Tư Duy Nhanh, Chậm

125

Nhanh nhưng phải logic, chuẩn: câu chuyện vui về nhanh mỗi tội không chính xác.

__________________________________________________________________

Tư duy nhanh – chậm là nghiên cứu của tiến sĩ Daniel Kahneman (cùng cộng sự). Daniel Kahneman là người viết nên cuốn sách cùng tên và đạt giải Nobel Kinh tế 2002. Tư duy nhanh và chậm bàn sâu về những giới hạn của đầu óc con người khi sử dụng phương pháp tư duy nhanh, giúp mỗi người tập trung chú ý đến các lỗi sai có thể xảy ra trong dòng chảy tư duy của chính mình.

Bằng linh cảm trực giác nhiều người trong tích tắc có thể tránh được một tai nạn xảy ra, hay thoát được một cái bẫy lừa đảo tinh vi. Một chuyên gia phòng cháy chữa cháy trong tích tắc cũng đã cứu được cả đội cứu hộ thoát chết trước khi toàn bộ sàn nhà họ đang đứng nứt sụp xuống và lửa bùng lên dữ dội. Hay một cao thủ cờ vua chỉ cần liếc qua một bàn cờ ven đường là có thể tuyên bố quân đen hay quân trắng sẽ thắng. Phải chăng mọi trực giác được sinh ra bởi đầu óc của con người đều siêu việt và đáng tin?

Trong một thời gian dài, các học giả đã gieo vào đầu chúng ta một quan điểm: trí óc con người rất siêu việt và  nhờ đó chúng ta – những con người đầy lý trí – quyết định mọi việc có tính toán một cách cẩn thận. Tuy nhiên, bằng hàng nghìn thí nghiệm được  tiến hành cùng người cộng sự trong hơn chục năm trời, Daniel Kahneman,  đã chỉ ra rằng quan điểm ấy hoàn toàn sai lầm.

  1. Chúng ta đang sống, với hai hệ thống tư duy nhanh và chậm

Thực tế, theo Kahneman, có một vở kịch hấp dẫn diễn ra trong tâm trí chúng ta, một câu chuyện giống trên phim giữa hai nhân vật với nhiều chi tiết lắt léo, kịch tích và mâu thuẫn. Hai nhân vật bao gồm: Hệ thống 1 – bản năng, tự động và cảm tính; và Hệ thống 2 – chín chắn, chậm rãi, và toan tính. Khi đối đầu với nhau, sự tương tác của chúng quyết định cách ta nghĩ, đưa ra phán xét, quyết định và hành động.

Hệ thống 1 hoạt động theo cơ chế tự động và mau lẹ, với rất ít hoặc hầu như không cần sự cố gắng và không tự động kiểm soát (ví dụ khi nhìn thấy hình một em bé mếu máo chúng ta có thể gán cho rất nhiều suy đoán về những chuyện sẽ xảy ra tiếp theo) – được gọi là tư duy nhanh.

Một số ví dụ về những hoạt động tự động làm nên Hệ thống 1: 

  • Phát hiện ra một đồ vật nằm xa hơn so với các đồ vật khác. 
  • Định hướng nơi phát ra một âm thanh lạ. 
  • Hoàn thành câu “bánh mì và…” 
  • Nhăn mặt khi xem một bức ảnh gớm ghiếc. 
  • Nhận ra sự thù nghịch trong một giọng nói. 
  • Trả lời câu hỏi 2 + 2 = ? 
  • Đọc chữ trên những tấm biển hiệu lớn. 
  • Lái xe trên một con đường vắng. 

Hệ thống 2 tập trung sự chú ý đối với những hoạt động tư duy đòi hỏi sự nỗ lực, bao gồm những phép tính phức tạp, thường gắn với kinh nghiệm chủ quan và tập trung của chủ thế (hãy xem xét phản ứng của chúng ta khi nhìn thấy phép nhân 17×24, chúng ta có thể biết ngay đáp án 12,609 hay 123 là không hợp lý, nhưng cũng không dám chắc 568 có phải là đáp án đúng hay không. Và chúng ta sẽ cảm thấy tốt hơn là ngồi lại tính toán phép tính này) – được gọi là tư duy chậm. Và hệ thống tư duy được con người sử dụng thường xuyên nhất là hệ thống tư duy nhanh.

Vài hoạt động thuộc cơ chế hoạt động của Hệ thống 2: 

  • Dỏng tai lên đợi tiếng súng ra hiệu bắt đầu một cuộc đua. 
  • Tập trung để lắng nghe tiếng nói của một người nhất định trong một căn phòng đông đúc và ồn ào. 
  • Tìm kiếm một phụ nữ tóc bạc. 
  • Lục trong trí nhớ tên của một ca khúc được truyền tải bởi một giọng hát hay rất cuốn hút. 
  • Duy trì tốc độ đi bộ nhanh hơn tốc độ đi bộ bình thường của bạn. 
  • Điều chỉnh hành vi ứng xử sao cho phù hợp với tình huống xã hội cụ thể. 
  • Đếm số lần xuất hiện của chữ cái a trong một trang dày đặc chữ.
  1. Hiểu lầm tai hại của chúng ta

Khi nghĩ về bản thân, chúng ta thường nhận ra mình gần với Hệ thống 2, là một con người ý thức và duy lý, có đức tin, luôn suy nghĩ chín chắn trong từng hành động khi phải đưa ra những quyết định và lựa chọn. Tuy nhiên, Hệ thống tự động 1 mới là “người hùng” của vở kịch tâm lý này.

Hệ thống tư duy nhanh liên tục diễn dịch chuyện gì đang xảy ra trong thế giới của chúng ta, và quá trình này sẽ sản sinh ra những phán đoán suy nghiệm khá hữu ích, nhưng đôi khi cũng dẫn đến những lỗi sai nghiêm trọng và hệ thống. Với các chuyên gia, tư duy nhanh của họ (gọi là tư duy trực giác của các chuyên gia) nhiều khi rất chính xác vì nó được dựa trên kinh nghiệm nhiều năm trời của họ.

Một cao thủ cờ vua chỉ cần liếc mắt vào một bàn cơ trên đường phố mà ông đi qua là có thể tuyên bố “quân trắng, ba nước, chiếu tướng” hay một bác sĩ chỉ cần liếc mắt nhìn bệnh nhân là có thể chưa ra những chẩn đoán phức tạp của một căn bệnh. Hay như vị chuyên gia phòng cháy ở phía trên giải thích lý do khiến ông yêu cầu cả đội chữa chạy rút ra khỏi tòa nhà ngay lập tức là bởi vì ông cảm thấy một sức nóng bất thường, trong khi ngọn lửa lại cực kỳ im ắng. 

Tuy nhiên, không phải chuyên gia nào có thể tư duy như vậy  cũng vậy chứ chưa nói đến người thường.  Đơn cử một giám đốc đầu tư tài chính lớn ở phố Wall cũng đã mắc sai lầm khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu của hãng ô tô Ford, chỉ vì ông rất ấn tượng sau khi tham dự buổi trình diễn của hãng này. Ông không hề quan tâm đến một câu hỏi mà đáng lẽ một giám đốc tài chính như ông phải đặt ra: liệu cổ phiếu của hãng Ford hiện thời có bị định giá thấp so với giá trị thực tế của nó không. Câu hỏi mà vị giám đốc này phải đối mặt (liệu tôi có nên đầu tư vào cổ phiếu của Ford) quá khó, nhưng câu trả lời cho một câu hỏi dễ hơn và có liên quan (liệu tôi có thích hãng Ford không) xuất hiện ngay trong đầu, dẫn đến lựa chọn trên của ông. Đây cũng chính là điểm cốt yếu của suy nghiệm trực giác: khi đối mặt với câu hỏi khó, thay vì trả lời trực tiếp, chúng ta lại thường trả lời vào câu hỏi dễ hơn và thường chúng ta không nhận ra sự hoán đổi này.

Bỏ qua các chuyên gia, để rõ hơn về cách 2 hệ thống hoạt động, bạn hãy thử giải bài toán cây gậy-và-quả bóng nổi tiếng sau:

 

Một cây gậy và quả bóng có giá $1.10. Cây gậy đắt hơn quả bóng $1. Vậy quả bóng có giá bao nhiêu?

 

Mức giá xuất hiện trong tâm trí bạn, $0.10 là kết quả của hệ thống 1 cảm tính và tự động, và nó đang hoạt động đấy! Hãy dành ra vài giây và thử giải bài toán này xem.

 

Bạn có nhìn thấy lỗi của mình? Đáp án đúng là $0.05.

 

Chuyện vừa xảy ra là Hệ thống 1 bốc đồng của bạn chiếm quyền và tự động trả lời bằng cách dựa vào cảm tính. Nhưng nó trả lời quá nhanh.

 

Thông thường, khi đối mặt với một tình huống chưa rõ ràng, Hệ thống 1 sẽ gọi Hệ thống 2 để giải quyết vấn đề, nhưng trong bài toán cây gậy và quả bóng, Hệ thống 1 đã bị lừa. Nó nhìn vấn đề quá đơn giản, và sai lầm khi tin rằng nó có làm chủ được.

 

Một ví dụ khác về sự ảo giác của thị giác do hệ thống 1 gây ra: Hãy nhìn hình phía dưới, hình ảnh này không có gì đặc biệt: Hai đoạn thẳng có gắn thêm “vây”, chỉ về hai phía khác nhau. Đoạn thẳng bên dưới rõ ràng là dài hơn đoạn thẳng bên trên. Đó là những gì tất cả chúng ta đều nhìn ra rất tự nhiên, chúng ta tin tưởng những gì mình vừa trông thấy. Tuy nhiên, nếu bạn đã từng biết hình ảnh này trước đó, bạn sẽ dễ dàng nhận ra đây chính là minh họa nổi tiếng về ảo giác của Muller-Lyer. Và bằng cách dùng thước đo, bạn có thể dễ dàng đo và biết được độ dài của chúng là bằng nhau.

Giờ thì bạn đã đo đạc hẳn hoi, bạn – tức Hệ thống 2 của bạn, cái con người lý trí mà bạn gọi là “tôi” ấy – giờ đã có một niềm tin mới: Bạn hay Hệ thống 2 biết rằng hai đoạn thẳng trên có chiều dài bằng nhau. Nếu có hỏi bạn về độ dài của chúng, bạn sẽ nói điều mà bạn vừa mới biết. Nhưng nếu chỉ nhìn thì bạn vẫn thấy đoạn thẳng phía dưới dài hơn đoạn thẳng phía trên. Bạn buộc phải tin vào sự đo đạc, nhưng bạn không thể ngăn cản Hệ thống 1 làm nhiệm vụ của nó, bạn không thể bắt mắt mình – Hệ thống 1 nhìn thấy hai đường thẳng đó dài bằng nhau, mặc dù bạn – Hệ thống 2 biết chắc chắn điều đó. Để chống lại ảo giác, chỉ có một cách duy nhất: Bạn phải học cách hoài nghi chính cảm giác của mình về chiều dài của các đoạn thẳng khi chúng được gắn thêm “vây”. Để áp dụng được nguyên tắc đó, bạn có thể nhận ra những ảo giác và nhớ lại những gì bạn đã được biết là chính xác. Nếu bạn có thể làm được điều này, bạn sẽ không bao giờ bị “lừa” bởi những minh họa của Muller-Lyer. Nhưng dù thế nào đi nữa, bạn – Hệ thống 1 sẽ vẫn thấy một đoạn thẳng dài hơn đoạn thẳng còn lại. 

  1. Những sai lệch về phán đoán suy nghiệm

Chúng ta dễ dàng tư duy liên tưởng, ẩn dụ, hay tư duy nguyên nhân – hệ quả (ví dụ như khi cho bạn điền vào kí tự còn thiếu của từ SO_P, nhiều khả năng bạn sẽ điền ngay U), nhưng chúng ta lại khó khăn tư duy dựa trên hiện thực thống kê, bởi sự tư duy này đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ về nhiều vấn đề cùng xảy ra một lúc, đây là điều hệ thống 1 không được thiết kế để đảm nhiệm.

Bài toán cây gậy-và-quả bóng phía trên đã bộc lộ bản năng lao động trí óc lười biếng của chúng ta. Khi não hoạt động, ta thường chỉ sử dụng tối thiểu số năng lượng đủ cho công việc đó. Người ta còn gọi đây là quy luật nỗ lực ít nhất. Bởi vì rà soát lại đáp án với Hệ thống 2 sẽ sử dụng nhiều năng lượng hơn, tâm trí sẽ không làm thế khi nó nghĩ chỉ cần dùng Hệ thống 1 là đủ.

Hãy xem các ví dụ dưới đây để làm rõ:

“Một cuộc phỏng vấn thăm dò qua điện thoại phỏng vấn 300 người cao tuổi cho thấy 60% ủng hộ tổng thống”  Để tóm tắt thông điệp trên bạn chắc chắn sẽ chọn “ Phần lớn người già ủng hộ tổng thống”.

“Bạn cùng phòng đang thuyết phục bạn rằng tiền không mang lại hạnh phúc bằng cách dẫn chứng số liệu của đại học Harvard 10% số người hạnh phúc là người giàu. Bạn chắc hẳn sẽ dễ dàng bị thuyết phục vì không có khả năng kiểm chứng thông tin này. Để kiểm chứng mình sẽ đưa ra giả thuyết:Giả sử có 1000 người tham gia điều tra, có 40% người điều tra là hạnh phúc và 5% số người được điều tra là người giàu. Như vậy là dễ dàng tính đc số người hạnh phúc là 400, số người giàu được điều tra là 50. Theo số liệu Harvard 10% số người hạnh phúc là người giàu, ta có 400×0,1=40. Tiếp đó tính ra tỉ lệ số người hạnh phúc trong nhóm người giàu 40/50=0,8= 80%. Từ đó ta có thể kết luận: Đa số người hạnh phúc không phải là người giàu, nhưng đã giàu thì khả năng cao là hạnh phúc.”

Bạn đã cảm thấy khó khăn với những ví dụ trên chưa. Ví dụ đầu cho thấy sự liên tưởng tới quan hệ nhân quả mà ít chú ý tới độ tin cậy của thống kê dựa trên cỡ mẫu. 300 được người điều tra liệu có đủ cơ sở để kết luận “ Phần lớn người già ủng hộ tổng thống”? 

Sự lười biếng rất tai hại bởi vì tập luyện Hệ thống 2 là một phần quan trọng trong trí tuệ của con người. Nghiên cứu chỉ ra rằng làm những công việc liên quan đến Hệ thống 2 đòi hỏi tập trung và tự kiểm soát, giúp ta thông minh hơn.

Một hiện tượng khác ví dụ cho những sai lệch này, đó là các neo đậu. Hiện tượng này xảy ra khi chúng ta cân nhắc một giá trị cá biệt nào đó cho một đại lượng không xác định trước khi ước tính được con số đó. Các kết quả dự đoán sát với con số mà chúng ta đã cân nhắc, chính từ đó mà có hình ảnh của một chiếc mỏ neo. Nếu bạn được hỏi liệu rằng có phải khi Gandhi qua đời ông đã hơn 114 tuổi hay không và bạn sẽ dự đoán tuổi của Gandhi cao hơn nhiều so với khi bạn được hỏi: Có phải Gandhi qua đời ở tuổi 35.

  1. Sự thật về giới hạn của đầu óc chúng ta

Chúng ta dễ dãi đánh giá quá cao sự hiểu biết của mình về thế giới và đánh giá quá thấp vai trò của các cơ hội và sự kiện xung quanh. Và sự dễ dãi này xuất phát từ việc bạn có ít thông tin nên hệ thống 1 với lối tư duy liên tưởng hay nguyên nhân hệ quả, nó dễ dàng vẽ ra một câu chuyện mà chúng ta cho là hợp lý, biến nó thành niềm tin.

Chúng ta đưa ra một kết luận hay dự đoán tương lai (hay còn gọi trực giác-linh cảm) vì chúng ta thấy nó hợp lý chứ không phải vì kết luận đó mang yếu tố của một quá trình tư duy hợp lý. Phần này đọc để hiểu không dễ, mình sẽ dùng một ví dụ lượm lặt được cho các bạn thấy.

Giả sử bạn muốn mở một quán cafe ở Sài Gòn. Tỉ lệ tồn tại sau một năm của quán cafe là bao lâu? Thông thường bạn sẽ cân nhắc những yếu tố như vị trí của quán, trang trí tường, bàn ghế, phong cách phục vụ, chất lượng đồ uống, giá cả đồ uống, chi phí… Tất cả những yếu tố trên làm bạn nghĩ quán của bạn sẽ khác biệt so với hàng triệu quán ở Sài Gòn và một con số hiện lên trong đầu bạn khi cân nhắc những yếu tố trên. Bạn nghĩ rằng quán của bạn khả năng cao (cho là 70%) là tồn tại sau một năm vì bạn tin mình đã chuẩn bị kỹ lưỡng và nắm rõ những thông tin mình có và liên kết chúng lại. Bạn nghĩ 70% này ở đâu ra thế hay do bạn tự nghĩ ra. Thống kê cho thấy rằng 90% quán café mới sẽ đóng cửa sau một năm, và bạn chỉ có khoảng 10% để tồn tại sau một năm. Bằng chứng này cho thấy tự bạn vẽ ra một câu chuyện phù hợp với thế giới quan của bạn.

  1. Thảo luận về bản chất của việc ra quyết định

Việc chúng ta đưa ra quyết định thường sai lệch những nguyên tắc tư duy logic mà chúng ta thường vẫn cho là hợp lý. Việc quyết định này thường thể hiện thông qua “Tâm lý mất mát”, “Cái xấu mạnh hơn cái tốt”, chúng ta phản ứng trước những thất bại mạnh mẽ hơn với những lợi ích tương xứng.

Ví dụ thực tế từ phong trào phản đối tiêm vaccin, phủ nhận vai trò của vaccin khi có “x” trẻ chết. Chúng ta phủ nhận vai trò của may rủi, có những rủi ro mà bạn khó chấp nhận dù cho tỉ lệ nó thấp đến bao nhiêu. Giả sử con bạn tiêm vaccin thì ra đi trong khi những đứa trẻ khác thì khỏe mạnh. Nếu bạn nói vaccin không đủ an toàn, bộ y tế bắt con bạn tiêm thì mời bạn xem lại tỉ lệ tử vong do tiêm vaccin thấp cỡ nào. Nguồn đây, bạn thử cộng số trẻ chết trên báo và chia cho tổng số trẻ được tiêm.

“Cơ chế của não người và ở một số loài vật khác được ưu tiên để chứa các tin tức xấu. Chỉ cần 1 phần ngàn giây cũng đủ để phát hiện kẻ săn mồi, chu trình này giúp các động vật sống sót để duy trì nói giống”.

“Những cảm xúc tồi tệ, những ông bố bà mẹ xấu, thông tin tệ có tác động lớn hơn những thứ tốt đẹp. Con người có nhiều động lực để tránh mang tiếng xấu hơn là nỗ lực thành một người tốt” (Câu này rất thực tế, các bạn thử dành một ít thời gian ngẫm nghĩ xem có đúng với những gì diễn ra xung quanh bạn không?)

“Một chuyên gia nghiên cứu mối quan hệ vợ chồng cho thấy: Một cuộc hôn nhân bền vững phụ thuộc rất nhiều vào việc tránh các hành động tiêu cực hơn là cố gắng tạo ra nhiều hành động tích cực. Ông ước tính để hôn nhân bền vững đòi hỏi tương tác tích cực phải lấn át những tương tác tiêu cực ở tỉ lệ nhỏ nhất 5/1… Để xây dựng một mối quan hệ có thể mất nhiều năm, nhưng chỉ một lỗi lầm, 1 khoảnh khắc mà tự chúng ta cho là tồi tệ đủ để phá hủy toàn bộ mối quan hệ đấy”.

  1. Bất hảo trong quá khứ: Tại sao ta nhớ những sự kiện từ nhận thức muộn (hindsight) chứ không phải từ trải nghiệm.

Tâm trí của ta không ghi nhớ các trải nghiệm theo một đường thẳng. Ta có hai bộ máy ghi lại các tình huống khác nhau.

 

Đầu tiên, là bản thể trải nghiệm, ghi lại cảm giác của mình ở hiện tại. Nó đặt câu hỏi: “Hiện tại mình đang cảm thấy ra sao?”

 

Thứ hai, là bản thể hồi tưởng, chép lại toàn bộ sự việc đã diễn ra. Nó đặt câu hỏi: “Nói chung thì mình cảm thấy như thế nào?”

 

Bản thể trải nghiệm mô tả chính xác hơn những gì đã xảy ra, bởi vì cảm giác của ta lúc đó là chính xác nhất. Nhưng bản thể hồi tưởng không chính xác bằng bởi vì nó ghi lại chỉ một số các kí ức nổi bật sau khi sự việc đã kết thúc.

 

Có hai lý do giải thích tại sao phần ghi nhớ lại lấn át phần trải nghiệm. Nguyên nhân đầu tiên được gọi là phớt lờ yếu tố thời gian (duration neglect), khi mà ta quên mất cả quá trình sự kiện để nhớ một phần nhỏ của nó. Thứ là do quy luật đỉnh-đáy (peak-end rule), khi ta thường quá nhấn mạnh thứ xảy ra ở cuối một sự kiện.

 

Để dễ hình dung, xem xét một thí nghiệm ghi lại trí nhớ của mọi người về một lần soi nội tràng đau đớn. Trước khi soi, mọi người sẽ được chia thành hai nhóm: một nhóm được nội soi rất lâu, trong khi nhóm còn lại được nội soi nhanh hơn, nhưng cảm giác đau đớn tăng dần khi kết thúc.

 

Bạn hẳn sẽ nghĩ những bệnh nhân khó chịu nhất là những người trải qua quá trình nội soi dài hơn, bởi họ phải chịu đau lâu hơn. Đó đúng là những gì họ cảm thấy vào thời điểm đó. Trong khi nội soi, khi được hỏi về cảm giác đau, bản thể trải nghiệm sẽ đưa ra câu trả lời chính xác: ai phải nội soi lâu hơn sẽ cảm thấy tệ hơn. Tuy nhiên, sau khi kết thúc, khi bản thể hồi tưởng lấn át, những ai được nội soi nhanh với màn kết đau đớn hơn sẽ cảm thấy tệ nhất. Cuộc khảo sát này đưa cho ta một ví dụ rõ ràng về hiệu ứng phớt lờ yếu tố thời gian và quy luật đỉnh-đáy, và các kí ức không chính xác của ta.

Giả tưởng bạn có 1 máy nghe nhạc đĩa than và 1 cái đĩa than, bạn mở máy và thưởng thức với tâm trạng thỏa mãn trong 40 phút đầu, nhưng tới phút 41 chiếc đĩa bị lỗi tạo ra âm thanh chói tai làm bạn khó chịu. Bạn sẽ kết luận gì về trải nghiệm này. “Đoạn kết thật tồi tệ” và quên 40 phút thỏa mãn ban đầu. Có thể lần sau bạn sẽ đắn đo khi mở chiếc đĩa này dù cho nó cho bạn 40 phút thỏa mãn và chỉ có một phút tồi tệ. Qua đó bạn có thể hình dung tương đối về 2 bản thể, bản thể trải nghiệm là cái đang sống thực và bản thể hồi tưởng chịu trách nhiệm chấm điểm và đưa ra lựa chọn.

  1. Vận dụng

7.1. Sức mạnh ý chí: điều chỉnh sự tập trung của tâm trí có thể tác động đáng kể tới suy nghĩ và hành vi của ta như thế nào

Tâm trí của ta sử dụng các mức năng lượng khác nhau tùy vào loại công việc. Khi không cần kêu gọi sự tập trung và cần ít năng lượng, ta ở trong trạng thái đầu óc thoải mái (cognitive ease). Tuy nhiên, khi cần phải chú ý, tâm trí sử dụng nhiều năng lượng hơn và bước vào trạng thái đầu óc căng thẳng (cognitive strain).

 

Những thay đổi này trong mức năng lượng của não có tác động đáng kể lên cách ta hành động.

 

Khi đầu óc thoải mái, Hệ thống 1 cảm tính sẽ làm chủ tâm trí, và Hệ thống 2 logic và cần nhiều năng lượng sẽ suy yếu. Điều này có nghĩa là ta sẽ quyết định theo trực giác hơn, sáng tạo và hạnh phúc hơn, tuy nhiên ta cũng dễ phạm sai lầm hơn.

Khi đầu óc căng thẳng, nhận thức của ta được nâng cao, và Hệ thống 2 sẽ làm chủ. Hệ thống 2 có xu hướng kiểm tra lại các phán xét của ta hơn Hệ thống 1, vì vậy mặc dù ta có thể bớt sáng tạo hơn, ta sẽ ít mắc lỗi hơn.

 

Bạn có thể chủ ý ảnh hưởng tới mức năng lượng mà tâm trí sử dụng để chọn hệ thống nào làm chủ cho phù hợp với từng công việc. Ví dụ nếu muốn thông điệp của mình thuyết phục hơn, hãy thử chuyển sang trạng thái đầu óc thoải mái.

 

Một cách để làm được điều này là tiếp xúc nhiều lần với các thông tin lặp lại. Nếu thông tin được lặp đi lặp lại với ta, hoặc dễ ghi nhớ hơn, nó sẽ trở nên thuyết phục hơn. Đó là bởi vì tâm trí đã thay đổi để phản ứng tích cực hơn khi tiếp xúc nhiều lần với cùng một thông điệp. Khi ta nhìn thấy một thứ đã quen thuộc với ta, ta sẽ bước vào trạng thái đầu óc thoải mái.

 

Mặt khác, đầu óc căng thẳng sẽ giúp ta thành công trong các công việc liên quan đến con số.

 

Ta có thể chuyển sang trạng thái này bằng cách tiếp xúc với thông tin được trình bày một cách rắc rối, ví dụ bằng phông chữ khó đọc. Khi đó tâm trí sẽ phải chú tâm hơn và gia tăng mức năng lượng để hiểu vấn đề, và vì vậy ta ít có khả năng từ bỏ hơn.

7.2. Không phải Rô bốt: Tại sao con người không quyết định dựa trên tư duy lý trí

 

Các cá nhân đưa ra lựa chọn như thế nào?

 

Từ lâu, một nhóm các nhà kinh tế có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đã cho rằng con người ra quyết định dựa trên lập luận lý tính. Họ cho rằng mọi người đều lựa chọn theo lý thuyết lợi ích, khẳng định rằng khi các cá nhân ra quyết định, họ chỉ nhìn vào những dữ liệu lý tính và chọn phương án có tổng lợi ích lớn nhất.

 

Ví dụ, thuyết lợi ích sẽ đưa ra kiểu câu như sau: nếu bạn thích cam hơn kiwis, thì bạn sẽ chọn cơ hội 10% có được quả cam hơn cơ hội 10% có được quả kiwis.

 

Hiển nhiên phải không?

 

Nhóm nhà kinh tế học có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực này tập trung tại Trường kinh tế Chicago và học giả nổi tiếng nhất của họ là Milton Friedman. Sử dụng thuyết lợi ích, trường phái Chicago cho rằng các cá nhân trên thị trường là những người ra quyết định siêu lí tính, những kẻ mà nhà kinh tế học Richard Thaler và luật sư Cass Sunstein sau này gọi là Thương gia (Econs). Với Thương gia, mỗi cá nhân hành xử hệt như nhau, đánh giá hàng hóa và dịch vụ dựa trên các nhu cầu duy lý của họ. Hơn nữa, người kinh tế cũng đánh giá tài sản của mình một cách lý trí, chỉ quan tâm tới mức lợi ích nó đem lại cho họ.

 

Vậy nên nếu tưởng tượng hai người, John và Jenny, đều có tổng tài sản là 5 triệu đô. Theo thuyết lợi ích, vì họ có cùng số tiền nên họ sẽ hạnh phúc ngang nhau.

 

Nhưng nếu chúng ta phức tạp hóa vấn đề hơn một chút? Giả dụ tài sản 5 triệu đô là kết quả của một ngày đánh bạc, và hai người có điểm xuất phát khác nhau: John ban đầu chỉ có 1 triệu đô và cuối cùng có được số tiền gấp 5, trái lại Jenny khởi đầu với 9 triệu đô và lỗ chỉ còn 5 triệu đô. Liệu bạn có vẫn nghĩ John và Jenny đều hạnh phúc ngang nhau với số tiền 5 triệu đô?

 

Rõ ràng, chúng ta đánh giá mọi thứ không chỉ dựa vào lợi ích thuần túy của nó.

 

Như ta sẽ thấy trong phần tiếp, bởi vì con người không nhìn lợi ích một cách lý trí như thuyết lợi ích khẳng định, ta có thể đưa ra những quyết định lạ lùng và phi lý trí. 

7.3. Trực giác: tại sao thay vì quyết định dựa trên các cân nhắc lý tính, ta thường bị lung lay bởi các yếu tố cảm xúc

 

Nếu thuyết lợi ích là sai, vậy thuyết nào đúng?

 

Một phương án khác là thuyết triển vọng (prospect theory), do chính tác giả sách phát triển

 

Thuyết triển vọng của Kahneman thách thức thuyết lợi ích bằng cách chỉ ra rằng khi đưa ra lựa chọn, ta không phải lúc nào cũng hành động một cách có lý trí nhất.

 

Tưởng tượng có hai kịch bản: Trong trường hợp 1, bạn được cho $1000 và phải chọn giữa: 100% nhận được $500 hoặc đánh cược 50/50 để thắng $1000 nữa.Trong trường hợp 2, bạn được cho $2000 và phải chọn giữa: 100% mất $500 hoặc đánh cược 50/50 mất $1000.

 

Nếu chúng ta chỉ quyết định lý trí, thì bạn sẽ lựa chọn giống nhau trong hai trường hợp. Nhưng thực tế không phải thế. Trong ví dụ đầu, đa số mọi người sẽ chọn giải pháp an toàn là lấy $500, nhưng trong trường hợp 2, đa số lại đánh liều.

Thuyết triển vọng giúp giải thích tại sao lại có sự khác biệt. Nó nhấn mạnh ít nhất hai lý do tại sao ta không hành động lý trí. Cả hai đều đều cập đến tính sợ thua lỗ của ta – thực tế là ta sợ thua lỗ hơn là nhận được lời.

 

Lý do đầu tiên là ta định giá mọi thứ dựa trên các điểm tham chiếu. Khởi đầu với mức $1000 hay $2000 trong hai kịch bản thay đổi khả năng đánh bạc của ta, bởi vì điểm khởi đầu tác động tới cách ta định giá vị thế của mình. Điểm tham chiếu trong trường hợp 1 là $1000 và $2000 trong trường hợp 2, nghĩa là nếu còn $1500, thì là lãi với TH1 nhưng là lỗ trong TH2. Kể cả lý luận rõ ràng phi lý (vì kiểu gì bạn cũng có $1500), ta hiểu giá trị thông qua điểm xuất phát cũng như giá trị khách quan tại thời điểm đó.

 

Thứ hai, ta bị ảnh hưởng bởi nguyên tắc giảm độ nhạy (diminishing sensitivity principle): giá trị ta nhìn nhận có thể khác với giá trị thực của nó. Ví dụ, mất tiền từ $1000 xuống $900 không cảm thấy tệ bằng việc mất tiền từ $200 xuống $100, bất kể khoản bị mất có giá trị ngang nhau. Tương tự trong ví dụ của ta, giá trị khoản lỗ được nhìn nhận khi mất tiền từ $1500 xuống $1000 sẽ lớn hơn khoản mất từ $2000 xuống $1500.

7.4. Hình ảnh sai: tại sao tâm lý lại xây dựng một hình ảnh hoàn chỉnh để giải thích thế giới, nhưng chúng thường dẫn đến tự tin thái quá và sai lầm

 

Để hiểu các tình huống, tâm trí ta sử dụng sự nhất quán nhận thức (cognitive coherence); ta xây dựng những hình ảnh tâm trí (mental image) hoàn chỉnh để giải thích các ý tưởng và khái niệm. Ví dụ, ta có rất nhiều hình ảnh trong não về thời tiết. Giả dụ ta có hình ảnh về thời tiết mùa hè, có thể một bức tranh về mặt trời chói chang, nóng bỏng làm ta đổ mồ hôi nhễ nhại.

 

Ngoài việc giúp ta hiểu sự vật, ta cũng dựa vào những hình ảnh này để ra quyết định.

 

Khi ra quyết định, ta tham khảo những hình ảnh này và xây dựng giả định và kết luận dựa trên chúng. Ví dụ, nếu ta muốn biết nên mặc đồ gì vào mùa hè, ta dựa các quyết định của mình vào hình ảnh trong tâm trí ta về trời mùa hạ.

Vấn đề là ta quá tin vào những hình ảnh này. Kể cả khi các thống kê và dữ liệu hiện có phủ nhận những bức ảnh tâm trí này, ta vẫn sẽ để nó chỉ dẫn mình. Người dự báo thời tiết có thể cho rằng ngày nay sẽ lạnh, nhưng bạn vẫn quần đùi và áo phông, như bức ảnh tâm trí về mùa hè nói cho bạn. Do đó bạn có thể co ro ngoài trời.

 

Tóm tắt, ta quá tự tin vào những hình ảnh tâm trí sai lầm. Nhưng có 1 số cách để khắc phục vấn đề này và đưa ra các dự đoán tốt hơn.

 

1 cách để tránh lỗi là tận dụng phương pháp dự đoán theo lớp tham chiếu (reference class forecasting). Thay vì phán xét dựa trên hình ảnh tâm trí chung chung, hãy sử dụng những dữ liệu lịch sử để dự đoán chính xác hơn. Ví dụ, hãy nghĩ về những lần bạn ra ngoài mùa hè mà trời lại rét. Lúc đó bạn mặc gì?

 

Ngoài ra, bạn có thể tạo ra một chiến lược phòng thân (risk policy) dài hạn, để lên kế hoạch cho những biện pháp cụ thể trong cả trường hợp dự báo chuẩn và sai. Trong qua sự chuẩn bị và bảo vệ, bạn có thể dựa vào chứng cứ thay vì những hình ảnh tâm trí và đưa ra dự báo chính xác hơn. Trong trường hợp thời tiết của ta, điều này có nghĩa là hãy mang theo một chiếc áo len cho chắc.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây