sự vật-hiện tượng rất tốt bởi vì họ có cái nhìn bao quát và những suy nghĩ vượt phạm vi. Thế thì khả năng phán đoán của họ dựa vào đâu, đó ắt hẳn không chỉ là sự may mắn mà đưa ra quyết định, mà nó chính là những sự việc đã được họ xâu chuỗi rất nhanh theo một cách đúng đắn nhất.

Việc xâu chuỗi rất nhanh các manh mối đó, thì không thể chỉ dùng ý thức được, bởi vì ý thức chỉ chiếm ⅙ trí tuệ của não bộ nên nó sẽ xử lý các thông tin nạp vào rất cồng kềnh và khả năng truy xuất thông tin từ ý thức rất chậm.

Vì thế mà với tốc độ xử lý nhanh như tư duy trừu tượng thì đòi hỏi bạn phải logic lại các vấn đề theo cách đúng đắn nhất nhưng phải nhanh nhất.

Nếu nói đến việc nhanh nhất, thế thì phải buộc chúng phải nằm ở tiềm thức, bởi vì ⅚ phần còn lại của trí tuệ não bộ thì thuộc vùng tiềm thức và vô thức, chủ yếu chính là tiềm thức bởi vì vô thức thì rất khó có thể tác động vào, vì thế mà tốc độ xử lý và truy xuất thông tin từ nó rất nhanh chóng.

Nếu nói về đúng đắn nhất, thì ta phải nói đến khả năng logic các sự việc theo một trật tự hợp lý nhất nhưng phải từ một sự thật đúng đắn. Các thông tin từ vùng tiềm thức phải được sắp xếp “ngay ngắn” và “ngăn nắp” để tối ưu hoá thời gian tìm kiếm và truy xuất lại thông tin cũ.

Để phát huy được hiệu quả cao nhất của tư duy trừu tượng thì phải hình thành ở tiềm thức một hệ tư tưởng tốt và phải kết hợp chặt chẽ với tư duy logic. Hệ tư tưởng ở đây phải là một hệ tư tưởng tốt, nghĩa là phải đưa những điều được cho là đúng vào bộ nhớ dài hạn (thuộc vùng tiềm thức).

Người có tư duy trừu tượng thường có khả năng phán đoán, loại suy và tìm được nhiều phương án thay thế khác nhau dù cho họ không được nhìn cụ thể vật gì. Họ nghĩ lên những ý tưởng phức tạp và liên kết các manh mối lại với nhau theo cách logic nhất. Vì thế, họ thường sẽ làm các bài kiểm tra về trí thông minh rất tốt.

Khi chúng ta có thể tượng tượng ra những gì chưa từng nhìn thấy, chúng ta sẽ có thể sáng tạo, thế nên nếu không có tư duy trừu tượng thì một vài phát minh trong lịch sử nhân loại đã không thể thực hiện.

tư duy trừu tượng
Sự sáng tạo là không giới hạn khuôn khổ

2. Nguyên nhân làm hạn chế tư duy trừu tượng

Hội chứng tự kỷ

Những người mắc phải hội chứng tự kỷ thường khó giao tiếp xã hội, khó khăn trong việc hiểu và diễn đạt ngôn ngữ nên ngôn từ hạn hẹp và trí tưởng tượng không phong phú. Hầu hết người mắc hội chứng này đều gặp khó khăn trong nhận thức về giác quan.

Những tổn thương về não

  • Tâm thần phân liệt
  • Các chấn thương đến não bộ
  • Thiểu năng trí tuệ
  • Chứng mất trí nhớ

3. Cách để cải thiện tư duy trừu tượng

3.1 Cách để tư duy trở nên trừu tượng

Chúng ta thường cho rằng tư duy phản biện có sẵn hoặc do bẩm sinh. Nhưng thực tế là khi những đứa trẻ có nhiều trải nghiệm mới lạ, đọc nhiều sách hoặc giao tiếp xã hội tốt cũng giúp chúng hình thành tư duy.

Giải các câu đố: giải những câu hỏi về từ ngữ hoặc hình ảnh, qua đó có thể tìm nhiều đáp án cho các phương án thay thế nhằm suy luận bao quát tìm ra câu trả lời chính xác.

Xây dựng các mô hình 3D: Những người làm trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ, toán học có khả năng tư duy trừu tượng cao thông qua việc thường xuyên thực hiện các dự án thủ công và dự án mô phỏng.

Bạn có thể là hình thành tư tưởng trừu tượng nếu:

  • Bạn liên kết mọi thứ thành một bức tranh tổng thể lớn hơn.
  • Bạn không chỉ hỏi: “Làm thế nào?” mà bạn hỏi “Tại sao?”
  • Bạn tìm kiếm ý nghĩa sâu sắc hơn (ý nghĩa ẩn dụ)  và mô hình cơ bản trong mọi thứ.
  • Bạn tìm hiểu về cách mà mọi thứ liên quan được với nhau.

Bạn vẫn có thể phát triển tư duy trừu tượng theo cách nhìn từng phần riêng lẻ của một vấn đề, rồi xét mối quan hệ chung giữa chúng.

3.2 Cách rèn luyện tư duy trừu tượng mỗi ngày

Suy nghĩ về các khái niệm

Bất cứ lúc nào bạn nghĩ về một khái niệm không cụ thể, đó là suy nghĩ trừu tượng. Bất cứ thứ gì không có dạng vật chất cụ thể đều là một khái niệm có thể đòi hỏi tư duy trừu tượng.

Ví dụ bạn nghĩ về khái niệm của tự do và tôn trọng

Đưa ra các lý thuyết

Nếu bạn đưa ra một lý thuyết để giải thích một sự kiện, đó là tư duy trừu tượng. Lý thuyết có thể dựa trên dữ liệu cụ thể, nhưng nó vẫn chỉ là phỏng đoán (có thể dựa trên tư duy logic), điều này khiến nó trở nên trừu tượng.

Sử dụng trí tưởng tượng của bạn

Ngay cả những thứ đơn giản như sử dụng trí tưởng tượng của bạn cũng được coi là tư duy trừu tượng. Bạn đang suy nghĩ về những thứ và khả năng không tồn tại ở dạng vật chất, điều này làm cho suy nghĩ trở nên trừu tượng.

Ví dụ: Các nhà phát minh vĩ đại, nếu họ không dùng trí tưởng tượng, thì họ không thể tạo ra những phát minh vốn dĩ chưa từng tồn tại.

Sử dụng phép ẩn dụ và phép loại suy

Phép ẩn dụ và phép loại suy là một kiểu tư duy trừu tượng khác. Chúng tạo ra mối quan hệ giữa hai ý tưởng có thể trừu tượng hoặc cụ thể. Nếu chúng cụ thể, thì hành động nghĩ về hai ý tưởng cụ thể trong mối quan hệ liên quan với nhau, là một dạng tư duy trừu tượng.

4. 5 chiến lược giải quyết vấn đề bằng tư duy trừu tượng

4.1 Trừu tượng hóa vấn đề

Một trong những trở ngại trong việc giải quyết vấn đề đó chính là chúng ta quá chú trọng vào các chi tiết.  Vì thế, hãy tối giản suy nghĩ thay vì chỉ chăm chú vào chi tiết bạn bị mắc kẹt. Hãy nghĩ về mục đích tổng thể và lý do tại sao bạn phải thực hiện dự án này, bạn có vai trò gì trong dự án này?

Nếu bạn gặp khó khăn trong việc thoát khỏi các chi tiết và suy nghĩ về dự án dưới góc độ toàn cảnh như thế này, hãy thử đi dạo. Điều này kích hoạt bộ não của bạn suy nghĩ về vấn đề một cách mở rộng hơn thay vì suy nghĩ tập trung.

4.2 Tái cấu trúc vấn đề theo một cách mới

Một trong những cách đơn giản nhất để sử dụng tư duy trừu tượng trong giải quyết vấn đề là sắp xếp lại câu hỏi bạn đang cố gắng trả lời.

Ví dụ: giả sử bạn đang gặp khó khăn khi làm việc trong một dự án vì câu hỏi bạn đang tự hỏi bản thân chỉ đơn giản là “Làm cách nào để viết mã code này để hoàn thành dự án?”

Để không gặp khó khăn, hãy tự hỏi bản thân những câu hỏi tiếp cận vấn đề từ nhiều hướng khác nhau, chẳng hạn như “

  • Tại sao điều này cần phải giải quyết theo cách này?
  • Tôi có thể làm cho việc này đơn giản hơn không?
  • Ai sẽ sử dụng cái này?
  • Sản phẩm hoàn chỉnh cần có những gì?

Bằng cách đặt một loạt câu hỏi về bức tranh toàn cảnh hơn của dự án, bạn có thể vấp phải một giải pháp mà bạn chưa từng thấy với tầm nhìn hẹp hơn.

4.3 Tiếp tục hỏi lý do (lặp đi lặp lại)

Có nhiều cấp độ khác nhau của tư duy trừu tượng, và một cách để chuyển sang cấp độ trừu tượng ngày càng cao là tiếp tục hỏi “Tại sao?”

  • Tại sao dự án của bạn có tính năng này?
  • Tại sao nó cần phải hoạt động theo cách này?
  • Tại sao người sử dụng thành phẩm sẽ cần tính năng đó?

Hãy tiếp tục hỏi tại sao, và bạn sẽ lại có thể nhìn thấy bức tranh toàn cảnh xung quanh vấn đề, thay vì chỉ chính vấn đề.

tư duy trừu tượng
Không ngừng đặt câu hỏi cho mọi vấn đề

4.4 Tìm kiếm các mẫu

Nếu tư duy trừu tượng là về việc nhìn thấy bức tranh lớn, thì một cách tuyệt vời để đạt được điều đó là tìm kiếm các mẫu trong công việc của bạn.

Bằng cách đặt ra các câu hỏi như:

  • Bạn đã từng gặp vấn đề như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trong công việc hoặc cuộc sống của mình chưa?
  • Vấn đề này giống hay khác với những vấn đề bạn đã giải quyết trước đây?

4.5 Ngủ trên đó

Khi vẫn thất bại, hãy tạm dừng vấn đề và ngủ quên trên đó.

Cho dù bạn chỉ ngủ một giấc ngắn vào buổi chiều hay cả một đêm nghỉ ngơi, nghiên cứu cho thấy giấc ngủ có thể làm gián đoạn suy nghĩ của bạn khi giải quyết một vấn đề khó khăn, cho phép bạn nhìn nhận lại vấn đề với những suy nghĩ mới mẻ và đạt được giải pháp nhanh hơn.

Một số nhà tư tưởng nổi tiếng nhất trong lịch sử đồng ý rằng: Thomas Edison nổi tiếng đã chợp mắt trong xưởng của mình với mỗi tay một ổ bi bằng thép, để khi anh ta ngủ thiếp đi, âm thanh của kim loại va chạm vào sàn nhà sẽ đánh thức anh ta. Ngay lập tức trở lại làm việc với đôi mắt và suy nghĩ mới mẻ.

_________________________________________________________________________

Tư duy trừu tượng là gì?

Tư duy trừu tượng là khả năng suy nghĩ về các đối tượng, nguyên tắc và ý tưởng không có trong vật chất. Nó liên quan đến tư duy biểu tượng, sử dụng sự thay thế biểu tượng cho một đối tượng hoặc ý tưởng.

Một loạt các hành vi hàng ngày tạo thành tư duy trừu tượng. Bao gồm các

  • Sử dụng phép ẩn dụ và phép loại suy
  • Hiểu mối quan hệ giữa các ý tưởng bằng lời nói và không lời
  • Suy luận không gian và thao tác tinh thần và xoay các đối tượng
  • Lập luận phức tạp, chẳng hạn như sử dụng tư duy phản biện, phương pháp khoa học và các cách tiếp cận khác để lập luận thông qua các vấn đề

Tư duy trừu tượng giúp con người có thể thực hiện khả năng sáng tạo. Đến lượt mình, sáng tạo là một cơ chế sinh tồn hữu ích – nó cho phép chúng ta phát triển các công cụ và ý tưởng mới để cải thiện chất lượng cuộc sống của con người.

Tư duy trừu tượng (hay còn gọi là nhận thức lý tính) là mức độ nhận thức tiếp theo của trực quan sinh động. Đây là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận.

NLP (Lập trình ngôn ngữ tư duy: Neuro – Linguistic – Programming) được sáng tạo ra không nhằm mục đích nào khác đó là giúp mọi người có thể khai thác tối đa tiềm năng của bản thân một cách mạnh mẽ và chính xác nhất. Quan điểm của NLP rất rõ ràng đó là nếu bạn người khác làm được những điều phi thường thì sẽ có công thức để làm được điều đó. Và khi đã có công thức thì có nghĩa là bạn cũng có thể làm được những điều phi thường đó.

Các hình thức của tư duy trừu tượng 

Tư duy trừu tượng là giai đoạn 2 của quá trình nhận thức. Nhận thức có 3 giai đoạn là: 

  • Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động)
  • Nhận thức lý tính (hay còn gọi là tư duy trừu tượng)
  • Nhận thức trở về thực tiễn

Nhận thức lý tính (hay còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận.

Khái niệm

Là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay lớp sự vật. Vì vậy, các khái niệm vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển. Khái niệm có vai trò rất quan trọng trong nhận thức bởi vì, nó là cơ sở để hình thành các phán đoán và tư duy khoa học.

Phán đoán

Là hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm với nhau để khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính của đối tượng. Thí dụ: “Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng” là một phán đoán vì có sự liên kết khái niệm “dân tộc Việt Nam” với khái niệm “anh hùng”. Theo trình độ phát triển của nhận thức, phán đoán được phân chia làm ba loại là phán đoán đơn nhất (ví dụ: đồng dẫn điện), phán đoán đặc thù (ví dụ: đồng là kim loại) và phán đoán phổ biến (ví dụ: mọi kim loại đều dẫn điện). Ở đây phán đoán phổ biến là hình thức thể hiện sự phản ánh bao quát rộng lớn nhất về đối tượng.

Nếu chỉ dừng lại ở phán đoán thì nhận thức chỉ mới biết được mối liên hệ giữa cái đơn nhất với cái phổ biến, chưa biết được giữa cái đơn nhất trong phán đoán này với cái đơn nhất trong phán đoán kia và chưa biết được mối quan hệ giữa cái đặc thù với cái đơn nhất và cái phổ biến. Chẳng hạn qua các phán đoán thí dụ nêu trên ta chưa thể biết ngoài đặc tính dẫn điện giống nhau thì giữa đồng với các kim loại khác còn có các thuộc tính giống nhau nào khác nữa. Để khắc phục hạn chế đó, nhận thức lý tính phải vươn lên hình thức nhận thức suy luận.

Suy luận

Là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thức mới. Thí dụ, nếu liên kết phán đoán “đồng dẫn điện” với phán đoán “đồng là kim loại” ta rút ra được tri thức mới “mọi kim loại đều dẫn điện”. Tùy theo sự kết hợp phán đoán theo trật tự nào giữa phán đoán đơn nhất, đặc thù với phổ biến mà người ta có được hình thức suy luận quy nạp hay diễn dịch.

Ngoài suy luận, trực giác lý tính cũng có chức năng phát hiện ra tri thức mới một cách nhanh chóng và đúng đắn.

Giai đoạn này cũng có hai đặc điểm:

  • Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng.
  • Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng.

Nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính. Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật

Tư duy trừu tượng trong tâm lý học

Nhà tâm lý học phát triển Jean Piaget lập luận rằng trẻ em phát triển các kỹ năng lý luận trừu tượng như là một phần của giai đoạn phát triển cuối cùng của chúng, được gọi là giai đoạn hoạt động chính thức. Giai đoạn này xảy ra trong độ tuổi từ 11 đến 16. Tuy nhiên, sự khởi đầu của suy luận trừu tượng có thể xuất hiện sớm hơn, và những đứa trẻ có năng khiếu thường phát triển lý luận trừu tượng ở độ tuổi sớm hơn.

Một số nhà tâm lý học đã lập luận rằng sự phát triển của lý luận trừu tượng không phải là một giai đoạn phát triển tự nhiên. Đúng hơn, nó là sản phẩm của văn hóa, kinh nghiệm và sự giảng dạy.

Truyện thiếu nhi thường hoạt động trên hai cấp độ lý luận: trừu tượng và cụ thể . Ví dụ, câu chuyện cụ thể có thể kể về một công chúa kết hôn với Hoàng tử Charming, trong khi phiên bản tóm tắt của câu chuyện kể về tầm quan trọng của đức tính và sự chăm chỉ. Trong khi trẻ nhỏ thường không có khả năng lập luận trừu tượng phức tạp, chúng thường nhận ra bài học cơ bản của những câu chuyện này, cho thấy một số kỹ năng lập luận trừu tượng.

Tư duy trừu tượng và tư duy cụ thể

Tư duy cụ thể đối lập với tư duy trừu tượng. Trong khi tư duy trừu tượng tập trung vào các ý tưởng, biểu tượng và vô hình, thì tư duy cụ thể tập trung vào những gì có thể nhận thức được thông qua năm giác quan: khứu giác, thị giác, âm thanh, vị giác và xúc giác. Đại đa số mọi người sử dụng sự kết hợp giữa tư duy cụ thể và trừu tượng để hoạt động trong cuộc sống hàng ngày, mặc dù một số người có thể ủng hộ chế độ này hơn chế độ kia.

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Social Cognitive and Affective Neuroscience cho thấy tư duy trừu tượng gắn liền với các bộ phận của não chiếm giữ thị giác. Mặt khác, tư duy cụ thể. các bộ phận được kích hoạt của não tập trung vào các hành động được thực hiện để hoàn thành mục tiêu.

Một nghiên cứu khác cho thấy những người suy nghĩ trừu tượng thường chấp nhận rủi ro hơn những người suy nghĩ cụ thể. Điều này có thể một phần do ý tưởng rằng những người suy nghĩ cụ thể, quan tâm nhiều hơn đến “cách” thực hiện một hành động hơn là “tại sao”, có thể không được khuyến khích bắt đầu một nhiệm vụ rủi ro bởi vì họ tập trung hơn vào nỗ lực thực tế liên quan đến nhiệm vụ , trong khi nhà tư tưởng trừu tượng có thể bận rộn hơn với việc xem xét ưu và nhược điểm của rủi ro.

Suy luận trừu tượng và trí thông minh

Lý luận trừu tượng là một thành phần của hầu hết các bài kiểm tra trí thông minh . Các kỹ năng như xoay đối tượng tinh thần, toán học, sử dụng ngôn ngữ cấp cao hơn và áp dụng các khái niệm vào các chi tiết cụ thể đều đòi hỏi kỹ năng lập luận trừu tượng. Kỹ năng tư duy trừu tượng gắn liền với mức độ thông minh cao. Và vì tư duy trừu tượng gắn liền với sự sáng tạo, nó thường có thể được tìm thấy ở những cá nhân có năng khiếu là những người đổi mới.

Khuyết tật học tập có thể kìm hãm sự phát triển của các kỹ năng suy luận trừu tượng. Những người khuyết tật trí tuệ nặng có thể không bao giờ phát triển các kỹ năng lý luận trừu tượng và có thể hiểu theo nghĩa đen các khái niệm trừu tượng như ẩn dụ và loại suy. Vì lý luận trừu tượng có mối liên hệ chặt chẽ với khả năng giải quyết vấn đề, những cá nhân có khả năng tư duy trừu tượng bị ức chế nghiêm trọng có thể cần được hỗ trợ trong cuộc sống hàng ngày.

Sức khỏe tâm thần và tư duy trừu tượng

Một số tình trạng sức khỏe tâm thần có thể tác động tiêu cực đến khả năng suy nghĩ trừu tượng của một cá nhân. Ví dụ, bệnh tâm thần phân liệt đã được phát hiện làm suy giảm khả năng tư duy trừu tượng ở những người mà nó ảnh hưởng. Một số điều kiện khác có thể làm giảm tư duy trừu tượng bao gồm:

  • Chứng tự kỷ
  • Khuyết tật học tập
  • Sa sút trí tuệ
  • Chấn thương sọ não (TBI)

Một số nghiên cứu đã kết nối khả năng suy nghĩ trừu tượng với cảm giác tự chủ mạnh mẽ hơn. Điều này có nghĩa là khi mọi người được đưa ra lý do để làm hoặc không làm điều gì đó, họ sẽ dễ dàng tuân thủ quy tắc đó hơn là chỉ đơn giản là họ được hướng dẫn cách tuân theo quy tắc.

Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Tâm lý Xã hội Thực nghiệm (Journal of Experimental Social Psychology) đã tìm thấy mối liên hệ thú vị giữa quyền lực và suy nghĩ trừu tượng. Quan niệm của một người về việc họ có bao nhiêu quyền lực có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của họ hơn là lượng quyền lực thực tế mà họ có. Do đó, các nhà nghiên cứu cho rằng khả năng suy nghĩ trừu tượng tăng lên sẽ làm tăng cảm giác về quyền lực cá nhân của một cá nhân, tạo ra một vòng phản hồi tích cực trong đó niềm tin của họ ảnh hưởng đến hành vi của họ và hành vi của họ định hình kết quả cá nhân của họ.

Bài tập tư duy trừu tượng

Trong nhiều trường hợp, có thể cải thiện kỹ năng lập luận trừu tượng của bạn. Làm việc dựa trên các kỹ năng lý luận trừu tượng của bạn có thể giúp bạn cải thiện khả năng giải quyết vấn đề, hiểu và truyền đạt những ý tưởng phức tạp cũng như thích theo đuổi sáng tạo.

Một cách để rèn luyện kỹ năng suy luận trừu tượng của bạn là thực hành giải các câu đố, ảo ảnh quang học và các trò chơi trí tuệ (brain teasers) khác. Các bài tập tư duy này cho phép các cá nhân thực hành xem thông tin từ các khía cạnh và góc độ khác nhau. Vì chúng có thể giúp mở mang trí óc của một người với các khả năng khác nhau thông qua quá trình giải quyết vấn đề, câu đố có thể là một cách hấp dẫn cho cả người trẻ và người lớn để có được tư duy trừu tượng tốt hơn.

Tăng cường kỹ năng ứng biến cũng có thể giúp tăng khả năng sáng tạo và kỹ năng tư duy trừu tượng của một cá nhân. Những công việc đòi hỏi người đó chủ yếu dựa vào trí tưởng tượng của họ có thể giúp tăng cường khả năng tư duy trừu tượng của họ theo thời gian.

Sức mạnh của tư duy trừu tượng

Nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của trí tưởng tượng đối với quá trình phát triển nhận thức của trẻ em

  • Tác giả SHIRLEY S. Wang – Cập nhật ngày 22/12/2009 –

Liệu bà tiên răng có thật hay không? Thế còn người thu rác? Những câu hỏi có vẻ bình thường, nhưng cách các bạn nhỏ trả lời những câu hỏi đó lại là một chỉ báo quan trọng của sự phát triển nhận thức.

Trí tưởng tượng đối với quá trình phát triển nhận thức của trẻ em​. Trong nhiều năm qua, người ta cho rằng trí tưởng tượng là một cách để trẻ em thoát ly khỏi thực tại, đến một độ tuổi nhất định, các em sẽ gạt những câu chuyện thần tiên sang một bên và đối mặt với thế giới. Nhưng càng ngày, các chuyên gia về sự phát triển của trẻ em càng đánh giá cao tầm quan trọng của trí tưởng tượng và vai trò của nó trong việc tìm hiểu thế giới thực. Trí tưởng tượng rất cần thiết để học về những con người và sự kiện chúng ta không trực tiếp biết đến hay trải qua, ví dụ như lịch sử hoặc các sự kiện xảy ra ở một nơi khác trên thế giới. Đối với trẻ nhỏ, trí tưởng tượng giúp các em suy nghĩ về tương lai, chẳng hạn như nghĩ xem mình muốn làm gì khi lớn lên.

Theo Paul Harris, nhà tâm lý học phát triển hiện là giáo sư tại Trường Đại học về Giáo dục Harvard (Harvard Graduate School of Education), là một nhà nghiên cứu về trí tưởng tượng, “bất cứ khi nào chúng ta nghĩ về cuộc nội chiến Mỹ hay Đế quốc La Mã hoặc có thể là về Chúa, là lúc đó ta đang sử dụng trí tưởng tượng. Trí tưởng tượng rất quan trọng trong suy niệm về thực tế chứ không chỉ là về những thứ chúng ta cho là chuyện thần tiên.”

Các nhà tâm lý như Jacqueline Woolley, giáo sư tại Đại học Texas tại Austin, đang nghiên cứu về quá trình “tư duy thần tiên”, hay có thể hiểu là về cuộc sống trong thế giới thần tiên của trẻ em, và quá trình trẻ em học được cách phân biệt giữa những cái có thật với những cái không thật.

Họ hy vọng rằng hiểu biết cách phát triển nhận thức thông thường ở trẻ em sẽ giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn tình trạng chậm phát triển và các rối loạn khác như tự kỷ. Ví dụ, theo tiến sĩ Harris, có bằng chứng cho thấy trí tưởng tượng và các trò chơi đóng vai nhân vật có vai trò quan trọng giúp trẻ em nhìn nhận được quan điểm của người khác. Mặt khác, cũng theo Tiến sĩ Harris, trẻ em mắc chứng tự kỷ không tham gia nhiều vào các trò chơi đóng vai, điều đó khiến một số người cho rằng việc thiếu các hoạt động như vậy cũng là một nguyên nhân dẫn đến các khiếm khuyết về mặt xã hội của các em.

Nhóm của tiến sĩ Woolley tại Phòng Nghiên cứu Trẻ em đã tiến hành một loạt các thử nghiệm liên quan đến Ông già Noel, Tiên Răng và một nhân vật mới được tạo ra gọi là “Phù thủy Kẹo” để kiểm tra độ tuổi mà trẻ em có thể phân biệt giữa các nhân vật có thực với nhân vật hư cấu, cách các em xử lý tình huống cũng như các dấu hiệu liên quan đến các nhân vật này.

Trong một nghiên cứu có sự tham gia của 91 trẻ em, tiến sĩ Woolley đã yêu cầu các em nhỏ xác định xem một số người và nhân vật, trong đó có ông già Nô-en và Người thu rác, có thật hay không. Cô phát hiện ra rằng 70% các em ở độ tuổi 3 tuổi cho rằng ông già Nô-en là có thật, trong khi 78% tin vào Người thu rác. Đến 5 tuổi, niềm tin chắc chắn của trẻ em về Người thu rác tăng lên, và số em tin vào Ông già Nô-en đạt đỉnh ở mức 83%. Cho đến tận khi 7 tuổi, niềm tin vào ông già Nô-en mới giảm xuống. Đến 9 tuổi, chỉ có một phần ba số trẻ tin vào ông già Nô-en trong khi gần như tất cả đều cho rằng người thu rác là có thật.

Như vậy, “nếu trẻ em đã có sự phân biệt cơ bản giữa thực và không thực khi lên 3, tại sao các em lại tin vào ông già Nô-en cho đến tận khi lên 8?” Tiến sĩ Woolley nói.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng mặc dù trẻ em ở độ tuổi 3 tuổi đã hiểu các khái niệm về những gì có thật và những gì không có thật, nhưng cho đến khi lên 7 tuổi, trẻ mới có thể dễ dàng bị định hướng bởi những lời thuyết phục của người lớn hoặc những thứ được coi là “bằng chứng”. Các em giữ vững niềm tin của mình về một số nhân vật huyền diệu như ông gia Nô-en lâu hơn những nhân vật khác, chẳng hạn như con quái vật hay con rồng. Hầu hết các em tham gia nghiên cứu này theo đạo Kitô, và theo tiến sĩ Woolley, số trẻ em tin vào ông già Nô-en có thể sẽ ít hơn nếu trong mẫu nghiên cứu có sự tham gia của trẻ em thuộc nhiều tôn giáo khác.

Bằng chứng về Ông già Nô-en

Cũng theo tiến sĩ Woolley, nói một cách logic, từ những gì trẻ em nhìn thấy, niềm tin rằng ông già Noel là có thật cũng hoàn toàn hợp lý. Ông già Nô-en và Người thu rác có một số đặc điểm tương đồng. Cả hai đều là những người mà các em đã nghe nhắc đến nhưng chưa bao giờ gặp. Có bằng chứng cho sự tồn tại của ông già Nô-en – những món quà xuất hiện vào buổi sáng Giáng sinh, cũng như về sự tồn tại của người thu rác – làm cho rác biến mất, mặc dù trẻ em thường không trực tiếp chứng kiến những hành động đó. Một em bé 5 tuổi đã có kỹ năng nhận thức để lắp ghép các chứng cứ lại với nhau, nhưng vì các mảnh ghép lại gây hiểu nhầm, nên các em mới đi đến kết luận sai. Các em bé ít tuổi hơn có thể không có đủ kỹ năng nhận thức để ghép các bằng chứng với nhau, vì vậy trong thực tế, những trẻ này có thể sẽ ít tin vào sự tồn tại của ông già Noel hơn. Tính thực của một số nhân vật khác, chẳng hạn như chú rối Elmo trong chương trình Sesame Street, có thể làm rối trí trẻ bởi vì các em biết Elmo là một con rối, nhưng không biết rối thì có thật hay không?

Tiến sĩ Woolley cũng đã nhìn thấy những loại tín hiệu và bối cảnh có tính thuyết phục nhất đối với trẻ em. Trong một thí nghiệm khác có sự tham gia của 44 em nhỏ, nhóm nghiên cứu của cô đã đến thăm các lớp mẫu giáo và nói với học sinh về một nhân vật mới được đặt tên là Phù thủy Kẹo, một phụ nữ thân thiện xuất hiện vào dịp Halloween và đổi số kẹo các em đã thu thập được với một món đồ chơi. Các nhà nghiên cứu cho các em xem hình ảnh của phù thủy kẹo, sau đó yêu cầu một số phụ huynh cung cấp “bằng chứng” về sự tồn tại của Phù thủy Kẹo bằng cách lén đổi kẹo và đồ chơi tại nhà.

Gần hai phần ba số trẻ tham gia nghiên cứu này đã bị thuyết phục rằng Phù thủy kẹo là có thật. Những đứa trẻ được Phù thủy kẹo “viếng thăm” cảm thấy bị thuyết phục hơn. Và, giống như với ông già Nô-en, trẻ mẫu giáo lớn, trung bình là 5 năm tuổi, có vẻ bị thuyết phục hơn so với trẻ mẫu giáo nhỏ, trung bình 3,5 tuổi. Kết quả này đã được công bố trên tạp chí Khoa học Phát triển (Developmental Science) vào năm 2004.

Không thể xảy ra hay Có thể không xảy ra

Hiện nay, Tiến sĩ Woolley và các học trò của cô đang kiểm tra một khái niệm liên quan đến thực tế: khi nào thì một sự kiện là Không thể xảy ra và khi nào thì một sự kiện được kết luận là Có thể không xảy ra. Trong thí nghiệm trẻ em được cho xem nhiều hình ảnh khác nhau và một đoạn mô tả ngắn gọn. Sau đó, họ yêu cầu các em cho biết hình ảnh đó là thật hay không thật bằng cách đặt nó lên chiếc kệ sách có sẵn “những điều có thể xảy ra” hoặc một kệ khác  có sẵn “những điều không có thật”.

Một buổi sáng gần đây, bé Mia 5 tuổi, mặc một chiếc váy màu xanh có hoa, đến phòng thí nghiệm cùng với bố và chú ngựa nhỏ bằng nhựa màu tím. Một trong những tình huống được đưa ra cho cô bé là “Thú cưng của Sarah là một con công.” Khi được hỏi liệu điều này là thật hay không, Mia ngay lập tức trả lời, “không có thật.” “Tại sao vậy?” “Bởi vì không ai nuôi một con công” bé nói. Một tình huống khác: “Julia nhảy lên không trung và không bao giờ trở xuống nữa” – cũng được cho là không có thật bởi vì “không ai muốn sống trong những đám mây nơi họ không thể nhìn thấy bầu trời,” Mia nói.

Theo tiến sĩ Woolley, phản ứng của cô bé rất tiêu biểu cho những đứa trẻ cùng độ tuổi. Kết quả ban đầu cho thấy trẻ 5 tuổi chưa có khả năng phân biệt những gì là không thể xảy ra với những điều có thể không xảy ra nhưng về mặt bản chất thì có thể xảy ra. Trong các nghiên cứu sau này, tiến sĩ Woolley và các cộng sự dự định sẽ tìm hiểu xem liệu việc một nhà nghiên cứu thừa nhận một tình huống là lạ thường có làm thay đổi nhận định của trẻ về tính thật của tình huống đó hay không.

Các bậc cha mẹ nên làm gì?

Theo tiến sĩ Woolley, khuyến khích trí tưởng tượng ở trẻ là điều quan trọng nhưng không bắt buộc. Giả dụ, đứa trẻ đã có một người bạn tưởng tượng, cha mẹ nên làm theo chỉ dẫn của con và khích lệ con nếu họ cảm thấy thoải mái khi làm điều đó, cô nói. Cũng tương tự như vậy, với ông già Nô-en, nếu một đứa trẻ dường như bị kích thích bởi ý nghĩ này, cha mẹ có thể khuyến khích. Nhưng nếu cha mẹ chọn không giới thiệu hay khuyến khích niềm tin vào các nhân vật hư cấu, họ nên tìm cách khác để khuyến khích trí tưởng tượng của con, chẳng hạn như chơi trò hoá trang hay đọc tiểu thuyết.

Nếu một đứa trẻ hỏi liệu Tiên Răng hoặc Ông già Nô-en có thật không, cha mẹ nên đánh giá mức độ nghi ngờ của con mình. Nếu sự nghi ngờ có vẻ mạnh thì đứa trẻ có thể đã sẵn sàng và khi đó đã đến lúc nói ra sự thật. Lý tưởng nhất là các con sẽ tự mình tìm ra sự thật như một nhà khoa học nhí, vì vậy, cha mẹ có thể hỏi, “Con có nhìn thấy hoặc nghe nói đến điều gì khiến con tin rằng ông già Nô-en là không có thật không?” và “Con nghĩ thế nào?”

“Bạn muốn tìm một sự cân bằng cho phép [trẻ em] đón nhận các khả năng nhưng cũng như các câu hỏi,” Tiến sĩ Woolley nói.

Các trò chơi thần tiên có một mối tương quan nhất định với các đặc điểm tích cực khác. Ví dụ như ở trẻ mầm non, những trẻ có người bạn tưởng tượng thường sáng tạo hơn, có hiểu biết xã hội tốt hơn và giỏi hơn trong việc hiểu quan điểm của người khác, theo Marjorie Taylor, một giáo sư tâm lý học tại Đại học Oregon và là tác giả của cuốn sách “Những người bạn tưởng tượng và Những em bé tạo ra chúng.”

Những người bạn tưởng tượng cũng có thể được sử dụng để giúp trẻ em đối mặt với căng thẳng, Tiến sĩ Taylor nói.  “Khả năng giả vờ là một thế mạnh của trẻ em. Các em có thể khắc phục nhiều vấn đề bằng cách sử dụng trí tưởng tượng của mình.”

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây