Tư Duy Kinh Nghiệm – Tư Duy Lối Mòn

105

1. Tư duy kinh nghiệm là gì?

Kinh nghiệm là toàn bộ sự hiểu biết, cách ứng xử mà một cá nhân tiếp thu được trong cuộc đời. Kinh nghiệm có thể ân tự rút ra được trong quá trình hoạt động hoặc do tiếp thu từ người khác.

  • Tư duy kinh nghiệm vận dụng kinh nghiệm vào quá trình nhận thức mới, thực hiện một công việc mới hay công việc cũ nhưng trong hoàn cảnh mới.
  • Tư duy kinh nghiệm đánh giá, xem xét sự vật, sự việc mới theo những cách thức có sẵn. Cố gắng đưa nhận thức những sự vật, sự việc đó về những cái đã biết cho nên thường gặp khó khăn khi tiếp xúc với những sự vật, sự việc hay vấn đề mới.

1.1 Tư duy kinh nghiệm mềm dẻo và linh hoạt, nhạy cảm và năng động

Tư duy kinh nghiệm có xu hướng giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ trước mắt, cụ thể đang được đặt ra. Chúng phát hiện và giải quyết trực tiếp vấn đề nên bản thân của chúng dễ dàng thích nghi với sự thay đổi của thực tiễn, mềm dẻo và linh hoạt, nhạy cảm và năng động là đặc tính của tư duy kinh nghiệm. Có thể phát hiện và giải quyết vấn đề rất nhạy bén.

Vì thế từ xa xưa, việc áp dụng kinh nghiệm trong các cuộc đấu tranh mang tính lịch sử, công cuộc dựng nước và giữ nước được ông cha ta lấy làm trọng. Hay thời nay kinh dựa vào kinh nghiệm thực tiễn sản xuất, kinh doanh mà nhà nước đã có những phát hiện đổi mới trong chính sách kinh tế, làm nền kinh tế ngày càng phát triển hơn nữa.

  • Ví dụ thực tế như những người công nhân lao động có nhiều kinh nghiệm trong ngành nghề của họ thì việc phán đoán đưa ra giải pháp nhanh chóng và chính xác thật sự hiệu quả.

Vì bám sát thực tiễn nên các giải pháp mà tư duy kinh nghiệm đưa ra phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Những tri thức này có được nhờ quá trình quan sát, cảm nhận, thấu hiểu trực tiếp nên dễ dàng áp dụng.

  • Lấy ví dụ như ở Việt Nam ta, nhiều người nông dân sáng chế ra các loại máy phục vụ cho nông nghiệp như máy gieo thóc, gieo hạt, máy thái hành, máy đào ao,… Chính nhờ sự bám sát thực tiễn này mà tư duy kinh nghiệm đã đưa ra được các giải pháp tối ưu cho phát triển sản xuất. Có thể nói tư duy kinh nghiệm đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con người.

1.2 Tư duy kinh nghiệm đóng vai trò cầu nối giữa lý luận và thực tiễn

Tư duy kinh nghiệm có khả năng thu hẹp khoảng cách giữa tư duy lý luận và thực tiễn. Nếu như lý luận mà thiếu thực tiễn thì đó là lý luận suông, nếu thực tiễn mà không dựa vào lý luận thì đó chỉ là thực tiễn mù quáng, không có cơ sở.

Để tri thức lý luận phù hợp với thực tiễn, áp dụng những tri thức khoa học vào thực tiễn cần phải có sự tham gia của tư duy kinh nghiệm. Không phải chỉ cần có tri thức khoa học, phương pháp để giải quyết vấn đề của thực tiễn đặt ra mà cần phải có sự nhạy cảm đối với nghề nghiệp, là sự đúc kết thông qua quá trình trải nghiệm thực tế, làm cho vấn đề được giải quyết một cách có hiệu quả hơn. Cho nên tư duy kinh nghiệm giữ vai trò cầu nối giữa lý luận và thực tiễn.

1.4 Tham gia vào quá trình hiện thực hóa các kết quả nhận thức trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực của con người.

Các chính sách, lý luận là kết quả của những sự trừu tượng khoa học đều dựa trên cơ sở thực tiễn chứ không ra đời một cách trực tiếp. Cho nên việc tổng kết thực tiễn nhằm bổ sung cho lý luận là hết sức cần thiết. Để con người tránh khỏi những tính chất giáo điều của lý luận trong chỉ đạo thực tiễn, lý luận suông hoặc lạc hậu so với thực tiễn. Nhưng nếu cứ chú trọng vô thực tiễn và bỏ quên lý luận sẽ dẫn đến tình trạng rập khuôn.

2. Tuy nhiên tư duy kinh nghiệm có phải là tư duy lối mòn?

Tư duy kinh nghiệm

Tuy nhiên tư duy kinh nghiệm cũng còn có những mặt hạn chế nhất định, có thể gọi là tư duy lối mòn. Trong thế giới phát triển hiện nay, nếu chúng ta không khắc phục những tác động tiêu cực này, thì sẽ phải nhận nhiều hậu quả hết sức tai hại.

Đôi khi những hoạt động hàng ngày làm chúng ta cảm thấy thoải mái vì đã quen. Dần dần, chúng sẽ biến thành một thói quen nhàm chán, làm mất dần sự hứng thú với cuộc sống, đó gọi là tư duy lối mòn. Sẽ không có vấn đề gì nếu xảy ra tình trạng đó trong khoảng thời gian ngắn, nhưng nếu kéo dài, nó sẽ làm bạn kém sự tự tin và khó đối mặt với những thách thức trong cuộc sống.

Lấy một ví dụ cụ thể để hiểu rõ hơn về tư duy lối mòn:

  • Có một người nam tên là Chú, nằm trên võng trong nhà, lúc này có một tên trộm vào lấy hết đồ và chạy thoát nhưng người tên Chú này vẫn không có hành động gì.

Theo bạn thì tại sao Chú lại làm như vậy? Có 4 trường hợp có lẽ bạn sẽ nghĩ đến:

  • Thứ 1: Có lẽ bạn sẽ nghĩ vì người tên Chú này sợ bị trộm uy hiếp
  • Thứ 2: Vì Chú quá hoảng nên chưa kịp phản ứng gì.
  • Thứ 3: Cũng có thể vì người Chú này biết nhà mình không có tài sản gì để tên trộm lấy cả vì quá nghèo
  • Thứ 4: Vì người Chú nhậu say rồi  nên không biết gì cả
  • Tuy nhiên đáp án chính xác là vì người tên Chú này là một em bé chỉ mới vài tháng tuổi.

Lối mòn trong tư duy tạo ra cách suy nghĩ riêng cho mỗi người, cách bạn suy nghĩ một vấn đề và vấn đề này lại liên quan đến hoàn cảnh mà bạn từng sống, đến kinh nghiệm mà bạn từng trải, mỗi lần gặp một vấn đề cần động não suy nghĩ bạn sẽ thường bị kẹt vào lối mòn đó và lâu dần thành thói quen.

Giống như một hành động cứ lặp đi lặp lại hàng ngày sẽ tạo tạo thành kỹ năng kỹ xảo để bạn có thể làm việc đó mà không cần suy nghĩ theo cách tự nhiên. Điều thú vị là suy nghĩ theo kiểu cũ khiến bạn cảm thấy thoải mái giống như đang ở trong ngôi nhà của mình.

Lối suy nghĩ này khiến bạn bị mắc kẹt trong cái hang của chính mình, khi cần thoát ra thì bạn lại loay hoay không biết làm thế nào. Bạn thường tự hỏi tại sao người khác có ý tưởng táo bạo còn bạn thì không.

Người Việt chúng ta một số người hay tư duy theo kiểu lối mòn và ngại thay đổi. Chúng ta cảm thấy nhút nhát và sợ khó khi làm một công việc mới khác với công việc hàng ngày do đã quá quen và thuần thuộc rồi. Chúng ta ngại thay đổi, ngại bước ra một môi trường mới đầy nguy hiểm và rủi ro, chúng ta như một chú ốc sên thu mình trong vỏ để được an toàn.

Người kinh doanh thường sẽ là những người năng động hơn, tiếp thu cái mới tốt hơn, nhưng đa số chúng ta vẫn ngại thay đổi.

  • Ví dụ một người đang kinh doanh giày dép, quần áo nữ nhưng nếu bảo họ kinh doanh một mặt hàng mới đối với họ thực sự rất khó. Tất nhiên vấn đề gì cũng có 2 mặt, khi chúng ta tập trung vào 1 cái coi là sở trường thì chúng ta am hiểu sản phẩm, đối thủ và thị trường hơn thì cơ hội sẽ lớn hơn. Nhưng khi mặt hàng mình kinh doanh có sự biến động không thể cạnh tranh nổi với đối thủ thì tốt nhất chúng ta nên thay đổi.

Bạn hãy thử trả lời câu hỏi làm thế nào để con ếch có thể thoát ra khỏi cái giếng

Tư duy kinh nghiệm
  • Cách1: Học cách bay
  • Cách 2: Chờ người bắt hoặc câu nó lên
  • Cách 3: Chờ nước lũ dâng lên, nó theo nước thoát ra
  • Cách 4: Phải kêu để ông trời nghe được tiếng kêu làm trời mưa theo thoát ra nhờ nước mưa trong giếng dâng lên
  • Cách 5: Kiên nhẫn chờ mưa, và nghĩ cách rút kinh nghiệm để không bị rơi xuống giếng lần nữa.
  • Con ếch biết được mục đích cần đạt nhưng không biết cách làm như thế nào, khi nhu cầu ra khỏi giếng là cấp bách thì con ếch sẽ nỗ lực và làm mọi cách để đạt được mục tiêu của nó.

4. 6 kiểu tư duy lối mòn thường gặp

Tư duy kinh nghiệm
Các kiểu tư duy kinh nghiệm
  • Tư duy vòng tròn luẩn quẩn

Kiểu tư duy này khi gặp phải họ thường nhốt mình trong sự khó chịu, không chịu tìm cách giải quyết nhưng cũng không muốn bỏ qua. Càng ngày càng trầm trọng hơn và khiến cuộc sống mình gặp bế tắc.

  • Tư duy cực đoan hóa

Những người mắc phải tư duy này thường có biểu hiện là phóng đại vấn đề và đặc biệt hay sử dụng những từ như “luôn luôn”, “không bao giờ”. Ví dụ như có một chuyện không may xảy ra trong cuộc đi chơi của họ, họ sẽ cảm thấy thật sự rất tệ và không muốn tham gia thêm lần nào nữa.

  •  Tư duy trắng – đen

Tư duy trắng – đen là kiểu tư duy mà chúng ta chỉ thấy được hai điều vui hoặc buồn, tốt hoặc xấu, đúng hoặc sai. Mặc dù kiêu tư duy này không xấu nhưng cuộc sống  không nên nhìn các vấn đề theo hướng phiến diện mà nên theo hướng đa diện, đa chiều.

  • Tư duy sống theo kỳ vọng

Những người này hay có suy nghĩ mặc định rằng mình phải sống theo ý người khác, ý của người thân, bạn bè xung quanh mà không quan tâm đến cảm xúc của mình. Những bạn trẻ bước vào độ đuổi đại học phải chọn những ngành mà ba mẹ thích, định hướng thay vì chọn ngành mình thích để theo học.

  • Tư duy gắn mác

Tư duy này theo lối dùng ấn tượng ban đầu để quy chụp tính chất, đặc điểm của người đó hoặc việc nào đó mới gặp đầu tiên.  Ví dụ điển hình là: “Người xăm trổ chắc chắn sẽ không đàng hoàng, tử tế”, hay “Người không đọc nhiều sách chắc chắn có suy nghĩ hẹn hẹp và nông cạn”. Người có lối tư duy này cũng tự gắn mác cho mình quá tự ti hoặc quá tự cao.

  • Tư duy vùng an toàn

Biểu hiện của kiểu tư duy này là bằng lòng với những gì đang có là được rồi chứ không có ý định vươn đến những thứ bên ngoài thế giới. Mặc dù hài lòng với thực tại là điều tốt, nhưng không được để nó trở thành cái cớ để bạn trì hoãn mọi thứ. Ví dụ, bạn nghĩ trình độ tiếng Anh như mình thì làm trong các tập đoàn đa quốc gia, và bạn tự nhốt mình trong công việc nhàm chán, vô vị hiện tại ấy.

5. Cách thay đổi tư duy lối mòn

Tư duy kinh nghiệm
Thay đổi tư duy lối mòn
  • Gọi đúng tên vấn đề

Nếu đang cảm thấy cực kỳ không ổn với cuộc sống hiện tại, cảm thấy mình đang có xu hướng tư duy theo lối mòn thì hãy thành thật với chính mình và nghĩ kĩ xem mình thường rơi vào kiểu tư duy nào ở trên? Bạn có THẬT SỰ muốn phá vỡ lối mòn đó trong tư duy của mình chưa?

  • Nhận biết khi nào bạn đang tư duy theo lối mòn

Bước tiếp theo bạn sẽ cần quan sát bản thân những khi mình có xu hướng tư duy theo lối mòn. Ví dụ, bạn có thể suy nghĩ rất sáng tạo trong công việc nhưng lại cứng nhắc trong các mối quan hệ xã hội. Hay bạn năng nổ, vui vẻ khi đi du lịch, nhưng luôn rúc vào vùng an toàn khi nghĩ về con đường sự nghiệp của mình. Nhận biết đúng hoàn cảnh, thời điểm giúp bạn có cái nhìn rõ ràng hơn về mong muốn thay đổi của mình.

  • Thời gian và hành động là chìa khóa

Cuối cùng, hãy để mọi chuyện diễn ra tự nhiên, hãy từ từ thay đổi từng chút một. Rất nhiều bạn thường mang tâm lý chỉ muốn thay đổi lối suy nghĩ của mình ngay nên mãi chẳng tiến xa hơn được vì quá vội vàng.

Như ví dụ về tâm lý không thể làm công ty nước ngoài vì tiếng anh yếu. Thay vào đó bạn hãy kiên trì dành một khoảng thời gian đủ để học ngoại ngữ, nâng cao năng lực. Chỉ cần nhẫn nại, bạn sẽ đến được ngày nhận ra chân trời mới sau khi đã dũng cảm gạt bỏ tư duy lối mòn khỏi suy nghĩ của mình.

Tư duy kinh nghiệm không xấu, tư duy lối mòn mới là xấu. Nhờ tư duy kinh nghiệm mới có thể giúp chúng ta giải quyết những vấn đề trước mắt một cách linh hoạt nhờ những kinh nghiệm đã có từ quá khứ mà chúng ta đã trải qua, áp dụng để giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng. Tuy nhiên nó sẽ trở thành lối mòn của tư duy nếu như bạn không chịu thay đổi, cải thiện trong lối suy nghĩ mà cứ áp dụng vào một cách máy móc, lặp đi lặp lại mà không có sự sáng tạo.

_________________________________________________________________

Tư Duy Kinh Nghiệm

Tư duy kinh nghiệm và vai trò của nó trong hoạt động thực tiễn

Tư duy kinh nghiệm là gì?

Tư duy kinh nghiệm là một giai đoạn tất yếu của nhận thức lý tính, nó có vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người. Ở nước ta, khi nói đến tư duy kinh nghiệm, không ít người thường chỉ đề cập đến những hạn chế, mà không thấy được những ưu điểm của nó. Vì vậy, việc đánh giá đúng vai trò, vị trí của tư duy kinh nghiệm để có thể phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế của nó là việc làm cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu cố gắng làm rõ vai trò của tư duy kinh nghiệm đối với hoạt động thực tiễn trong thời kỳ đổi mới và hội nhập của nước ta hiện nay.

Tư duy kinh nghiệm là một giai đoạn của nhận thức lý tính, mà trong đó người ta rút ra những tri thức về sự vật, hiện tượng khách quan, chủ yếu, thông qua con đường khái quát, quy nạp những tài liệu kinh nghiệm. 

Tư duy kinh nghiệm được hình thành một cách trực tiếp trong quá trình hoạt động thực tiễn của chủ thể nhằm mục đích cải biến khách thể. Nó thường phản ánh những thuộc tính, tính chất của các đối tượng có tác động trực tiếp tới chủ thể. Đối tượng phản ánh của nó là những thuộc tính, tính chất của khách thể hiện thực; ngược lại, đối tượng của tư duy lý luận là những khách thể trừu tượng. Sự khác nhau về mặt đối tượng được xem là dấu hiệu căn bản để phân biệt hai giai đoạn kinh nghiệm và lý luận trong nhận thức.

Là những cấp độ khác nhau của cùng một quá trình nhận thức lý tính, nhưng tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận không đối lập, tách rời nhau mà thống nhất với nhau qua hoạt động thực tiễn V.I Lênin đã từng khẳng định: “Muốn hiểu biết thì phải bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu từ kinh nghiệm, từ kinh nghiệm mà đi đến cái chung”.

Ở nước ta, một số công trình nghiên cứu đã đồng nhất tư duy kinh nghiệm với nhận thức cảm tính; hoặc chỉ coi “tư duy kinh nghiệm là thứ tư duy tiền khoa học”. Quan niệm đó đã dẫn đến việc tuyệt đối hóa vai trò của tư duy lý luận; coi thường tư duy kinh nghiệm. Thực chất, tư duy kinh nghiệm là giai đoạn tất yếu của nhận thức lý tính. Do vậy, nó cũng có khả năng phát hiện các quy luật và định hướng hoạt động thực tiễn của con người, chứ không chỉ tư duy lý luận mới có thể làm được việc này. Vai trò của tư duy kinh nghiệm đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn kém hơn tư duy lý luận, nhưng không vì thế mà chúng ta có thể tuyệt đối hóa vai trò của tư duy lý luận, hoặc xem nhẹ vai trò của tư duy kinh nghiệm.

Tư duy kinh nghiệm hướng tới giải quyết những nhiệm vụ trước mắt, cụ thể đang đặt ra; phát hiện và giải quyết vấn đề một cách trực tiếp.

Nhờ đặc tính trực tiếp phản ánh hiện thực khách quan, nên tư duy kinh nghiệm rất mềm dẻo, linh hoạt, năng động và nhạy cảm trước thực tiễn, dễ thích nghi với những thay đổi của thực tiễn. Hơn nữa, tư duy kinh nghiệm ẩn chứa khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề một cách nhạy bén. Chúng ta có thể thấy rất rõ vai trò của tư duy kinh nghiệm trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Ngày nay, dựa trên những kinh nghiệm thực tiễn chỉ đạo sản xuất, các cán bộ ở cơ sở đã phát hiện ra những điểm bất hợp lý trong mô hình hợp tác xã nông nghiệp, từ đó họ đã thực hiện “khoán chui”. Nhờ những phát hiện đó mà Đảng, Nhà nước ta đã kịp thời bổ sung và điều chỉnh chính sách: xây dựng và thực hiện chính sách “khoán 100”, “khoán 10″… Kết quả là từ một nước phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã tự đảm bảo an ninh lương thực và hơn thế, trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Theo đó, có thể nói, ở một mức độ nào đó, tư duy kinh nghiệm cũng cung cấp tiền đề lý luận – thực tiễn đầu tiên cho việc hoạch định chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng ta.

Hoạt động lao động sản xuất và quản lý xã hội của con người là một thực tiễn vô cùng sinh động và đa dạng. Các hoạt động đó luôn đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ, tình huống cần phải giải quyết. Tư duy kinh nghiệm giúp con người vận dụng những kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình nhận thức trước đó để giải quyết một cách khá hiệu quả nhiều vấn đề mới phát sinh, nhiều nhiệm vụ trước mắt, cụ thể do thực tiễn đặt ra. Thực tế cho thấy, những người thợ có nhiều kinh nghiệm có khả năng phán đoán tình huống nhanh chóng, chính xác và đưa ra giải pháp rất hiệu quả trong lĩnh vực làm việc của họ. Nhờ bám sát thực tiễn, nên những giải pháp mà tư duy kinh nghiệm đưa ra dễ phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Những tri thức kinh nghiệm có thể được cảm nhận, thấu hiểu thông qua khả năng quan sát kiểm tra trực tiếp nên dễ dàng áp dụng vào thực tiễn. Về điểm này, C.Mác cũng đã thừa nhận rằng, kinh tế chính trị thông thường tiện lợi hơn nhiều trong giao dịch hàng hóa thường ngày, điều đó có nghĩa là tư duy kinh nghiệm có vai trò quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con người. Cũng chính nhờ bám sát thực tiễn, tư duy kinh nghiệm đã đưa ra được nhiều giải pháp tối ưu cho việc phát triển sản xuất. Ở nước ta, nhiều nông dân ra nghiên cứu và sáng chế ra các máy nông cụ rất hiệu quả, như máy gặt đập liên hợp, máy gieo hạt, máy bóc ngô, máy thái hành, máy đào ao… dựa trên những kinh nghiệm của họ trong thực tiễn sản xuất. Có thể nói, tư duy kinh nghiệm có một vai trò rất lớn trong hoạt động thực tiễn của con người.

Tính trực tiếp của tư duy kinh nghiệm cũng góp phần loại bỏ những giải pháp không phù hợp mà tư duy lý luận đưa ra. 

Bởi vì, giữa lý luận và thực tiễn vẫn còn là một khoảng cách, tư duy kinh nghiệm là nhịp cầu nối quan trọng giữa tư duy lý luận và thực tiễn, gắn lý luận với thực tiễn. Tư duy lý luận có khoảng cách rất xa thực tiễn nên nhiều khi các phương án giải quyết vấn đề của tư duy lý luận thiếu tính đặc thù, nghĩa là thiếu sự phù hợp giữa khách thể trừu tượng, chung với khách thể hiện thực cụ thể. Do vậy, tư duy lý luận có thể dẫn đến những giải pháp không phù hợp để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Việc trong một thời gian dài, chúng ta quan niệm cần phải phát triển quan hệ sản xuất trước một bước nhằm tạo điều kiện, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn đến kết quả ngược lại, là một ví dụ. V.I.Lênin đã từng cho rằng, mọi sự trừu tượng (đúng đắn, nghiêm túc, không tùy tiện) phản ánh giới tự nhiên chính xác hơn, đầy đủ hơn, sâu sắc hơn. Vậy nếu nó sai? Chắc chắn nó sẽ không đưa ra được những giải pháp phù hợp với thực tiễn và khi đó, tư duy kinh nghiệm sẽ đóng vai trò phát hiện ra những sai sót đó.

Hiện nay, do tư duy lý luận ở nước ta còn nhiều yếu tố giáo điều, tư biện, nên chưa đưa ra được giải pháp phù hợp trong việc giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra một cách hiệu quả. Ví dụ, việc quy hoạch mạng lưới giao thông ở các thành phố lớn, các chiến lược giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, một số chương trình phát triển kinh tế… Về vấn đề này, tác giả Ngô Đình Xây đã viết: “Kiểu tư duy lý luận một cực là sách vở giáo điều và cực kia là thực tiễn vụn vặt là nét nổi bật thứ ba trong tư duy lý luận và cũng là của tư duy lý luận ở nước ta hiện nay. Khi lý tưởng hóa đi đến tuyệt đối hóa chức năng trừu tượng, tuyệt đối hóa khía cạnh lý thuyết thuần tuý tư duy lý luận đã bỏ rơi nguyên tắc: sức mạnh có thể có ở lý luận là ở chỗ nó gắn liền với thực tiễn và khi tư duy lý luận đã quên mất nguyên tắc đó, nó chỉ có thể tạo dựng những lý thuyết trừu tượng cách biệt quá lớn với thực tiễn, và như vậy nó giúp ích được gì cho thực tiễn?”(3). Chính vì vậy nếu kết hợp tư duy lý luận và tư duy kinh nghiệm một cách hợp lý thì chắc chắn chúng ta sẽ đưa ra được những giải pháp phù hợp hơn với thực tiễn.

Tư duy kinh nghiệm còn đóng vai trò kết nối giữa lý luận và thực tiễn, thu hẹp khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn. 

Trong mối quan hệ với tư duy lý luận, tư duy kinh nghiệm không những là cơ sở, tiền đề cho tư duy lý luận, mà còn đóng vai trò trung gian để lý luận thực hiện có hiệu quả vai trò định hướng và chỉ đạo thực tiễn. Lý luận không có thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng. Những tri thức khoa học có mức độ trừu tượng hóa và khái quát hóa rất cao, nhưng trong thực tiễn hầu như hoàn toàn không có những khách thể trừu tượng như vậy. Do vậy, giữa lý luận và thực tiễn vẫn còn là một khoảng cách, khoảng cách này có thể được lấp đầy nhờ tư duy kinh nghiệm. Mặt khác, do tính chất trừu tượng chung của những khách thể của tư duy lý luận, những khái quát về mặt lý luận là những nguyên lý chung chưa chú ý tới tính đặc thù; cho nên, để tri thức lý luận chung đó phù hợp với thực tiễn sống động, cụ thể, nghĩa là việc áp dụng những tri thức khoa học vào thực tiễn cần phải có sự tham gia của kinh nghiệm, tư duy kinh nghiệm. Để giải quyết những vấn đề của thực tiễn đặt ra một cách có hiệu quả đòi hỏi không những phải có tri thức khoa học, phương pháp, mà còn phải có sự nhạy cảm nghề nghiệp, đó là sự mẫn cảm được tạo nên qua trải nghiệm thực tiễn. Ở đây, tư duy kinh nghiệm giữ vai trò cầu nối giữa lý luận và thực tiễn.

Ngoài chức năng tiếp nhận, cung cấp những dữ liệu của đối tượng nhận thức làm tiền đề cho tư duy lý luận khái quát hóa và hệ thống hóa, tư duy kinh nghiệm còn tham gia vào quá trình hiện thực hóa các kết quả nhận thức trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực của con người.

Lý luận, các chủ trương, chính sách không ra đời một cách trực tiếp mà là kết quả của những sự trừu tượng khoa học dựa trên cơ sở thực tiễn. Vì vậy, việc tổng kết thực tiễn nhằm bổ sung cho lý luận là hết sức cần thiết. Nó giúp người ta tránh khỏi sa vào giáo điều, duy ý chí. Tổng kết thực tiễn góp phần rất lớn vào việc thu hẹp khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn, tránh được tính chất giáo điều của lý luận trong chỉ đạo thực tiễn, lý luận suông hoặc lạc hậu so với thực tiễn. Tư duy kinh nghiệm cũng góp phần loại bỏ những điểm chưa phù hợp giữa lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, nếu chỉ chú ý đến thực tiễn mà xa rời lý luận sẽ dễ rơi vào tình trạng mò mẫm, rập khuôn, kinh nghiệm chủ nghĩa. “Tổng kết thực tiễn là phương pháp căn bản trong hoạt động lý luận, là một phương pháp căn bản để khắc phục chủ nghĩa giáo điều và cả chủ nghĩa kinh nghiệm, để thực hiện sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn mà đúc kết, khái quát lên. Không có thực tiễn và kinh nghiệm thực tiễn thì không có lý luận”(4).

Trong quá trình đổi mới hiện nay, việc triển khai những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống có vai trò rất quan trọng của tư duy kinh nghiệm. Để những chủ trương ấy thực sự thấm nhuần và mang hơi thở của cuộc sống thì đối với mỗi địa phương, mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi công việc, mỗi con người cụ thể cần có sự vận dụng một cách hết sức sáng tạo linh hoạt. Chính thực tiễn phong phú và sinh động ấy sẽ kiểm chứng và trở thành thước đo giá trị của mỗi chính sách của Đảng, chỉ ra những bất cập, những tình huống mà lý luận chưa bao quát hết. Điều đó đòi hỏi những lý luận, những chủ trương, chính sách của Đảng phải luôn đổi mới, bổ sung và điều chỉnh để có thể định hướng cho hoạt động thực tiễn theo những quy luật phát triển khách quan của nó. Trải qua hơn hai mươi năm tiến hành đổi mới, sự phát triển, bổ sung lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng qua các kỳ đại hội đã khẳng định rằng, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn là nhiệm vụ hết sức quan trọng, là cơ sở khoa học để đẩy mạnh đổi mới tư duy lý luận của Đảng.

Trong việc đưa lý luận vào thực tiễn và tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, tư duy kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng. Một mặt, tư duy kinh nghiệm tham gia cụ thể hóa lý luận để nó thực hiện vai trò chỉ đạo thực tiễn. Sự cụ thể hóa lý luận cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở các địa phương là một công việc có ý nghĩa vô cùng cần thiết đối với việc phát triển kinh tế – xã hội ở những địa phương đó. Có thể nói, ở đây tư duy kinh nghiệm đóng vai trò là nhịp cầu nối quan trọng để các chính sách, đường lối, chủ trương đi vào thực tiễn một cách hiệu quả. Cùng một chính sách như nhau, nhưng địa phương nào biết vận dụng những chủ trương, chính sách một cách phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương mình thì thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư kinh tế – xã hội phát triển.

Mặt khác, khoa học hiện đại, kinh tế học đã chỉ ra rằng, “đặc điểm của nền kinh tế trong thời đại ngày nay là những hệ thống cực kỳ phức tạp, bao gồm một số rất lớn thành phần vận động không theo các quy luật tuyến tính, và tương tác với nhau trong một toàn thể khó có thể nhận thức qua con đường phân tích”(5). Các yếu tố trong nền kinh tế hiện đại vận động hết sức phức tạp nên dù ở trình độ tư duy lý luận cũng khó có khả năng dự đoán chính xác được tương lai của chúng. Chính vì vậy, việc phát huy tính trực tiếp và sáng tạo của tư duy kinh nghiệm nhằm phát hiện kịp thời và giải quyết các vấn đề mới phát sinh sẽ góp phần mang lại những hiệu quả thiết thực trong hoạt động thực tiễn. Qua quá trình phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy rằng, tư duy kinh nghiệm là nấc thang tất yếu và không thể thiếu của tư duy trong quá trình nhận thức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn cải biến thế giới khách quan của con người.

Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, bên cạnh những ưu điểm, tư duy kinh nghiệm cũng còn có những mặt hạn chế nhất định. Trong quá trình phát triển và hội nhập hiện nay, nếu chúng ta không khắc phục một cách kịp thời những tác động tiêu cực đó, thì chúng sẽ gây ra nhiều hậu quả hết sức tai hại.

Do được hình thành trực tiếp trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới khách quan, nên tư duy kinh nghiệm vẫn mang tính tự phát trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể của thực tiễn đặt ra. Tính tự phát làm cho tư duy kinh nghiệm không có tầm chiến lược, không tiếp cận được vấn đề ở tầm nguyên lý, nên thường dẫn đến cách nghĩ, cách làm thiển cận hoặc mò mẫm, kém hiệu quả. Vì vậy, khi đi vào thực tiễn, tư duy kinh nghiệm có thể nhanh nhạy giải quyết được những tình huống mới phát sinh; nhưng ít có khả năng đưa ra các quyết sách lâu dài mang tầm chiến lược. Việc các làng nghề ở nước ta hiện nay không thể phát triển lên sản xuất lớn là một minh chứng rõ ràng.

Một hạn chế khác của tư duy kinh nghiệm là tính duy lý yếu. Tư duy kinh nghiệm thường rút ra những tri thức kinh nghiệm thông qua con đường quy nạp những trải nghiệm, ít đi sâu phân tích, mổ xẻ để nhận thức vấn đề ở tầm nguyên lý, quy luật. Mức độ trừu tượng hóa và khái quát hóa của tư duy kinh nghiệm chưa cao, nên phạm vi tác động của nó còn hạn hẹp. Hơn nữa, sự thiếu hụt về phương pháp tư duy lôgíc cùng với tính chất tự phát làm cho tư duy kinh nghiệm ít có tính duy lý, thiếu chặt chẽ, thiếu khả năng phân tích, phản biện đối với tri thức mới. Vì vậy, tư duy kinh nghiệm thường có độ chính xác không cao, ít có khả năng định hướng, chỉ đạo hoạt động thực tiễn ở tầm chiến lược một cách hiệu quả.

Do yếu về tính duy lý, tư duy kinh nghiệm thường mang tính định tính nhiều hơn định lượng, thiếu chính xác hơn tư duy lý luận. Đồng thời, do ít có khả năng phân tích, phê phán và tự phê phán, người tư duy kinh nghiệm thường suy nghĩ đơn giản, máy móc, thụ động, ít sáng tạo. Chính điều này đã dẫn đến việc áp dụng một cách máy móc kinh nghiệm của người khác, địa phương khác mà không tính đến những yếu tố đặc thù của địa phương mình. Thực tế cho thấy, các phong trào phát triển sản xuất mía đường, xi măng lò đứng… ở nước ta thời gian qua đã gây ra những hậu quả kinh tế nghiêm trọng.

Dự báo là một yêu cầu mang tính đặc trưng đối với tư duy con người trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Do những nhược điểm trên mà tư duy kinh nghiệm yếu về khả năng dự báo. Bởi mức độ chính xác của việc dự báo phụ thuộc rất nhiều vào tính chân lý, tính quy luật, độ sâu sắc của những tri thức mà người ta sử dụng làm cơ sở cho việc dự báo, cũng như quan hệ logic của các tri thức trong quá trình dự báo. Thế giới ngày nay đang diễn ra sự phát triển nhanh chóng nhờ những thành tựu của khoa học hiện đại. Điều đó đòi hỏi phải đổi mới và nâng cao không ngừng trình độ và năng lực nhận thức để có thể dự báo chính xác tương lai. Đồng thời, dự báo khoa học ngày càng trở thành một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công ở mọi lĩnh vực và đó là nhiệm vụ rất quan trọng của khoa học hiện đại. Dự báo khoa học ngày càng đóng vai trò không thể thiếu trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả của tư duy lý luận nói riêng và quá trình nhận thức của con người nói chung. Điều đó đặt ra vấn đề cần phải khắc phục những hạn chế của tư duy kinh nghiệm cũng như phát triển và nâng cao năng lực tư duy lý luận của con người.

Trong hoạt động thực tiễn, nếu người ta chỉ dừng lại ở trình độ tư duy kinh nghiệm sẽ không có khả năng nhận thức được bản chất của các sự vật và hiện tượng, do đó sẽ không nắm được những biến đổi phong phú, đa dạng của hiện thực để cải biến nó phục vụ lợi ích của con người. Do đó, muốn cải biến hiện thực theo nghĩa sáng tạo ra hiện thực mới, con người phải nhận thức, khám phá được bản chất, quy luật vận động khách quan của nó bằng tính chặt chẽ, chính xác và sáng tạo của tư duy lý luận. Hơn nữa, người ta cần phải kết hợp nhuần nhuyễn tư duy lý luận với tư duy kinh nghiệm để phát huy những mặt mạnh, cũng như khắc phục những mặt hạn chế của mỗi loại hình tư duy. Đó là cách để phát huy vai trò định hướng và chỉ đạo của lý luận đối với hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo hiện thực khách quan một cách có hiệu quả.

Tư duy kinh nghiệm có vai trò rất quan trọng trong quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn của con người, song về bản chất, những tri thức kinh nghiệm vẫn mang tính chất hạn hẹp. Vì vậy, để phát huy được vai trò của tư duy kinh nghiệm, nhất thiết phải đặt nó trong mối liên hệ thống nhất với tư duy lý luận, bởi chỉ có tư duy lý luận với bản chất sáng tạo và sự sâu sắc trong sự phản ánh hiện thực khách quan mới có thể khắc phục được tính chất hạn hẹp, phiến diện của tư duy kinh nghiệm.

Ví dụ để hiểu về tư duy kinh nghiệm

Làm rõ sự khác nhau của 3 loại tư duy chính

Trong entry đầu tiên của Tư duy logic tôi có phân tạm ra có 3 kiểu tư duy chính:

Tư duy kinh nghiệm; tư duy logic; tư duy sáng tạo (đột phá).

Cách chia này chưa chắc đã đủ nhưng là cách để chúng ta đỡ bị lẫn giữa rất nhiều các tên gọi khác nhau. Tư duy phản biện tôi nghĩ cũng là nằm trong tư duy phân tích trong đó chúng ta hướng về mặt trái của vấn đề thay vì theo mặt phải thông thường.

Mỗi người trong chúng ta đều có khả năng cho cả 3 loại này, chỉ khác nhau ở cấp độ. Người nào mạnh về loại tư duy nào sẽ cố gắng tận dụng loại tư duy đó. Mỗi loại tư duy có những điểm mạnh và yếu riêng, tận dụng cả 3 sẽ giúp bổ trợ cho nhau.

Chúng ta sẽ tìm hiểu sự khác nhau của 3 kiểu tư duy này.

Ví dụ: xây dựng nhận thức về việc lửa rất nóng và có thể bị bỏng khi chạm vào

Tư duy kinh nghiệm:

Nếu như A chưa có bất cứ kinh nghiệm nào với lửa. A tò mò thử sờ tay vào và thấy rất nóng. Khi rút tay ra khỏi lửa A vẫn thấy khó chịu chỗ đó, sau 1 ngày chỗ đó phồng rộp lên. A đã có thêm một nội hàm về khái niệm của lửa và cũng đã biết thêm khái niệm của bỏng. A đã có thêm nhận thức này và từ nay A sẽ không còn dám chạm tay vào lửa nữa.

A ở trong bộ lạc X có rất nhiều các thành viên khác trong đó có 3 ông là Đa nghi, Ngây thơ và Vô tư. A truyền đạt đạt kinh nghiệm này cho cả 3. Kinh nghiệm này trở thành kiến thức của 3 ông. Đa nghi chỉ tin những gì anh ta trực tiếp trải nghiệm, anh ta không tin và thử làm những gì A đã làm, kết quả là anh ta thu được kinh nghiệm cho riêng mình với cái giá phải trả như A.

Ngây thơ là người cả tin, anh ta lập tức tin A mà không nghi ngờ gì, kiến thức đó biến thành kinh nghiệm của Ngây thơ. Vô tư là người chẳng bao giờ chú tâm vào cái gì, anh ta quên ngay khi vừa nghe xong, một ngày đẹp trời nào đó anh ta vì lý do nào đó cũng chạm tay vào lửa và cũng sẽ có kinh nghiệm cho riêng mình.

Tư duy logic:

B chưa có bất cứ kinh nghiệm nào với lửa và rất muốn biết ngọn lửa như thế nào . B nhìn thấy ngọn lửa đang biến lá cây khô thành mủn đen xì và nhận định rằng nếu như sờ tay vào có thể sẽ bị đen thui như lá cây. Vì vậy B rất cẩn thận để tay tiến lại gần ngọn lửa mà không để tay ngay vào như A. B thu được kinh nghiệm rằng càng tiến tới gần ngọn lửa thì càng nóng, tới một lúc không chịu được B rụt tay lại. Vì chưa bị bỏng nên B không thu được khái niệm về bỏng nhưng biết rằng lửa rất nóng.

B sử dụng tư duy logic để thông qua khái niệm mới có để tự nhận thức ra các khái niệm khác có liên quan. Trong khi đó thì A vẫn cứ thử nghiệm,  trả giá để có kinh nghiệm mặc dù không cần thiết.

C là người cũng không có kinh nghiệm với lửa  và đương nhiên cũng muốn biết lửa thế nào. C nghe thông tin từ tất cả để rút ra nhận thức về lửa. C không mất công sờ vào lửa cũng chẳng chạm tay vào lửa mà vẫn có kinh nghiệm.

Tư duy sáng tạo:

B bắt đầu tìm cách để bảo quản lửa, tạo ra lửa, sử dụng lửa trong đời sống…  Để lấy lửa B chỉ nghĩ ra mỗi cách là chỗ nào có sét đánh thì tới đó lấy lửa. Rất nhiều trường hợp B bị chết hụt hoặc tới đó quá trễ. Quá nhiều người trong bộ lạc X chết vì sét đánh, quá mệt mỏi vì phải canh sét rồi chạy tới; B ngồi nghĩ cách khác; lúc này B đã bị ép phải dùng tới tư duy sáng tạo.

A có được nhận thức về lửa thì đi ngủ kỹ; đợi tới một lúc nào đó bỗng nhiên biết cách tạo ra lửa hoặc là được người khác truyền cho cách tạo ra lửa.

Như vậy ta thấy là tư duy sáng tạo chỉ xuất hiện khi người ta gặp một trở ngại mà sử dụng tới tư duy kinh nghiệm hay tư duy logic là không thể vượt qua. Trường hợp còn lại là họ ý thức được rằng tư duy sáng tạo là cách để có bước nhảy vọt và vì vậy chủ động hướng tới nó.

Phân tích chỗ đứng của tư duy kinh nghiệm

Qua ví dụ ta thấy là tư duy kinh nghiệm cũng có chỗ đứng của mình. Thông thường khi nghĩ tới loại tư duy này ta hình dung ngay ra một bác già làm lâu năm trong công ty lúc nào cũng mang kinh nghiệm ra để làm cơ sở, cản trở mọi sự đổi mới. Thực tế là bất cứ ai trong chúng ta càng về già thì càng dựa nhiều vào tư duy kinh nghiệm vì theo lý đơn giản là mạnh cái gì thì dựa vào cái đấy.

Người trẻ vì chưa có kinh nghiệm nên họ không bị kinh nghiệm tri phối nhiều trong các quyết định của mình. Họ sử dụng nhiều tới tư duy logic để thu thập kinh nghiệm cho mình mà không phải trả giá vì nó. Như trường hợp của C, C không mất thời gian chạm lửa, cũng không bị bỏng. C thông qua tư duy logic phân tích thông tin nhận được từ nhiều nguồn khác nhau để tự nhận thức một thực tại khách quan mà không thông qua trải nghiệm trực tiếp. C không quá đa nghi, không quá ngây thơ và cũng chẳng quá cả tin.

Nhận thức của B sẽ không đầy đủ bằng A vì B không bị bỏng. Nhận thức của C có thể bị sai lệch quá nhiều do nhận thức qua nhận thức của người khác.

Đa nghi, Vô tư chỉ có được kinh nghiệm thông qua sai lầm. Họ sẽ không tận dụng được kinh nghiệm mà nhân loại, công ty, đồng nghiệp, bố mẹ, bạn bè đã tích lũy . Họ tiến chậm trên con đường gia tăng năng lực.

Ngây thơ là người cái gì cũng tin vì vậy như ông già đẽo cày giữa đường. Sai lầm của Ngây thơ là không sàng lọc những kinh nghiệm mà người khác truyền cho mình trước khi biến nó thành kinh nghiệm của mình. May mắn thì gặp được người có những kinh nghiệm đúng đỡ lưng, ngược lại thì sẽ nhẩy từ con đường này tới con đường khác và mãi không bao giờ tới đích.

Tư duy sáng tạo hướng tới sự đổi mới theo bước nhảy lớn. Tư duy logic hướng tới sự đổi mới từng bước rất nhỏ. Tư duy kinh nghiệm hướng tới sự ổn định và an toàn. Một nhóm làm việc nếu có đủ tối thiểu 3 thành viên theo 3 hướng tư duy khác nhau cộng với có niềm tin vào nhau thì không khó khăn nào không thể vượt qua.

Một cá nhân khó mạnh cả 3 loại nên cần biết tận dụng loại tư duy mà mình có thế mạnh để lựa chọn làm các công việc phù hợp tương ứng.

Chúng ta cũng cần phân biệt một số khả năng sau trong tư duy kinh nghiệm:

  • Khả năng tích lũy kinh nghiệm: là việc chúng ta tích lũy kinh nghiệm nhanh tới đâu. Thông thường kinh nghiệm sẽ tích lũy nhiều từ thất bại nhưng có người thất bại đi thất bại lại ở cùng một hoàn cảnh nhưng vẫn không rút ra được kinh nghiệm gì.
  • Khả năng sử dụng kinh nghiệm: Có kinh nghiệm rồi nhưng sử dụng không linh hoạt vì mỗi hoàn cảnh đều có những xáo trộn, không bao giờ giống y chang với hoàn cảnh cũ.

Do vậy một người có năng lực tư duy kinh nghiệm tới đâu phụ thuộc vào Khối lượng kinh nghiệm mà anh ta sở hữu và kỹ năng sử dụng kinh nghiệm đó. Khi anh ta càng lớn tuổi thì khối lượng kinh nghiệm ngày càng tăng lên nhưng kỹ năng sử dụng kinh nghiệm là yếu tố liên quan tới việc thực hành rèn luyện có thể không tăng tương ứng. Điều này dẫn tới việc là anh ta không xử lý được khối lượng kinh nghiệm đang nắm giữ một cách hiệu quả.

Ví dụ thực tiễn

Trên chương trình ” Đường đi của hạt giống” hôm qua tôi có xem một đoạn thì có 3 tình huống khởi nghiệp trong nông nghiệp như sau:

Trường hợp 1

Một bác nông dân miền tây trăn trở với việc tìm đầu ra cho sản phẩm Thanh Long, đặc biệt ở khâu chế biến sau thu hoạch. Bác cầm cố tài sản được 20 tỷ và mua công nghệ chế biến của Đức để làm thanh long dẻo. Sau khi có sản phẩm bác mới bắt đầu vác sản phẩm đi các siêu thị để chào mời. Kết quả là chẳng ai mua. Sai lầm của bác là không nghĩ tới đầu ra trước khi đầu tư.

Trường hợp 2

Anh thanh niên ở nông thôn trồng lúa không bón phân mà cũng chẳng phun thuốc để có được gạo sạch. Năng suất lúa của anh ta giảm phân nửa so với bình thường nhưng bán được gấp vài lần vì là gạo sạch. Sai lầm của anh là quan niệm về khái niệm gạo sạch khá ngây thơ vì đâu phải cứ sử dụng phân bón hóa học, chất diệt cỏ diệt sâu là bẩn.

Trường hợp 3

Một anh tri thức trăn trở với việc gia tăng giá trị cho cây lúa thông qua việc nghiên cứu cách sử dụng các phụ phẩm của gạo như trấu, cám, rơm. Sai lầm của anh là ôm cả chuỗi từ khâu nghiên cứu, sản xuất tới phân phối khiến cho nguồn lực không đủ.

Cả 3 đều rất tâm huyết, đều có ý tưởng hay nhưng đều dùng cách làm cũ theo kinh nghiệm áp dụng cho vấn đề mới.

Tư duy kinh nghiệm vốn là bậc tư duy thấp nhất trong 3 kiểu tư duy. Bất cứ ai cũng có được khả năng tư duy này vì nếu không thì họ đã không thể tồn tại. Ta chỉ có thể dựa vào nó để tránh lặp lại sai lầm chứ không thể dùng nó để xử lý các vấn đề mới mà thiếu đi hai kiểu tư duy còn lại.

Tư duy logic không phải ai cũng có nhưng dù sao có thể học được. Khó nhất là kiểu tư duy sáng tạo mà đây là kiểu tư duy rất cần trong thời buổi mọi thứ khó đoán định như hiện nay.

không tin và thử làm những gì A đã làm, kết quả là anh ta thu được kinh nghiệm cho riêng mình với cái giá phải trả như A.

Ngây thơ là người cả tin, anh ta lập tức tin A mà không nghi ngờ gì, kiến thức đó biến thành kinh nghiệm của Ngây thơ. Vô tư là người chẳng bao giờ chú tâm vào cái gì, anh ta quên ngay khi vừa nghe xong, một ngày đẹp trời nào đó anh ta vì lý do nào đó cũng chạm tay vào lửa và cũng sẽ có kinh nghiệm cho riêng mình.

Giá trị của tư duy kinh nghiệm đối với tiếp thị

Các “chuyên gia” về Marketing thường thảo luận về giá trị của tư duy kinh nghiệm, nhưng hiếm khi đưa ra bài diễn thuyết về nguồn gốc của khái niệm này và điều gì khiến nó trở nên có giá trị đối với hoạt động tiếp thị. Tôi tin rằng chúng ta càng biết nhiều về các chiến lược tiếp thị, thì chúng ta càng có khả năng thực hiện chúng tốt hơn. 

Tư duy Kinh nghiệm là gì?

Tư duy kinh nghiệm là một phần của lý thuyết tự kinh nghiệm – nhận thức hiện đại do Tiến sĩ Seymour Epstein đưa ra . , một giáo sư tại Đại học Massachusetts, Khoa Tâm lý học. Epstein gợi ý rằng mọi người vận hành bằng hai hệ thống riêng biệt để xử lý thông tin:

  • Hệ thống phân tích-hợp lý dựa trên xác nhận .
  • Hệ thống trải nghiệm trực quan dựa trên cảm xúc .

Những hình ảnh trên sẽ giúp giải thích. Hình ảnh đầu tiên là một ví dụ về phản ứng phân tích-hợp lý. Nó không có chất lượng cảm tính nhưng cho phép bạn phân tích và xác nhận các đường khâu trên mỗi inch, kết cấu của vải và màu nhuộm. Cần một lượng thời gian đáng kể để phân tích hình ảnh này cho mục đích đó. Hình ảnh thứ hai là cùng một bức ảnh nhưng được cắt khác nhau. Chú chó con rất có thể bắt đầu phản ứng cảm xúc ngay lập tức, và thậm chí có thể bạn đã nói to “aww” hoặc nói lên trong tâm bạn. Đó là bởi vì phần trực quan-trải nghiệm trong não của bạn đã làm tất cả công việc, và bạn không nhận ra điều đó bởi vì nó không có ý thức. Bức ảnh thứ ba là một ví dụ rõ ràng hơn về những suy nghĩ trực quan-kinh nghiệm và nó thậm chí có thể mang lại nụ cười trên khuôn mặt của bạn. Nếu bạn đã chụp bức ảnh hoặc là một cô bé, bạn sẽ trải qua một hình thức tư duy trực quan-trải nghiệm thậm chí còn mãnh liệt hơn, bởi vì trong bối cảnh trực tiếp, tất cả các giác quan của bạn sẽ được sử dụng để đánh giá bức ảnh.

Giá trị của tư duy trực quan-kinh nghiệm đối với tiếp thị

Thật dễ dàng để hiểu tại sao khái niệm tư duy trải nghiệm lại được các chuyên gia tiếp thị lựa chọn. Epstein tuyên bố rằng hệ thống trải nghiệm để xử lý thông tin là toàn diện, tự động, dựa trên cảm xúc, dàn xếp dựa trên cảm giác, hoạt động nhanh và chống lại sự thay đổi. Đây là tất cả các quá trình suy nghĩ diễn ra khi bắt đầu hành trình của khách hàng để bán hoặc kết thúc thành công. Đó là một phần của cuộc hành trình của các nhà tiếp thị; nghĩ đến các chương trình khuyến mãi, truyền thông xã hội, triển lãm thương mại, sự kiện và phát triển mối quan hệ.

Các quy trình tư duy hệ thống hợp lý thường được trải nghiệm ở cuối hành trình của khách hàng khi nỗ lực bán hàng sắp kết thúc; suy nghĩ đề xuất, trả lời phản đối và định giá. Tất nhiên, giống như mọi thứ trong cuộc sống, không có gì là tuyệt đối và hai quy trình có thể và làm chồng chéo lên nhau – để có một giải pháp tiếp thị/bán hàng thành công, cả hai đều cần thiết. 

Đó là tất cả về cảm xúc

Người ta có thể tranh luận rằng mọi thứ chúng ta làm là một trải nghiệm, và điều đó sẽ đúng, nhưng liệu mọi thứ có truy cập được vào hệ thống tư duy trực quan-kinh nghiệm của chúng ta không? Không, không, như tôi đã chỉ ra với những bức ảnh của cô gái nhỏ và con chó con của cô ấy. Ngoài ra, mỗi trải nghiệm có thể gợi lên những cảm xúc khác nhau. Đoạn video về một chú mèo con dễ thương trong lồng khiến hầu hết mọi người buồn bã, và một số người quyên góp dựa trên cảm xúc đó. Quảng cáo cho một chiếc xe sang có thể gây ra sự ghen tị hoặc nó có thể tạo ra cảm giác khao khát được sở hữu nó. Việc tham dự một sự kiện có thể khiến chúng ta vui, khiến chúng ta ngạc nhiên hoặc khiến chúng ta phấn khích. Tất nhiên, điều đó không có gì mới; các nhà quảng cáo có kỹ năng nhận thức rõ về tác động của cảm xúc và đã làm việc chăm chỉ để quyết định cảm xúc nào sẽ hoạt động tốt nhất để đưa khách hàng tiềm năng đi xa hơn trong hành trình của khách hàng. Tuy nhiên, những người khác lại thất bại trong việc tạo ra những thông điệp cảm xúc và những thông điệp này có xu hướng thất bại.

Ý thức về phương tiện

Phương tiện truyền thông là tất cả về các giác quan và do đó kiểm soát các kết quả do cảm xúc tạo ra. Thật hợp lý khi giả định rằng chúng ta càng tham gia nhiều giác quan vào sản phẩm sáng tạo của mình, thì phản ứng cảm xúc càng tốt và do đó, kết quả càng tốt. Bài nói chuyện của Jinsop Lee tại TED 2013 là một cuộc thảo luận tuyệt vời về lý do tại sao việc khơi gợi năm giác quan trong thiết kế lại ảnh hưởng đến kết quả.         Tôi khuyên bạn nên kiểm tra nó ra.

Một số phương tiện chỉ kích hoạt một hoặc hai giác quan, trong khi những phương tiện khác truy cập cả năm giác quan. Đó là lý do mà phương tiện truyền thông sử dụng tất cả các giác quan có thể gợi lên nhiều cảm xúc hơn, do đó làm cho chúng hiệu quả hơn. Điều đó nói lên rằng tất cả các phương tiện truyền thông đều có thể gợi lên những cảm xúc giúp ích cho khách hàng tiềm năng trên hành trình trở thành khách hàng của bạn.

  • Phương tiện truyền thống: Nói chung sử dụng thị giác và / hoặc thính giác để truyền tải thông điệp. Ví dụ bao gồm biển quảng cáo, quảng cáo trên báo in, quảng cáo trên TV và radio.
  • Phương tiện kỹ thuật số: Nói chung sử dụng thị giác và / hoặc thính giác để truyền tải thông điệp. Ví dụ bao gồm email, quảng cáo trực tuyến và video. Thực tế tăng cường là một nỗ lực để tăng cường kết nối cảm xúc của phương tiện truyền thông kỹ thuật số.
  • Truyền thông xã hội: Nói chung sử dụng thị giác và / hoặc thính giác để truyền tải thông điệp. Ví dụ bao gồm các bài đăng trên Twitter, Facebook, Linkedin và YouTube. Nhận xét thêm một kết nối cảm xúc có thể có.
  • Sự kiện trực tiếp: Có thể sử dụng cả năm giác quan: thính giác, xúc giác, thị giác, khứu giác và vị giác. Ví dụ bao gồm triển lãm thương mại, sự kiện tiêu dùng, hội họp, biểu diễn trực tiếp, tài trợ, phòng trưng bày và cửa sổ bật lên. Phương tiện truyền thông xã hội, kỹ thuật số và truyền thống có thể hỗ trợ các sự kiện trực tiếp, do đó cung cấp thêm cơ hội để khơi gợi cảm xúc. 

Giác quan, Cảm xúc, Sự đồng cảm

Kích hoạt cảm xúc của khách hàng tiềm năng bằng cách sử dụng các giác quan ảnh hưởng đến kết quả tích cực mà chúng ta tìm kiếm. Tuy nhiên, nếu không có sự hiểu biết vững chắc và sự đồng cảm với nhu cầu và mong muốn của khách hàng tiềm năng, rất khó để tạo ra những cảm xúc đó.

Mark Twain như người ta mong đợi từ một thợ từ nổi tiếng như vậy đã tóm tắt điều đó bằng một câu trích dẫn sáu tác phẩm đơn giản:

“Tất cả cảm xúc là không tự nguyện khi chân thật.”

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây