Tư Duy Phản Biện, Ngụy Biện

84

1. Tư duy phản biện là gì?

Tư duy phản biện là dùng lý trí để phân biệt đâu là sự thật, đâu là những điều sai.  Tư duy phản biện liên quan đến logic và những ngụy biện logic_những lỗi sai được thao túng và đánh lừa chúng ta.

Đặc điểm của tư duy phản biện

  • Tách lọc sự thật ra từ những ý kiến
  • Thể hiện sự công bằng và tôn trọng tất cả sự thật
  • Không chấp nhận bất cứ điều gì mà không được xác minh và kiểm tra
  • Đặt câu hỏi liên tục cho bản thân và cho người khác: Đây là cách để khám phá ra sự thật và các động cơ đằng sau những lập luận.
  • Quá trình tự điều chỉnh liên tục để đảm bảo không bị sa vào các lập luận ngụy biện hợp lý hoặc hợp lý hoá.

Đặc điểm ở các nhà có tư duy phản biện tốt

tư duy phản biện
Luôn cởi mở đón nhận các ý kiến từ mọi người xung quanh
  • Người có đầu óc cởi mở, sẵn sàng và mong muốn khám phá tất cả các ý tưởng và quan điểm, bao gồm cả những quan điểm xa lạ hoặc đối lập hoàn toàn với quan điểm của họ
  • Không bị đe dọa và e sợ trước những quan điểm đối lập
  • Họ đặt câu hỏi về tất cả mọi thứ và áp dụng các công cụ (Logic, Research, Experience) để tìm ra sự thật.

Tư duy phản biện giúp chúng ta tìm ra sự thật ẩn đằng sau những lập luận ngụy biện và làm những thứ trước đây bị che giấu trở nên rõ ràng.

2. Sự thật là gì?

Có hai loại sự thật: Sự thật khách quan và sự thật chủ quan.

2.1 Sự thật khách quan

Là sự thật bất kể ai cũng có thể nhìn thấy, thường dựa trên các định nghĩa của các từ ngữ đã được sử dụng. Nhiều sự thật khách quan có thể đo lường được, nhưng cũng có thể không đo lường được.

Ví dụ:

  • Chó có 4 chân (Ai cũng có thể nhìn thấy con chó).
  • Khái niệm của sự tự do thì đúng với tất cả mọi người khi dựa trên sự giải thích định nghĩa của từ.

2.2 Sự thật chủ quan

Sự thật chủ quan thì khác nhau giữa các cá nhân, chủ yếu dựa trên quan điểm, niềm tin và kinh nghiệm sống của mình.

Ví dụ: Tuyên bố về một sự thật chủ quan: Tôi yêu các chú chó.

Không ai tranh cãi về các sự thật này, bởi vì nó chỉ ảnh hưởng đến cá nhân người đó thôi.

tư duy phản biện
Một nửa sự thật thì không gọi là sự thật

3. Các ý kiến là gì?

Ý kiến là những kết luận mà cá nhân hình thành được từ những câu hỏi, sự thật vẫn chưa rõ ràng hoặc không thể phân biệt được. Ý kiến có thể được tạo thành từ sự thật chủ quan hoặc sự thật khách quan.

Những ý kiến về các vấn đề trong tương lai có thể được dự đoán dựa trên tình hình hiện tại hoặc những kinh nghiệm từ quá khứ cho những vấn đề tương tự nhau. Nhưng tương lai vẫn chưa diễn ra, vì thế có rất nhiều sự tranh luận từ những ý kiến dự đoán này.

Theo nguyên tắc chung, thì không nên bác bỏ các ý kiến của người khác quá nhẹ nhàng, đặc biệt là những ý kiến bất đồng quan điểm với bạn. Nhưng thực ra có rất nhiều ý kiến thiếu cơ sở, vì thế không thể quyết liệt để tranh luận được.

Ví dụ như: Khi nói đến màu xanh mặt trời, có người bảo nó thẫm, có người bảo nó có màu xanh ngọc, hoặc có người bảo nó có màu xanh lam tím,… khi ấy, có rất ít sở để có thể tranh luận ở đây.

Tất cả những ý kiến đều cần được xem xét, bởi vì nó có thể bị nhầm lẫn dẫn đến sai sót. Tất cả các ý kiến thì đều không có giá trị bằng nhau.

Tư duy phản biện giúp bạn loại bỏ những ý kiến thiếu hợp lệ.

4. Logic là gì?

Có hai loại logic: Logic hình thức và logic nhận thức.

tư duy phản biện
Sâu chuỗi các vấn đề lại một cách logic để tìm ra sự thật

4.1 Logic chính thức

Quá trình nhận thức là từ trực quan sinh động sang tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn. Thì logic hình thức là quy luật để suy luận trong tư duy trừu tượng của toàn bộ quá trình nhận thức.

Logic hình thức cho ta các quy luật để hình thành các khái niệm, phán đoán và các phương pháp suy luận để lập luận dựa trên các phán đoán đó. Một đặc điểm cơ bản của logic hình thức là xem mỗi phán đoán là một chân lý xác định (đúng hoặc sai). Sau đó, lập luận để từ giá trị chân lý xác định của phán đoán trước đây.

Suy ra chân lý xác định của phán đoán đang xem xét.

Các quy luật cơ bản của logic hình thức:

  • Quy luật đồng nhất (A là A): Ví dụ A đúng và A-B là đúng thì B là đúng (tam đoạn luận)
  • Quy luật bài trung (A hoặc không A)
  • Quy luật phi mâu thuẫn (không thể đúng cả A và không A)

Quy luật bài trung và phi mâu thuẫn khẳng định rằng logic hình thức là logic hai giá trị, và trong logic đó mỗi phán đoán chỉ có thể nhận một trong hai giá trị đó (đúng hoặc sai)

Ví dụ: Quy luật nếu không phải mọi vật đều có thuộc tính A thì ắt có một vật có thuộc tính không A” cho ta khẳng định một phán đoán tồn tại (đặc thù) từ việc phủ định một phán đoán phổ biến.

Nhưng trong thực tiễn cuộc sống, có những vấn đề không phân định được đúng hoặc sai, hoặc là không thể đúng hoặc sai hoàn toàn, hoặc có nhiều mức độ đúng sai khác nhau. Thì có thể áp dụng thêm nhiều biện pháp suy luận khác như logic nhiều giá trị, logic modal, logic mờ (fuzzy), logic xác suất,…

Để chứng minh là “không” đôi khi còn khó hơn chứng minh là “có”, do đó tạo nên những nghịch lý trong logic.

Ví dụ: Giả sử: Nếu “ma” có tồn tại là đúng, thì phải mô tả được “ma” là cái gì?, nhưng khi đã mô tả được nó là cái gì thì phải chứng minh được sự tồn tại của nó (vật chất?).

Logic hình thức hầu như chỉ đề cập đến các hình thức (form) của các luận cứ. Luận cứ thì bao gồm tiền đề và kết luận. Nội dung với nó dường như không quan trọng, đối với một lập luận hợp lệ, nếu tiền đề đúng thì kết luận cũng sẽ đúng.

Ví dụ như: Ngày nay con người hay đưa tri thức vào máy tính. Nếu trong bộ nhớ của máy tình đã lưu tên 1000 con chó, thì khi nhập câu lệnh là: “Con mèo có tồn tại không?” chắc chắn nó sẽ trả lời là “không”.

Khi lập luận ngụy biện, thì có thể dẫn đến kết luận đúng hoặc sai mặc dù cho tiền đề là đúng. Đó là lý do khi nguỵ biện thì họ sẽ không chứng minh hay bác bỏ ý kiến nào.

4.2 Logic phi hình thức

Logic phi hình thức liên quan đến việc kiểm tra các ý tưởng riêng từ thành kiến bên trong, nhận ra môi trường chúng ta đang sống định hình suy nghĩ của chúng ta. Nó liên quan đến những lý luận dựa trên nội dung của các luận cứ chứ không chỉ quan tâm đến hình thức.

Định nghĩa: Logic phi hình thức (LPH) là một chuyên ngành xây dựng một  lô gích để đánh giá, lý  giải, phân tích và xây dựng  những lập luận trong  diễn ngôn đời thường cũng như diễn ngôn khoa học, từ nói năng trao đổi hàng ngày, cãi vã, tranh luận,  quảng cáo, những bình luận báo chí, cho đến những diễn từ chính trị, những báo cáo khoa học… LPH bao gồm cả những suy luận theo logic truyền thống  lẫn những suy luận phi hình thức. (theo GS. TS. Nguyễn Đức Dân)

5. Lập luận là gì?

Về cơ bản, một lập luận gồm một hoặc nhiều tiền đề (phát biểu) và kết luận có thể được rút ra. Cả tiền đề và kết luận đều có thể đúng hoặc sai. Có hai loại lập luận: Suy diễn và quy nạp.

5.1 Lập luận suy diễn

Một lập luận suy diễn cung cấp tất cả sự hỗ trợ cần thiết để đi đến kết luận của nó. Một lập luận suy diễn tốt được gọi là “hợp lệ”. Nếu tất cả các tiền đề là đúng, kết luận cũng sẽ đúng. Một ví dụ là tuyên bố, “Tất cả các con mèo đều có bốn chân. Purr là con mèo. Do đó, Purr có bốn chân. “

5.2 Lập luận quy nạp

Lập luận quy nạp cung cấp một số hỗ trợ, nhưng không đầy đủ. Một lập luận quy nạp tốt được biết đến là một lập luận chặt chẽ hoặc hợp lý. Nếu tất cả các tiền đề là đúng, kết luận cũng có thể đúng. “Hầu hết mèo Xiêm đều có mắt xanh. Purr là loài mèo Xiêm. Purr có lẽ có đôi mắt xanh. “

6. Lỗi và nguỵ biện

Ngụy biện logic là một lỗi trong suy luận. Một ngụy biện suy diễn có thể đưa ra kết luận rằng là đúng hoặc sai, ngay cả khi tất cả các tiền đề đều đúng.

Ví dụ: “Tất cả các con mèo đều là động vật có vú. Con chó của tôi không phải là một con mèo. Do đó, con chó của tôi không phải là động vật có vú.”

Ngụy biện quy nạp chỉ đơn giản là một lập luận mà tiền đề không đủ mạnh để ủng hộ kết luận. Ngay cả khi chúng đúng, bạn không thể đưa ra kết luận đó từ đây.

Ví dụ: “Purr là con mèo Xiêm duy nhất mà tôi biết. Purr rất yên tĩnh và thân thiện. Mèo Xiêm có lẽ rất yên tĩnh và thân thiện. “(Đây là lỗi ngụy biện của sự Tổng quát hóa vội vàng. Căn cứ vào kết luận về một mẫu quá nhỏ.)

Bạn cũng có thể mắc các lỗi đơn giản hoá thực tế. Đây không phải là những khó khăn về lập luận, nhưng là những sai lầm đơn giản (hoặc dối trá) về sự thật.

Ví dụ “Trái đất là hành tinh thứ tư của hệ Mặt trời” trên thực tế, đó là hành tinh thứ ba. Cách duy nhất để bảo vệ chống lại những điều đó là làm nghiên cứu.

7. Bám chặt vào mục đích của tư duy phản biện

tư duy phản biện
Bám chặt theo mục đích ban đầu, tránh bị cuốn theo các lập luận nguỵ biện

Trước khi tiến hành phản biện thì bạn phải xác định rõ ràng mục tiêu của mình. Tìm hiểu xem nó có xung đột với người mà bạn đang phản biện cùng không.

Mặc dù mục đích cuối cùng của tư duy phản biện là tìm ra sự thật, tìm ra lý tưởng. Nhưng chúng ta thường đánh mất lý tưởng bởi vì chúng ta bị lấn át bởi những thứ khác. Đây chính là lúc mà sự tự điều chỉnh được phát huy tác dụng.

Chúng ta nên chắc chắn rằng chúng ta không tạo nên các lập luận để ủng hộ dựa dựa trên sự gắn bó về mặt tình cảm. Hoặc bởi vì chúng ta không chịu đựng được (có thành kiến) với người chúng ta đang tranh cãi, hoặc bất cứ lý do bên ngoài nào tác động tiêu cực đến. Điều quan trọng là không được đánh mất mục tiêu ban đầu của mình.

8. Thoát khỏi vùng thoải mái của mình nếu bạn muốn tư duy phản biện (Comfort Zone)

Đây là những suy nghĩ bạn vẫn thường nghĩ, cách bạn đã quen với việc cư xử, những giả định đã quen thuộc với bạn. Đây là vùng thoải mái của tâm trí của bạn.

tư duy phản biện
Vượt ra vùng an toàn của bản thân để hướng tới thành công

Giống như bạn cần phải rời khỏi chiếc ghế dài nếu bạn định vận động. Bạn cần xem xét những rào cản mà bạn đặt ra trong cách tư duy logic, phản biện. Bạn cần phải buông bỏ “tâm điểm” của bạn (cái tôi, dân tộc và xã hội) và nhận ra rằng cách thức của bạn không phải tốt nhất chỉ vì nó là của bạn.

Bạn cần bắt đầu kiểm tra mọi thứ bạn làm, suy nghĩ, tìm ra lý do tại sao bạn làm và nghĩ về nó. Ngay cả tôn giáo của bạn cũng cần được kiểm tra. Tại sao bạn tin những điều đó? Chỉ khi đó, bạn mới có thể tin điều đó bằng lý trí, chứ không chỉ bằng cảm xúc. Bạn cần phải giữ sự tỉnh táo cho bộ não của bạn mọi lúc. Sự thật luôn có thể đứng vững trong tất cả các cuộc kiểm tra mà chúng ta muốn đối mặt với nó.

Bạn cần phải mạo hiểm để trở nên khác biệt, dù trông có thể ngu ngốc hoặc không trung thành. Bạn cần phải sẵn sàng để thay đổi suy nghĩ của bạn, nếu đó là sự thật. Bạn cần can đảm để thừa nhận rằng bạn có thể đã sai, nếu bạn muốn tìm ra cái đúng. Bạn cần ngừng hợp lý hóa (bắt đầu với một kết luận và tìm bằng chứng cho nó) và bắt đầu lập luận (bắt đầu với bằng chứng và đi đến kết luận từ nó.)

Tuy rằng nó rất khó, nhưng việc cứ lặp đi lặp lại những sai lầm thì nó còn làm bạn trở nên khó khăn hơn.

9. Các bước để tư duy phản biện

Trước tiên, bạn nên xác định tuyên bố được đưa ra bởi người nói. Sau đó bạn có thể tiến hành tư duy phản biện theo 4 bước sau:

Bước 1: Đó là tuyên bố mô tả hay quy tắc ?

  • Tuyên bố mô tả nói về điều đó là gì.

Ví dụ: Có rất nhiều người đồng tính sống ở Mỹ.

  • Tuyên bố theo quy định nói về cách nó phải như thế nào.

Ví dụ: Người đồng tính nên được phép kết hôn với nhau

Bước 2: Tuyên bố này là khách quan hay chủ quan ? Là tuyên bố dành cho tất cả mọi người, mọi nơi? Hay chỉ dành cho người nói hoặc các thành viên trong nhóm cụ thể?

Ví dụ:

  • Một quả táo là một loại trái cây (khách quan).
  • Tôi yêu táo (chủ quan).

Bước 3: Tuyên bố là tuyệt đối hay tương đối ? Chúng có bao giờ thay đổi trong suốt thời gian và không gian? Hay nó chỉ dùng ám chỉ thời gian hiện tại.

Ví dụ:

  • Mưa được hình thành từ quá trình bốc hơi nước (tuyệt đối).
  • Mưa đang rơi ngoài hiên nhà (tương đối).

Bước 4: Nó đúng hay sai ?

9.1 Quy tắc để suy luận đúng-sai:

Những suy luận này là những luận cứ hợp lệ. Dựa trên quy luật nếu tiền đề là đúng, các kết luận cũng sẽ phải đúng.

  • Chế độ Ponens (khẳng định): Nếu P thì Q. P, do đó, Q.

Ví dụ: Nếu có khói, cái gì đó đang được đốt cháy. Có khói, do đó, một cái gì đó đang cháy.

  • Chế độ Tollens (từ chối): Nếu P thì Q. Không P, do đó, không Q.

Ví dụ: Nếu bạn làm đổ nước, sàn sẽ bị ướt. Nền nhà không ẩm ướt, do đó, bạn đã không làm đổ nước.

  • Transitivity: Nếu P thì Q . Nếu Q sau đó R. P, do đó, R .

Ví dụ: Nếu bạn làm đổ nước, thì sàn sẽ bị ướt. Nếu sàn bị ướt thì cần phải lau lại. Bạn đã làm đổ nước, vì vậy sàn nhà cần được lau lại.

  • Giá trị rời rạc phép tam đoạn luận: P hoặc Q. Không P, do đó, Q. (hoặc P hoặc Q. Không phải Q, do đó P. )

Ví dụ. Đó là thứ Hai hoặc thứ Ba. Không phải là thứ Hai, do đó, nó là thứ Ba. (hoặc) Đó là Thứ Hai hoặc Thứ ba. Không phải thứ ba. Do đó, nó là thứ Hai.

→ Nó là phụ thuộc “hoặc” là độc quyền. Nói cách khác, nó phải là cái này hay cái kia, nhưng không thể cả hai. Nếu “hoặc” bao hàm, nghĩa là cái này, cái kia hoặc cả hai, thì điều này sẽ trở thành ngụy biện logic.

9.2 Làm thế nào để các định được tiền đề là đúng hay sai?

Những suy luận hợp lệ sẽ đi đến kết quả đúng nếu tiền đề là đúng. Vậy làm thế nào để biết được tiền đề là đúng hay sai?

Tiền đề đúng rất khó và cần nhiều thời gian để chứng minh. Nó không chỉ dựa vào kinh nghiệm, mà còn phải dựa vào các nghiên cứu.

Điều này liên quan đến quá trình tìm kiếm thông tin. Trong quá trình tìm kiếm thông tin, bạn phải xác nhận được ai là người đã phát ngôn hoặc viết ra các thông tin đó. Bạn cần lấy thông tin từ rất nhiều nguồn dữ liệu nhiều nhất có thể, sau đó so sánh và kiểm tra chúng với nhau. Tìm ra các nguồn dữ liệu đáng tin cậy ( ví dụ như các bài nghiên cứu đã được phê duyệt từ các tổ chức chính phủ, các bài báo, trang web có đuôi “.gov”, sách được phê duyệt từ NXB GD,…)

Bạn cũng có thể đưa lập luận tiêu chuẩn dựa trên kinh nghiệm cá nhân của riêng bạn. Nhưng lưu ý, khi bạn làm như vậy, dựa trên các mô hình của riêng bạn và đảm bảo rằng chúng không ảnh hưởng đến logic của bạn.

Ví dụ: Nếu ai đó nói, “Tất cả thanh thiếu niên thử nghiệm với ma túy, “Tôi có thể bác bỏ điều đó từ kinh nghiệm của chính mình”. Tuyên bố chỉ mang tính mô tả, chưa khách quan tuyệt đối. Vì vậy tất cả những gì nó cần là một ví dụ tiêu cực để bác bỏ nó. “Tôi chưa bao giờ thử nghiệm với ma túy khi còn là một thiếu niên, vì vậy đó là một tuyên bố sai”. Nhưng, để tìm tính hợp lệ của tuyên bố rằng “hầu hết” hoặc “nhiều” thanh thiếu niên thử nghiệm với ma túy sẽ khó khăn hơn tuyên bố “tất cả” nhiều.

Bạn phải bắt đầu kiểm tra mọi thứ mà bạn nhận được trong quá trình tìm kiếm thông tin. Xem tất cả tin tức, tất cả các ý kiến, tất cả các tuyên bố của nhà lãnh đạo mà bạn lựa chọn, tất cả các quảng cáo bạn thấy. Sau đó, quyết định giá trị của những gì họ đang nói dựa trên tư duy phản biện và sử dụng điều đó làm cơ sở cho các hành động hoặc ý kiến ​​của bạn.

Để làm được điều đó, bạn phải hiểu không chỉ logic mà còn phải hiểu các ngụy biện logic. Bạn phải phát hiện ra những lá cờ đỏ, đó là dấu hiệu cho của sự nguỵ biện logic, nghĩa là bạn phải biết được rằng một người sẽ nguỵ biện logic bằng cách nào. 10. Khái niệm về “Logic mờ”

Trong logic Boolean cổ điển, mọi lập luận hoặc là hoàn toàn đúng hoặc là hoàn toàn sai. Không có lập luận nào có thể nằm ở giữa, đúng một phần hoặc sai một phần. Cách tiếp cận này không hoạt động trong thế giới thực.

Logic mờ đưa các lý thuyết cũ đang được cập nhật, bằng cách cho phép câu trả lời ở các mức độ đúng hoặc sai. Nó có thể được minh hoạ trên biểu đồ giữa true (1) và false (0.) Các câu hỏi khác nhau đưa ra đồ thị khác nhau.

Ví dụ: Câu hỏi, “Nam có cao không?” sẽ không trả về giá trị true hoặc false, nhưng sẽ ở giá trị thập phân ở đâu đó giữa, chẳng hạn .57, là chỉ cao hơn một chút so với người đàn ông bình thường.

Điều này thậm chí còn trở nên phức tạp hơn nếu chiều cao được kết hợp với giới tính và tuổi tác, để tạo ra một kết quả cho thấy Nam, chỉ mới 14 tuổi, thực sự cao hơn hầu hết các cậu bé cùng tuổi.

11. Một số nguỵ biện logic

  • Mẫu lệch: N% mẫu S có đặc tính C (trong đó S không đại diện cho quần thể nói chung P) Do đó, N% dân số P có tính trạng C.

Ví dụ: 72% trẻ sáu tuổi được hỏi nói rằng giờ đi ngủ của chúng là trước 9h tối, vì vậy 72% người Mỹ đi ngủ trước 9 giờ.

  • Đối vòng tròn: 

Ví dụ: Ăn thức ăn nhanh không tốt cho sức khỏe, vì vậy bạn không nên ăn thức ăn nhanh  vì nó không tốt cho sức khỏe.

Không có bằng chứng xác thực nào về việc ăn cây xương rồng có hại được trình bày ở đây. Nếu bạn đồng ý với tuyên bố này trước khi bạn nghe nó, bạn vẫn sẽ đồng ý. Nếu bạn không đồng ý, bạn sẽ không chấp nhận câu nói này. Phản bác lại bằng cách giải thích rằng kết luận có được sử dụng như một tiền đề, và do đó, lập luận là vòng tròn.

  • Tổng kết hoá vội vàng: Một trường hợp ngoại lệ được sử dụng trong trường hợp bảo đảm sự tổng quát hóa.

Ví dụ: Nếu để anh ta mang theo con chó của mình vào đây, tất cả chúng ta nên được phép mang theo vật nuôi của mình trong.

Chỉ ra ngoại lệ một lần nữa và giải thích lý do tại sao nó không nên thay thế một điều ngoại lệ thành khái quát.

  • Sai lầm từ sự tương tự

Ví dụ: Ngựa và mèo đều là động vật với bốn chân. Chúng tôi cưỡi ngựa. Do đó, chúng ta nên cưỡi mèo.

Sức mạnh của một lập luận dựa trên phép loại suy phụ thuộc vào sức mạnh của phép loại suy. Để biết được điều đó, bạn cần biết một số điều về cả hai đối tượng. Để chứng minh điều này là sai lầm, tất cả những gì bạn cần làm là chứng minh rằng cả hai khác nhau ở một số điểm quan trọng trong phép loại suy.

  • Tổng quát hóa vội vàng 

Ví dụ: Những con mèo của tôi có đôi mắt xanh, vì vậy tất cả mèo có mắt xanh.

Điều này có thể phù hợp với tất cả mèo Xiêm thuần chủng, chúng khá nhóm đồng nhất. Nhưng chắc chắn không phải cho tất cả các con mèo nói chung. Sự đa dạng càng lớn trong nhóm, kích thước mẫu cần thiết càng lớn để có được bất kỳ thông tin hợp lệ nào về nhóm nói chung. Để chứng minh đó là một sự ngụy biện, chỉ cần chứng tỏ rằng nhóm không đồng nhất, và có một biến thể đủ lớn để hiển thị kích thước mẫu quá nhỏ.

  • Một mặt (Sai lầm loại trừ)

Ví dụ: Không nên xây bất kỳ ngôi nhà mới nào, bởi vì đã có rất nhiều ngôi nhà, nó có hại cho môi trường để xây dựng thêm.

Điều này hoàn toàn bỏ qua thực tế là dân số tiếp tục tăng, đặc biệt là ở một số khu vực. Những người mới đó phải sống một vài nơi. Để chứng minh điều này là sai lầm, hãy trình bày bằng chứng đối lập và chỉ ra cách sẽ thay đổi kết luận.

Tư Duy Phản Biện, Ngụy Biện

Tư duy phản biện

hình 1

Khái quát

Tư duy phản biện (Critical thinking) là khả năng suy nghĩ rõ ràng và có lập luận đúng đắn về niềm tin bạn tin vào hay những gì bạn đang làm. Nó bao gồm khả năng vận dụng suy nghĩ độc lập (independent thinking) và suy nghĩ phản chiếu (reflective thinking). Người có tư duy phản biện thường có thể:

Hiểu sự gắn kết logic giữa các quan điểm.

Nhận dạng, phát triển và đánh giá các lập luận.

Tìm ra những sự không nhất quán và lỗi sai phổ biến trong cách lập luận.

Giải quyết các vấn đề một cách hệ thống.

Nhận dạng sự liên quan và tầm quan trọng của các ý tưởng.

Xem xét cách lập luận và sự đúng đắn trong quan điểm, niềm tin của người khác.

Tư duy phản biện không phải chỉ là tích lũy thông tin. Người có trí nhớ tốt và biết nhiều thứ về cơ bản không hẳn là sẽ có tư duy phản biện tốt. Người có tư duy phản biện có thể suy luận ra những hệ quả từ những gì họ biết và biết cách sử dụng thông tin để giải quyết vấn đề, đồng thời tìm kiếm những nguồn thông tin liên quan để tăng hiểu biết của mình về vấn đề đó.

Không nên nhầm lẫn tư duy phản biện với việc thích tranh cãi hay chỉ trích người khác. Mặc dù các kỹ năng tư duy phản biện có thể được sử dụng để vạch trần những thiếu sót và cách lập luận sai lầm, nhưng tư duy phản biện cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp để đưa ra các cách lập luận đúng đắn và có tính xây dựng. Tư duy phản biện giúp chúng ta thu nạp kiến thức, tăng mức độ thấu hiểu lý thuyết đã biết, củng cố các lập luận, nâng cao hiệu quả xử lý công việc và giải quyết vấn đề.

Một vài người tin rằng tư duy phản biện cản trở khả năng sáng tạo bởi vì trong khi tư duy phản biện đòi hỏi phải tuân thủ những quy tắc logic và lập luận nhất định thì khả năng sáng tạo có lẽ cần đến nhiều hơn việc “phá luật” (breaking the rules). Đây là quan điểm sai lầm. Tư duy phản biện khá hòa hợp với cách suy nghĩ “ngoài chiếc hộp” (thinking out_of_the_box), thử thách các nhận thức chung và theo đuổi những hướng đi ít người biết. Tư duy phản biện là một phần cơ bản của sáng tạo bởi vì chúng ta cần tư duy phản biện để đánh giá và cải thiện các ý tưởng sáng tạo.

hình 2: Tư duy phản biện

Tư duy phản biện hay tư duy phân tích là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề. Lập luận phản biện phải rõ ràng, logic, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm.

Tầm quan trọng của tư duy phản biện

Tư duy phản biện là kỹ năng tư duy cần thiết cho mọi lĩnh vực. Khả năng suy nghĩ rõ ràng và có lý trí rất quan trọng bất kể chúng ta đang làm gì. Nếu bạn làm việc trong lĩnh vực giáo dục, tài chính, quản trị hay pháp lý, thì tư duy phản biện hiển nhiên cực kỳ quan trọng. Nhưng kỹ năng này không chỉ giới trong một lĩnh vực cụ thể nào cả. Khả năng tư duy tốt và giải quyết vấn đề một cách có hệ thống là “tài sản” quý giá trong mọi lĩnh vực, nghề nghiệp.

Tư duy phản biện rất quan trọng trong nền kinh tế tri thức khi nó được thúc đẩy bởi thông tin và công nghệ. Nền kinh tế mới đặt ra những nhu cầu ngày càng tăng vào các kỹ năng vận dụng trí óc linh hoạt và khả năng phân tích thông tin, tích hợp các nguồn kiến thức đa dạng vào giải quyết vấn đề. Tư duy phản biện tốt thúc đẩy những kỹ năng tư duy này và rất quan trọng trong môi trường làm việc không ngừng thay đổi.

Tư duy phản biện cải thiện các kỹ năng thuyết trình và ngôn ngữ. Suy nghĩ rõ ràng và có hệ thống có thể cải thiện cách mà chúng ta diễn đạt các ý tưởng. Đối với phân tích cấu trúc logic của văn bản, tư duy phản biện cũng tăng khả năng hiểu rõ những gì đã được viết.

Tư duy phản biện thúc đẩy sáng tạo. Tìm ra giải pháp sáng tạo cho một vấn đề không chỉ cần đến các ý tưởng mới. Bản thân các ý tưởng mới này cũng bắt buộc phải hữu ích và liên quan đến vấn đề đang cần được giải quyết. Tư duy phản biện đóng vai trò cốt lõi trong việc đánh giá các ý tưởng mới, lựa chọn những ý tưởng tốt nhất và điều chỉnh chúng nếu cần thiết.

Tư duy phản biện rất quan trọng đối với quá trình phản chiếu bản thân (self reflection). Để kiểm soát cuộc sống và làm nó trở nên có ý nghĩa, chúng ta cần nhận dạng rõ giá trị bản thân và tỉnh táo khi ra quyết định. Tư duy phản biện chính là thứ sẽ giúp bạn thực hiện những điều này một cách hợp lý.

Tư duy phản biện tốt là nền tảng của khoa học và dân chủ. Khoa học đòi hỏi việc sử dụng lập luận trong thử nghiệm và xác nhận các lý thuyết. Việc vận hành hiệu quả hơn của nền dân chủ tự do cũng đòi hỏi các công dân có cách suy nghĩ lý trí về các vấn đề xã hội để lan tỏa những giá trị đúng đắn và vượt qua những khuynh hướng và định kiến sai lầm.

Đặc điểm của tư duy phản biện là gì?

  • Người có tư duy phản biện thường có khả năng:
  • Hiểu sự gắn kết logic giữa các quan điểm.
  • Nhận dạng, phát triển và đánh giá các lập luận.
  • Tìm ra những sự không nhất quán và lỗi sai phổ biến trong cách lập luận.
  • Giải quyết vấn đề một cách có hệ thống.
  • Nhận dạng sự liên quan và tầm quan trọng của các ý tưởng.
  • Xem xét cách lập luận và sự đúng đắn trong quan điểm, niềm tin của người khác.
  • Ngoài ra tư duy phản biện không chỉ là tích lũy thông tin. Người có trí nhớ tốt và biết nhiều kiến thức chưa chắc là người có tư duy phản biện tốt. Người có tư duy phản biện tốt có khả năng suy luận ra những hệ quả từ những gì họ biết và sử dụng thông tin để giải quyết vấn đề, đồng thời tìm kiếm những nguồn thông tin liên quan để tăng hiểu biết của mình về vấn đề đó.
  • Không nhầm lẫn tư duy phản biện với việc thích tranh cãi hay chỉ trích người khác. Mặc dù các kỹ năng tư duy phản biện có thể được sử dụng để vạch trần những thiếu sót và sai lầm trong lập luận, nhưng kỹ năng này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra những lập luận đúng đắn và mang tính xây dựng. Tư duy phản biện giúp chúng ta thu nạp kiến thức, tăng mức độ thấu hiểu lý thuyết đã biết, củng cố cách lập luận, nâng cao hiệu quả xử lý công việc và giải quyết vấn đề.

Rèn luyện kỹ năng tư duy phản biện

Tích cực trau dồi kiến thức cho bản thân

Người có tư duy phản biện thường có khả năng ăn nói tốt, có thể tranh luận với người khác một cách dễ dàng.

hình 3: đọc sách để rèn tư duy phản biện

Tuy nhiên, để lập luận tốt chúng ta cần không ngừng trau dồi kiến thức tổng quát, nắm vững thông tin đa dạng về tất cả các lĩnh vực có liên quan đến ngành nghề mình đang làm việc và cả những ngành nghề không thuộc công việc của mình. Tập thói quen quan sát và học hỏi nhiều kiến thức để khi tranh luận thì mình luôn là người nắm rõ các thông tin chính xác để làm người khác thuyết phục.

Có một tầm nhìn khách quan

Muốn có tư duy phản biện tốt, các bạn cần có cái nhìn khách quan về một vấn đề nào đó, không nghĩ hay giải quyết vấn đề theo cảm tính hay đặt cái tôi quá nhiều để nhìn nhận một vấn đề. Hãy bỏ cái nhìn chủ quan và thay thế bằng suy nghĩ khách quan, có như vậy thì bạn mới có thể lập luận vấn đề một cách chính xác.

Tập thói quen đặt câu hỏi

Khi giải quyết một vấn đề thì cần có thêm những câu hỏi tự đặt ra để nó trở nên hoàn thiện hơn. Nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc độ để phòng tránh mọi trường hợp không hay có thể xảy ra ngoài suy nghĩ của mình. Đây cũng là cách để giải quyết mọi vấn đề một cách chỉn chu, tránh sai sót.

Sử dụng sơ đồ hóa ý kiến

Khi nhận diện một vấn đề nào đó, đầu tiên là chúng ta nắm rõ thông tin chính xác về vấn đề gì? Về ai? Về điều gì? Liên quan đến lĩnh vực gì? Sau đó, dựa trên những cơ sở khoa học và logic, hãy lên những câu hỏi để làm rõ vấn đề. Tại sao A mà không phải B, A đúng hay B đúng, nếu là A thì kết quả thế nào, B thì kết quả thế nào, cái nào mới là cái đúng và chính xác. Từ đó rút ra kết luận và nguyên nhân cho vấn đề trên.

Ưu điểm:

  • So với các cách thức ghi chép truyền thống thì phương pháp giản đồ ý có những điểm vượt trội như sau:
  • Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng.
  • Quan hệ hỗ tương giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận. Ý càng quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính.
  • Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác.
  • Ôn tập và ghi nhớ sẽ hiệu quả và nhanh hơn.
  • Thêm thông tin (ý) dễ dàng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào giản đồ.
  • Mỗi giản đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ.
  • Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bất chấp thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh chóng và linh hoạt cho việc ghi nhớ

Tóm lại: Tư duy phản biện thật sự rất quan trọng cho tất cả mọi lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn và mọi chuyên ngành khoa học. Quá trình tư duy phản biện liên quan đến việc thu thập và diễn giải thông tin một cách thận trọng và dùng nó để đạt đến một kết luận có thể biện minh được rõ ràng.

Đây là một kỹ năng quan trọng vì nó tạo điều kiện cho người ta phân tích, đánh giá, xây dựng lại những suy nghĩ của mình, làm giảm rủi ro vận dụng, hành động, suy nghĩ với một niềm tin sai lầm. Đối với sinh viên, để học được nội dung kiến thức, thì sự gắn kết trí tuệ là điều vô cùng cốt yếu. Mọi sinh viên đều phải tự mình tư duy bằng cái đầu của chính mình, tự mình kiến tạo nên tri thức cho bản thân thì mới thành công được.

Để rèn luyện tư duy phản biện, cần:

* Xem xét lại những nhận định của bản thân.

Chúng ta nhận định về hầu hết tất cả mọi thứ. Đó là cách thức não bộ xử lý từng thông tin cụ thể và giúp ta sinh sống mỗi ngày. Nhận định có thể được coi là nền móng của nền tảng phản biện. Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra nếu nhận định của bạn sai, hoặc ít nhất không hoàn toàn đúng sự thật? Bạn sẽ cần xây dựng lại nền móng này từ đầu.

Xem xét lại nhận định là như thế nào? Einstein đã từng thắc mắc về một nhận định: liệu các định luật của Newton về chuyển động có thể mô tả chuẩn xác thế giới này hay không? Einstein đã phát triển nền tảng phản biện hoàn toàn mới mẻ để nhìn nhận thế giới, bằng cách mô tả lại suy nghĩ của bản thân về điều đã xảy ra, bắt đầu từ con số không.

Chúng ta có thể xem xét lại những nhận định theo cách tương tự. Vì sao chúng ta cảm thấy cần phải ăn sáng ngay cả khi không đói? Vì sao chúng ta thừa nhận rằng mình sẽ thất bại ngay cả khi chưa thử bắt tay vào làm?

Liệu chúng ta còn mặc nhiên tin vào những nhận định nào mà chúng có thể bị phá vỡ sau khi được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn?

 * Đừng bao giờ chấp nhận thông tin từ truyền thông cho tới khi bạn trực tiếp kiểm tra thông tin đó. 

Tương tự như các nhận định, việc tiếp thu thông tin từ chính quyền cũng có thể hữu dụng. Thay vì kiểm tra lại thông tin của người khác, chúng ta thường chia thông tin thành loại có nguồn gốc đáng tin cậy và không đáng tin cậy. Phương pháp này giúp chúng ta không mất thời gian và công sức kiểm tra lại toàn bộ những thông tin mình tiếp cận. Tuy nhiên, chính điều đó cũng ngăn cản ta tìm hiểu đến tận cùng những thông tin mà ta cho là có nguồn gốc đáng tin cậy, ngay cả khi thông tin đó chưa hẳn đã chuẩn xác. Những thông tin được đăng tải trên tạp chí hoặc vô tuyến không đồng nghĩa với việc chúng phản ánh sự thật.

Tạo dựng thói quen sử dụng bản năng để tìm hiểu các thông tin đáng ngờ. Hãy yêu cầu làm rõ vấn đề khi lời giải thích của ai đó chưa khiến bạn hài lòng. Nếu không đặt câu hỏi, bạn có thể đọc thêm hoặc tự mình kiểm tra tính chính xác của thông tin. Sớm thôi, bạn sẽ trở nên nhanh nhạy khi tự đánh giá thông tin nào cần nghiên cứu kỹ lưỡng hơn và thông tin nào là chính xác.

* Xem xét mọi thứ

Bạn đã đọc về việc cân nhắc các nhận định cũng như kiểm tra thông tin từ cơ quan chính quyền, giờ là lúc bạn biết mình nên xem xét tất cả mọi thứ. Đặt câu hỏi có lẽ là tinh hoa của tư duy phản biện. Nếu không biết phải hỏi gì hoặc không đưa ra câu hỏi từ đầu, bạn sẽ không thể có câu trả lời. Tìm kiếm câu trả lời một cách thông minh chính là tư duy phản biện.

  • Cơ chế của sét hòn là gì?
  • Cá rơi từ trên trời xuống nước Úc như thế nào?
  • Chúng ta có thể làm điều gì có ý nghĩa để chống lại tình trạng đói nghèo trên toàn cầu?
  • Chúng ta có thể chấm dứt hoạt động sản xuất vũ khí hạt nhân như thế nào?

* Các bước thực hiện

Nhận dạng những ý kiến liên quan với vấn đề đưa ra.

  • Phân tích:
  • Mỗi ý kiến đưa ra một vài luận điểm ủng hộ và luận cứ phản biện
  • Với mỗi luận điểm đưa ra nhiều luận cứ khác nhau
  • Nhìn sự việc, vấn đề dưới nhiều góc cạnh khác nhau, tìm ưu điểm và khuyết điểm

Những ý kiến giống như những nhận định, xuất phát từ những tiên đề (tiên đề A → lập luận B → lập luận C → nhận định D). Việc phân tích là việc bắt nguồn từ D để đi tìm A, B và C.

Đánh giá:

  • Khảo sát mâu thuẫn giữa những ý kiến
  • Đong sức nặng (sức thuyết phục) của những ý kiến
  • Đưa ra quan điểm của bản thân (ý kiến nào là đúng)
  • Trình bày kết quả của quá trình tư duy logic
  • Phát triển sức nặng của ý kiến (chỉ ra những đặc điểm nổi trội của ý kiến đó và tìm những dẫn chứng thực tế giúp củng cố ý kiến đó)
  • Nêu ra các điểm không chuẩn xác trong lập luận của người/nhóm người mang ý kiến đối lập

   Các phương thức hỗ trợ

  • Kỹ năng sơ đồ hóa ý kiến

Sơ đồ tư duy (mindmap) là một dụng cụ hữu hiệu trong việc tổ chức và đánh giá thông tin bởi nó giúp định vị luận điểm/luận cứ một cách rõ ràng.

Khi thu nhận được một thông tin, điều cần trước tiên là hiểu rõ nội dung thông tin đó, về ai, về điều gì, liên quan đến những vấn đề gì, lĩnh vực nào. Tiếp theo, dựa trên những cơ sở khoa học và logic, đặt ra các câu hỏi như: Tại sao lại khẳng định là A mà không phải là B, trong khi B cũng có các khả năng như A. Nếu là B thì khi đó sẽ có kết quả là B1, kết quả này có giống kết quả A1 của khả năng A không. Nếu có giống thì sẽ rút ra kết luận như thế nào, và nếu không giống thì lý do là ở đâu…

  • Kỹ năng tránh tính thiên vị

Tính thiên vị là một đặc tính có trong tiềm thức của con người mà không phải ai cũng dễ dàng nhận ra.

Thay vì hỏi: “Điều này mâu thuẫn với điều mà tôi tin tưởng như thế nào?” hãy hỏi rằng: “Điều này có nghĩa là gì?”

Trong những bước đầu tiên của việc thu thập và đánh giá thông tin, đừng đưa ngay ra một kết luận (đặc biệt khi đang đọc tiểu thuyết hoặc xem phim) bởi việc làm này sẽ đưa ra định hướng mang tính cảm nhận (perceptive orientation) thay vì định hướng mang tính phán xét (judgmental orientation), ngăn chặn việc phát triển cảm nhận thành sự phán xét.

Ai cũng nên nhận thức rõ về khả năng mắc phải sai lầm của bản thân bằng cách

Chấp nhận rằng tất cả mọi người đều có thành kiến nằm trong tiềm thức, và vì thế rất dễ tấn công những phán xét chống lại mình.

Từ tốn lắng nghe ý kiến của người khác trước khi đưa ra quan điểm của mình. Nói cách khác là làm đúng quy trình tư duy phản biện

Nhận thức rằng trong lập luận của mình chắc chắn có sơ hở và sai lầm

Cuối cùng, sử dụng những câu hỏi sau có thể giúp tăng thời gian trao đổi thông tin và lượng thông tin.

Khi dùng từ _____, ý bạn là _____?

Tại sao bạn lại đưa ra được kết luận đó?

Tại sao bạn cho rằng mình đúng?

Bạn lấy thông tin này ở đâu?

Giả định gì khiến bạn đưa ra kết luận đó?

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn sai?

Tại sao điều này lại quan trọng thế?

Điều gì nữa có thể giải thích cho hiện tượng này?

Phân tích của bạn có bị ảnh hưởng bởi dư luận, quy trình giáo dục, môi trường sống, cảm tính, định kiến xã hội, tuyên truyền, thành kiến, tính địa phương,… ?.

Tư duy ngụy biện

Khái niệm

Trong thực tế cuộc sống thường ngày cũng như trong khoa học và kỹ thuật ta thường gặp những suy luận nhìn bề ngoài thì có vẻ đúng, có vẻ hợp lý, nhưng nếu xem xét kỹ thì thấy chúng vi phạm các quy tắc logic. Người ta gọi những sai lầm không cố ý trong suy luận là sự ngộ biện, còn những sai lầm cố ý thì được gọi là sự ngụy biện.

Nếu chỉ xét về mặt logic thì ngụy biện cũng là sai lầm logic.

Ngụy biện là sự cố ý vi phạm các quy tắc logic trong suy luận nhằm mục đích đánh lạc hướng người nghe, người đọc, làm cho người khác nhầm tưởng cái sai là đúng và cái đúng là sai. 

Một số loại ngụy biện thường gặp

Ngụy biện có rất nhiều kiểu khác nhau. Sự phân loại ngụy biện đầu tiên được Aristote tiến hành. Ông chỉ ra 13 loại ngụy biện, hay nói chung là sai lầm logic, khác nhau. Các nhà logic học về sau này xác định thêm hàng chục loại ngụy biện khác nữa. Nếu căn cứ vào cấu trúc của một phép chứng minh thì ta có thể chia ngụy biện ra thành ba loại: ngụy biện liên quan đến luận cứ, ngụy biện liên quan đến luận đề, và ngụy biện liên quan đến lập luận. Nhưng cụ thể hơn, người ta có thể phân chia ngụy biện thành các loại căn cứ vào các thủ pháp mà nhà ngụy biện sử dụng. Sau đây ta sẽ xét một số kiểu ngụy biện theo cách phân chia này.

1.  Ngụy biện dựa vào uy tín cá nhân 

Trong kiểu ngụy biện này, đáng lẽ phải đưa ra dẫn chứng, đưa ra chứng cứ cho lập luận của mình, thì nhà ngụy biện lại dựa vào uy tín của người khác để thay thế. Làm như vậy là ngụy biện, bởi vì uy tín của một người không đảm bảo chắc chắn rằng tất cả những điều mà người đó nói đều đúng. Không phải uy tín làm cho câu nói của người ta đúng, mà ngược lại, chính cái đúng của những câu nói của một người tạo nên uy tín cho người đó.

Ví dụ 1. Khi giáo viên nói rằng hai đường thẳng song song không bao giờ cắt nhau, có học sinh nghi ngờ điều đó và đòi hỏi phải được giải thích. Sau khi cố gắng giải thích mà không đạt và học sinh đó vẫn chưa chịu công nhận, giáo viên bèn nói: “Euclide đã khẳng định như vậy, em không tin Euclide hay sao?”  

Ở đây giáo viên đã sử dụng uy tín của Euclide để thay thế cho chứng cứ.

Ví dụ 2. Giảng viên nói rằng, trong điều kiện chủ nghĩa tư bản độc quyền chủ nghĩa xã hội có thể thắng ở một nước, – là khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản -, chứ không đòi hỏi phải thắng ở một loạt các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất như trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh. Nghe vậy, một số thính giả đòi hỏi giải thích. Thay vì đưa ra các chứng cứ và lập luận chứng minh cho luận điểm mà mình đã nêu, giảng viên nói rằng luận điểm đó chắc chắn đúng, vì Lênin đã nói như vậy. 

Ở đây, giảng viên trên đã dựa vào uy tín của Lênin thay thế cho việc chứng minh. Lẽ ra ông ta phải chứng minh luận điểm đó như Lênin đã làm.

2.  Ngụy biện dựa vào đám đông, dựa vào dư luận

 Ngụy biện dựa vào  đám  đông thường xảy ra  ở những cuộc tranh luận trước một đám đông người. Nhà ngụy biện sử dụng khả năng hùng biện của mình, lợi dụng truyền thống, tình cảm, quyền lợi, thói quen, … của đám đông để tranh thủ cảm tình và sự ủng hộ của đám đông đó, tạo áp lực buộc những người tranh luận với ông ta phải chấp nhận quan điểm của ông ta. Trong kiểu ngụy biện dựa vào dư luận, thay cho việc  đưa ra luận cứ và chứng minh luận điểm, người nói lại cho rằng luận điểm là đúng vì có nhiều người công nhận như vậy. Đây là lập luận ngụy biện, vì nhiều người cho là đúng chưa đảm bảo tính  đúng đắn của luận  điểm; ngược lại, nhiều người cho là sai cũng không có nghĩa là luận điểm chắc chắn sai.

Ví dụ 3. Không phải vì rất nhiều người coi rằng ông X phạm tội giết người nên đúng là ông ta giết người.

Ví dụ 4. Hồi đầu thế kỷ XX, khi nhà bác học Einstein đưa ra thuyết tương đối, nhiều nhà vật lý học cho rằng nó sai. Và ta  đã thấy rằng không phải vì vậy mà thuyết tương  đối sai, ngược lại, tính đúng đắn của nó đã được lịch sử vật lý học kiểm chứng. 

3.  Ngụy biện dựa vào sức mạnh 

Trong kiểu ngụy biện này, nhà ngụy biện sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để ép người khác tin vào và chấp nhận luận điểm của mình. Ở đây, sức mạnh chứ không phải là tính chân lý của luận điểm bắt người nghe phải tin theo.

Ví dụ 5. Một giám  đốc ra lệnh cho kế toán phải chi một khoản tiền sai nguyên tắc. Người kế toán phản đối, nói rằng làm như vậy là trái nguyên tắc tài chính. Khi đó, vị giám đốc nói:“Cứ làm như tôi nói, chắc chắn sẽ đúng. Nếu anh không làm, tôi sẽ cho anh biết…”.

Ở đây, cụm từ “tôi sẽ cho anh biết…” hàm ý đe dọa.

4.  Ngụy biện bằng cách đánh vào tình cảm 

Trong kiểu ngụy biện này, thay vì đưa ra các luận cứ và lập luận để chứng tỏ luận điểm của mình đúng, nhà ngụy biện tìm cách tác động vào tâm lý, tình cảm của người nghe để gợi lên lòng thông cảm hoặc thương hại để được thừa nhận là đúng.

Ví dụ 6. Một người bị cáo buộc phạm tội ăn cắp. Ra trước tòa, anh ta kêu oan. Thay vì đưa ra các chứng cứ để chứng minh rằng mình vô tội, anh ta lại đi kể lể về tình cảnh gia đình khó khăn, nghèo đói, nhân thân tốt,… để hy vọng hội đồng xét xử thông cảm mà kết luận anh ta vô tội.

5.  Ngụy biện đánh tráo luận đề

Đây là kiểu ngụy biện rất phổ biến. Trong kiểu ngụy biện này, trước hết nhà ngụy biện thay thế luận đề ban đầu bằng một luận đề mới trong quá trình tranh luận. Luận  đề mới này không tương  đương với luận  đề ban  đầu. Sau  đó ông ta chứng minh luận đề mới một cách rất chặt chẽ và cuối cùng tuyên bố là mình đã chứng minh được luận đề ban đầu. Vì hai luận đề là không tương đương với nhau nên tính chất ngụy biện lộ rõ. Để thực hiện kiểu ngụy biện này, nhà ngụy biện hay sử dụng những hiện tượng ngôn ngữ đồng âm khác nghĩa, một từ có nhiều nghĩa, …; hoặc đem đồng nhất cái bộ phận với cái toàn thể, đồng nhất cái toàn thể với cái bộ phận; hoặc diễn tả mơ hồ để muốn hiểu theo cách nào cũng được,…

Ví dụ 7: Người ta đi chứng minh rằng cái bánh không thể biến mất được như sau: Cái bánh là vật chất, mà vật chất thì không biến mất, vậy cái bánh không biến mất. 

Trong suy luận này người ta thay luận đề ban đầu bằng luận đề “vật chất không biến mất”, rồi dựa vào triết học  để chứng minh luận  đề thứ hai này. Tuy nhiên đây là suy luận ngụy biện, vì hai luận đề này không tương đương với nhau, bởi lẽ từ “vật chất” được hiểu với hai nghĩa khác nhau.   

6.  Ngụy biện ngẫu nhiên

Trong loại ngụy biện này một sự kiện ngẫu nhiên xảy ra được nhà ngụy biện coi là có tính chất quy luật.  

Ví dụ 8. Một người lập luận rằng khi làm những việc quan trọng trong đời như cưới xin, làm nhà, lập công ty kinh doanh, v.v. ta phải chọn ngày lành, nếu không thì sẽ không thành công, hoặc không hạnh phúc. Cặp chàng trai và cô gái nọ – anh ta nêu ví dụ – yêu nhau thắm thiết, được gia đình và bạn bè ủng hộ. Họ tổ chức cưới vào một ngày lẻ theo âm lịch, một ngày không tốt. Và chỉ một năm sau họ đã chia tay nhau.

Sự trùng lặp giữa việc cưới vào ngày lẻ và sự tan vỡ hạnh phúc của gia đình trẻ nói đến trong ví dụ này chỉ là một điều ngẫu nhiên, nhưng lại được nhà ngụy biện coi là có tính phổ biến, tất yếu, có tính quy luật. 

7.  Ngụy biện đen – trắng

Ngụy biện đen – trắng xảy ra khi trong lập luận chỉ nhìn thấy và nêu lên các khả năng đối lập nhau, các thái cực, từ đây cho rằng không phải là cực này thì là cực kia, loại bỏ tất cả các khả năng khác.

Ví dụ 9. Có người khẳng định rằng khi răng nanh của trẻ em mọc chênh ra bên ngoài (răng khểnh) thì nên nhổ bỏ, vì nếu để nguyên như vậy thì “cái duyên” do nó mang lại không bù  được sự khó khăn khi làm vệ sinh răng miệng, và vì thế mà dễ bị sâu răng. 

Trong lập luận này người nói chỉ nêu lên hai thái cực: hoặc để nguyên răng mọc lệch như vậy, hoặc nhổ bỏ răng đó. Trong khi đó thì trên thực tế còn có khả năng thứ ba, đó là tiến hành chỉnh nha cho trẻ nhỏ, để răng mọc đúng.

8.  Ngụy biện bằng cách dựa vào nhân quả sai

Ngụy biện bằng cách sử dụng lập luận trong đó quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng được hiểu sai có nhiều phân loại.

(a)  Đánh đồng nguyên nhân với nguyên cớ

Trong loại ngụy biện này nhà ngụy biện cố tình lấy nguyên cớ thay cho nguyên nhân  để biện minh cho hành  động của mình, hay  để thuyết phục người khác. Nguyên nhân thật sự của việc các chính quyền Mỹ và Anh tiến hành chiến tranh với Iraq là các nguồn lợi dầu mỏ to lớn ở quốc gia này, nhưng họ lại nói rằng nguyên nhân là chính quyền Saddam Husein phát triển và cất giữ nhiều lọai vũ khí  hủy diệt hàng loạt. Thật ra đó chỉ là cái cớ mà thôi.

(b)  Sau cái đó vậy là do cái đó

Trong mối liên hệ nhân quả thì nguyên nhân bao giờ cũng xảy ra trước kết quả, tuy nhiên như vậy không có nghĩa là một hiện tượng, sự kiện xảy ra trước bao giờ cũng là nguyên nhân của một hiện tượng, sự kiện xảy ra sau. Ngụy biện sau cái đó vậy là do cái đó là kiểu ngụy biện trong đó khi thấy hai sự kiện, hiện tượng A và B xảy ra lần lượt theo thời gian cho rằng A là nguyên nhân của B. 

Ví dụ 10. Một người hy vọng làm giàu bằng cách mua vé xổ số. Anh ta đã mua khá nhiều vé xổ số, nhưng chưa trúng giải nào cả. Anh ta bèn lên chùa cúng vái, cầu xin Đức Phật cho anh ta trúng xổ số. Vài ngày sau anh ta trúng giải đặc biệt nhờ mua vé xổ số. Anh ta kết luận rằng nhờ cầu xin Đức Phật nên trúng giải đó. 

Ở  đây việc lên chùa cầu xin là sự kiện xảy ra trước, nó không phải là nguyên nhân của sự kiện trúng xổ số xảy ra sau đó. 

9.  Dựa vào sự kém cỏi 

Đây là kiểu ngụy biện trong  đó người ngụy biện căn cứ vào việc ai  đó không chứng minh được một mệnh đề (hoặc lý thuyết, giả thuyết,…), hoặc không tìm thấy được một đối tượng nào đó để khẳng định rằng mệnh đề trên sai, hoặc đối tượng đó không tồn tại.  

Ví dụ 11. Có thể khẳng định rằng không thể có sinh vật có trí tuệ nào khác trong vũ trụ ngoài con người, vì nếu có thì khoa học đã phát hiện ra các sinh vật đó rồi. 

Đây là khẳng định sai lầm, vì ngay cả khoa học ở thời đại chúng ta cũng còn có rất nhiều hạn chế, nên có thể các sinh vật có trí tuệ khác tồn tại trong vũ trụ, nhưng vì sự hạn chế, sự kém cỏi của mình mà khoa học hiện nay không phát hiện được.

10.  Lập luận vòng quanh 

Loại ngụy biện này xảy ra khi người ta vi phạm quy tắc đối với luận cứ trong chứng minh. Cụ thể là ở đây các luận cứ không được chứng minh độc lập với luận đề. 

11.  Khái quát hóa vội vã

Đây là kiểu ngụy biện xảy ra khi người ta sử dụng suy luận quy nạp trong lập luận, trong đó người ta đi đến kết luận tổng quát sau khi khảo sát rất ít trường hợp riêng.

Ví dụ 12. Sau bảy phiên giao dịch đầu tiên của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, thấy rằng giá cổ phiếu của các công ty  đã niêm yết liên tục tăng tới mức trần, người ta  đi  đến khẳng định rằng giá cổ phiếu của tất cả các công ty có niêm yết ở Trung tâm này sẽ luôn luôn tăng đến mức trần.  

Suy luận này đưa ra kết luận không đáng tin cậy, vì, như đã biết, kết luận trong suy luận quy nạp chỉ đúng với một xác suất nào đó mà thôi, không đảm bảo chắc chắn đúng ngay cả khi các tiền đề đều đúng; và xác suất đúng của kết luận trong loại suy luận này rất thấp nếu số lượng các trường hợp riêng được khảo sát nhỏ. Trong ví dụ của chúng ta số lượng các trường hợp riêng được khảo sát là bảy, quá nhỏ. 

12.  Câu hỏi phức hợp

Loại ngụy biện này xảy ra khi người ta đưa ra một câu hỏi bên trong đó chứa hai câu hỏi, và một câu trả lời duy nhất được coi là câu trả lời cho cả hai câu hỏi.

Ví dụ 13. Hỏi : “Anh có hay chơi thể thao và đọc tiểu thuyết kiếm hiệp không ?”. Câu trả lời “có” được coi là câu trả lời cho cả hai câu hỏi “Anh có hay chơi thể thao không ?” và “Anh có hay đọc tiểu thuyết kiếm hiệp không ?”. Câu trả lời “không” cũng được diễn giải tương tự.

Ví dụ 14. Hỏi :“Có phải anh không thích anh ta và hay nói xấu anh ta không?”

Nhà ngụy biện có thể kết hợp các câu hỏi vào trong một câu hỏi một cách rất tinh vi, và nhiều khi người trả lời không biết là mình đã trả lời cho nhiều câu hỏi cùng một lúc. Điều này sẽ bị nhà ngụy biện lợi dụng vào mục đích của mình.

13.  Ngụy biện bằng cách sử dụng những phương pháp suy luận có tính xác suất

Trong những suy luận kiểu này nhà ngụy biện sử dụng các phương pháp suy luận cho kết quả đúng với một xác suất nhất định (ví dụ như suy luận tương tự, suy luận quy nạp), nhưng lại coi các kết luận  đó như là những  điều khẳng  định chắc chắn. 

Ví dụ 15. Người ta chứng minh rằng mọi số tự nhiên đều nhỏ hơn một trăm như sau: 

1 nhỏ hơn 100;     

2 nhỏ hơn 100;

3  nhỏ hơn 100;

. . . . . . . . . . . . . .

98  nhỏ hơn 100;

99  nhỏ hơn 100;

1, 2, 3, … , 98, 99  đều là các số tự nhiên;

Vậy mọi số tự nhiên đều nhỏ hơn  100.  

14. Ngụy biện bằng cách diễn đạt mập mờ

Trong trường hợp này nhà ngụy biện cố tình hành văn một cách mập mờ để sau đó giải thích theo ý mình.

Ví dụ 16. Gánh xiếc Bacnum đề nghị Xamlôi – chuyên gia về toán đố vui của Mỹ ở cuối thế kỷ XIX đưa ra cho một bài toán đố. Ai giải được sẽ được thưởng. Bài toán như sau:

“Một con chó và một con mèo chạy thi 100 fút lượt đi và lượt về. Con chó chạy mỗi bước 3 fút, con mèo chạy mỗi bước 2 fút, nhưng nó nhảy được 3 bước thì đối thủ của nó mới nhảy được 2 bước. Con nào về trước?”

Vì quãng đường cả đi lẫn về là 200 fút, nên mèo phải nhảy đúng 100 bước. Chó nhảy mỗi bước 3 fút, vậy nó phải nhảy 34 bước ở lượt  đi (nếu nhảy 33 bước thì mới  được 33 * 3 = 99 fút) và 34 bước ở lượt về. Như vậy, chó phải nhảy tổng cộng 68 bước. Mèo nhảy 3 bước thì chó mới nhảy được 2 bước, vậy mèo nhảy được 100 bước thì chó mới nhảy được

100 * (2/3) = 66,667 (bước) < 68 (bước)

Như vậy mèo về đích trước.

Nhưng Bacnum lại trả lời rằng chó thắng cuộc, vì, ông ta giải thích rằng câu “nó nhảy được 3 bước thì đối thủ của nó mới nhảy được 2 bước” có nghĩa là chó nhảy được 3 bước thì mèo mới nhảy được hai bước, từ “nó” ở đây hiểu là chó!

(Theo Phan Thanh Quang “Giai thoại toán học”, tập một, NXB Giáo dục, 1995, tr. 7)

Phương pháp bác bỏ ngụy biện

Phương pháp chung bác bỏ ngụy biện là làm ngược lại những thủ pháp mà nhà ngụy biện đã sử dụng. Ví dụ, nhà ngụy biện hành văn mập mờ thì ta đòi hỏi phải hành văn rõ ràng; nhà ngụy biện đánh tráo luận đề, đánh tráo khái niệm thì ta đòi hỏi xác định lại, định nghĩa lại khái niệm khi tranh luận; nhà ngụy biện dùng luận cứ không chân thực thì ta chỉ rõ ra điều đó,… 

Một phương pháp là nghiên cứu thật nhiều các dạng ngụy biện và các ví dụ ngụy biện, để khi gặp ngụy biện có thể nhận ra chúng và bác bỏ.

Nói chung, nắm được các quy tắc logic thì ta dễ dàng vạch ra được sự ngụy biện trong suy luận.

Người Việt rất hay ngụy biện và tư duy ngụy biện?

Những ai đã có kiến thức về ngụy biện đều hiểu một điều đáng buồn rằng: Người Việt rất hay ngụy biện và tư duy ngụy biện! Chúng ta đều biết hai chữ “ngụy biện”, nhưng liệu chúng ta có thật sự hiểu về nó? Bạn có tin rằng tại Việt Nam, ngụy biện đã cướp đi mạng sống của con người?

Ngụy biện hay Fallacy là khái niệm để chỉ những cách lập luận tưởng chừng là đúng, nhưng thực chất lại là sai lầm và phi logic trong tranh luận. Ngụy biện có thể biến một vấn đề từ sai thành đúng, và từ đúng trở thành sai. Ngụy biện có thể dẫn đến những cái nhìn sai lệch và tư duy sai lầm mà chính bản thân người nói cũng không nhận ra được.

Trên thế giới, ngụy biện đã trở thành một kiến thức được biết đến rộng rãi, và các nhà nghiên cứu đã thống kê khoảng trên dưới 100 loại ngụy biện khác nhau. Đáng tiếc là tài liệu về ngụy biện tiếng Việt chỉ có một vài nguồn, đó là trang GS Nguyễn Văn Tuấn, trang Thư viện khoa học, hay trang “Ngụy biện – Fallacy” của TS. Phan Hữu Trọng Hiền.

Dưới đây xin được tổng hợp lại 9 câu “ngụy biện” điển hình của người Việt đã được nêu ra tại các nguồn tài liệu trên:

  1. “Nhìn lại mình đi rồi hẵng nói người khác”

Mình làm sai thì là sai rồi, sao lại không nhận sai, không nói thẳng vào vấn đề “mình sai” mà lại quay qua tìm điểm yếu của người khác? Việc này cũng giống như là khi nhận được góp ý: “Viết sai chính tả rồi kìa”, thì thay vì sửa sai, bạn lại bốp chát: “Thế mày chưa viết sai bao giờ à?”

  1. “Có làm được gì cho đất nước đâu mà to mồm”

Người ta có làm được gì hay không thì là điều mình chưa biết, hơn nữa bạn đã “lạc đề” rồi. Vấn đề người ta nêu ra thì bạn không trả lời, không đưa ra luận điểm logic, mà lại đi đường vòng, chuyển qua công kích người khác.

  1. “Nó ăn trộm chó thì cứ đánh cho nó chết”

Lập luận này đã khiến cho những kẻ trộm chó vốn không đáng phải chết bị giết chết bởi chính những người dân tưởng chừng “lương thiện”. “Ăn trộm chó” là sai, nhưng “giết người” cũng là sai, hay sai thì không phải là một đúng, mà là sai lại càng sai.

  1. “Làm được như người ta đi rồi hãy nói”

Lại một hình thức “lạc đề”. Luận điểm mà người ta đưa ra thì bạn không xoay quanh mà bàn luận, lại cứ phải công kích cá nhân người khác thì mới vừa lòng sao?

  1. “Nếu không hài lòng thì cút xéo ra nước ngoài mà sinh sống”

Lời nói này không chỉ đánh lạc hướng vấn đề, mà còn rất bất lịch sự, chuyên dùng để làm người đối diện tức giận, chứ chẳng có một chút logic nào trong đó cả.

  1. “Nghèo là lương thiện / Giàu là bất chính”

Người ta có câu “vơ đũa cả nắm”, ấy chính là để chỉ việc lập luận cảm tính, khái quát cảm tính, mà không hề đưa ra logic hợp lý nào cả.

  1. “Nước nào mà chẳng có tham nhũng”

Vì nước nào cũng có tham nhũng nên Việt Nam được phép có tham nhũng hay sao? Vì mọi người đều vượt đèn đỏ nên tất nhiên tôi cũng phải vượt đèn đỏ? Vì xã hội thiếu gì nghiện hút nên trong nhà có người hút chích cũng là bình thường?

  1. “Nếu anh là họ mà anh làm được thì hẵng nói”

Đặt mình vào vị trí người khác là một tiêu chuẩn người xưa dùng để tu sửa bản thân, hướng vào bản thân tìm lỗi, là một nét văn hóa rất độc đáo của phương Đông. Tuy nhiên câu nói đó chỉ sử dụng khi một người tự răn mình, chứ không phải là một câu nói dùng trong tranh luận. Việc sử dụng nó trong tranh luận không chỉ là sự bịt miệng những phê bình của người khác, không giải thích các luận điểm của người khác, mà còn chứng tỏ rằng chúng ta đang phá hoại và lãng quên văn hóa truyền thống của chính mình.

  1. “Tại sao anh dám nói chúng tôi sai? Anh là một tên phản động / dư luận viên”

Kiểu lập luận chụp mũ này mặc nhiên coi mình là đúng, họ là sai, và những người đồng quan điểm với họ cũng là sai. Nó không hề đưa ra một thứ logic nào, nhưng lại cắt ngang một cái giới tuyến, và tùy tiện định tội cho người khác.

Tất nhiên đây mới chỉ là những câu ngụy biện cơ bản nhất, thường thấy nhất. “Văn hóa ngụy biện” đã ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn, muôn hình vạn trạng, và luôn ẩn giấu trong tư duy của người Việt. Vậy nguyên nhân của thói quen này là từ đâu?

Trong phần nhiều các lỗi ngụy biện thường gặp của người Việt, có một tâm lý cơ bản hiện rõ ra khi tham gia thảo luận, đó chính là tâm tranh đấu, hiếu thắng, và không hề tôn trọng người đối diện. Ngoài đó ra, chúng ta cũng hay bị ảnh hưởng của tâm lý đám đông, lợi dụng tâm lý đám đông để che đi trách nhiệm của bản thân mình.

Muốn tránh cách tư duy ngụy biện, chúng ta không những phải sửa lối tư duy vòng vo, thiếu suy nghĩ, mà còn phải sửa chính từ tâm thái của mình khi trao đổi và luận bàn về mọi việc. Điều cơ bản nhất khi tham gia tranh luận là có trách nhiệm trong lời nói của chính mình và biết tôn trọng người đối diện.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây