Tư Duy Hệ Thống

115

Trong thời đại khoa học kỹ thuật hôm nay, con người ngày càng có cơ hội được tiếp cận với thông tin một cách dồi dào và nhanh chóng. Khả năng nhận và phân tích thông tin lại càng quan trọng để đưa ra quyết định chính xác. Tư duy hệ thống là một phương pháp tư duy toàn diện và tổng thể để giúp chúng ta lựa chọn và xử lý thông tin nhằm đạt được kết quả hay mục tiêu mong muốn. Bài “ Tư Duy Hệ Thống” sẽ giúp nhận diện đâu là nguyên nhân và các ảnh hưởng tạo nên kết quả và cũng như các định luật cần lưu ý để giúp chúng ta tạo đạt được kết quả nhanh nhất và hiệu quả nhất. Đồng thời, chúng ta có thể đo lường được những ẩn số có thể xảy ra cho những hành động của chúng ta nhằm tránh được những hậu quả về lâu dài.

  1. Game đinh ghim và dây
  • Chia thành 5 đội chơi 
  • Thời gian chơi : 10 phút 
  • Dụng cụ: 1 tấm bảng, 4 đinh ghim và 1 sợi dây 
  • Đội nào tạo được hình vuông có 1 đường chéo lớn nhất và mất ít thời gian nhất sẽ chiến thắng. Trong thời gian quy định các đối sẽ di chuyển các đinh ghim và căng sợi dây để tạo ra hình vuông lớn nhất có thể. Lưu ý phải duy trì hình vuông và các điểm nối trong lúc di chuyển đinh ghim

Tham khảo https://www.youtube.com/watch?v=joB1_IH_23c (tham khảo sau khi chơi game)

  1. Hệ thống

1.1. Định nghĩa hệ thống

Là một nhóm các cấu phần độc lập, có quan hệ, có tương tác với nhau, tạo nên một toàn thể phức tạp và thống nhất. 

Hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động chi phối lẫn nhau theo các quy luật nhất định để trở thành một chỉnh thể (wiki).

Ví dụ: hệ mặt trời, bộ phận nghiên cứu triển khai trong tổ chức, hệ tuần hoàn trong thân thể, hệ thống sinh thái và hệ thống xã hội…

1.2. Phân loại hệ thống 

  1. Hệ thống nhân tạo: Là hệ thống do con người thiết lập như xe máy, ô tô, máy tính .v.v.
  2. Hệ thống sống: Là hệ thống tồn tại và phát triển bằng sự tự tổ chức và chịu tác động của môi trường như hệ thống xã hội, hệ thống môi trường.V.V.

1.3. 12 tính cách của hệ thống sống 

6 tính cách đầu được ứng dụng vào hệ thống mở như là một tổng thể, trong khi 6 tính cách còn lại được mô tả như hoạt động bên trong của hệ thống sống. 

Hệ thống tổng thể: Tính cách 1–6  

(1) Holism: Hệ thống sống là toàn bộ các thực thể với cùng 1 tính cách. Hệ thống là tập hợp những phần có liên quan đến nhau và tương tác theo 1 cách có tổ chức cho 1 mục đích.  

(2) Hệ thống sống vạch rõ ranh giới.  

(3) Hệ thống sống là các hệ thống mở.

(4) Hệ thống sống thay đổi từ đầu vào sang đầu ra. Công nông nghiệp = một bộ máy đơn giản Nông nghiệp sinh thái = tổ chức theo chu kỳ phức tạp  

(5) Hệ thống sống đòi hỏi có sự phản hồi để tiếp tục sự sống. VD: sự tiến hóa.  

(6) Hệ thống sống theo đuổi nhiều kết quả. 

Hoạt động bên trong của hệ thống: tính cách từ 7- 12  

(7) Hệ thống sống mô tả sự đồng nhất kết quả (cùng 1 kết quả nhưng có nhiều điều kiện ban đầu khác nhau và với nhiều cách khác nhau).  

(8) Hệ thống sống lệ thuộc vào entropy (sự tan rã một cách chậm rãi). Tuy nhiên, entropy có thể được chặn bởi các hệ thống mở.  

(9) Hệ thống sống có trật tự.

(10) Hệ thống sống là các phần có mối tương quan với nhau.  

(11) Hệ thống sống hướng tới sự cân bằng tự nhiên.  

(12) Hệ thống sống là sự chế tạo tự nhiên từ bên trong dẫn tới một sự phức tạp lớn hơn.

1.4. Tính chất của hệ thống bắt buộc hình thành tư duy hệ thống 

Từng bộ phận không thể quyết định tình chất của hệ thống. Ví dụ: khi sờ vào chân con voi sẽ tạo cảm giác như đang sờ vào thân cây, không thể nhận biết là đang sờ vào con voi khi không được nhìn thấy

Trong các hệ thống phức tạp, nguyên nhân và hậu quả thường có một khoảng cách về không gian và thời gian. Chúng ta có thể hành động vì cái lợi ngắn hạn và chi phí dài hạn.

Giải pháp cho một vấn đề có thể gây ra một vấn đề khác (kết quả không mong muốn). Ví dụ: ”cuộc cách mạng xanh” trong kỹ thuật nông nghiệp được giới thiệu vào châu Á những năm 1960 như là một giải pháp an toàn lương thực. Nhiều thập kỷ sau đã chứng minh sự thiệt hại vì mất sự đa dạng sinh học, gia tăng việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, đốn gỗ, làm cho đất nhiễm mặn và bạc màu

Hình tảng băng của các mối quan hệ là một công cụ đơn giản khám phá những điều phức tạp và nguyên nhân sâu xa của một hành vi. Khi nhìn từ bên trên, ta chỉ thấy được bề mặt của tảng băng hoặc các events mà không thấy được cấu trúc hay bản chất sâu xa dưới mặt nước đóng băng đó.

Càng hối thúc thì hệ thống càng chùn lại. Ví dụ: nhiều công ty thình lình mất khách hàng trên thị trường. Họ tiếp thị và chi tiền cho quảng cáo nhiều hơn nhưng quên đi việc nâng cao chất lượng dịch vụ phải đi song song. Về sau, công ty sẽ lại tiếp tục mất khách hàng mặc dù đã chi rất nhiều tiền

Nhanh hơn chính là chậm hơn Ví dụ: các hệ thống từ thiên nhiên đến con người và tổ chức có tốc độ tăng trưởng tối ưu bên trong. Khi tăng quá nhanh, giống như bệnh ung thư, thì chính hệ thống đó sẽ tự cân bằng lại; có thể dẫn đến sự nguy hiểm đến sự tồn tại của tổ chức.

1.5. Quá trình phát triển của tư duy hệ thống

Nhận thức về khoa học → Tư Duy Cơ Giới → Khoa Học Hệ Thống → Tư Duy Hệ Thống 

— Mức độ tăng dần của sự hỗn độn và phức tạp → 

1.5.1. Nhận thức khoa học (TK 6 trước CN – TK 16) 

Hy Lạp Cổ – TK 6 trước CN: 

  • Đặt câu hỏi có chủ định để tìm hiểu tính chất cơ bản của vũ trụ 
  • Tìm câu trả lời mà không cần viện yếu tố thần linh • Hệ thống hình thức cho việc tìm hiểu các chứng minh

Aristote – TK 4 trước CN 

  • Suy diễn logic: qua quan sát và kinh nghiệm, rồi dùng quy nạp để thu được các tri thức để hiểu bản chất của sự việc. Hệ thống hình thức của logic làm cơ sở của phương pháp suy luận và chứng minh cho ngành sinh học, vũ trụ học,.v.v 
  • Suy nghĩ định tính: hiểu biết về bản chất của sự vật do sự tham gia tích cực của tự nhiên thông qua những mối liên hệ giữa vật chất, tinh thần, trí tuệ

1.5.2. Nhận thức khoa học (TK 6 trước CN – TK 16) 

Galilei – 1609  

  • Lý thuyết Copernicus “quả đất quay quanh mặt trời”: khẳng định bằng quan sát thực nghiệm sử dụng kính viễn vọng 
  • Lý thuyết nguyên nhân chuyển động là do các lực tác động => khái niệm gia tốc, vận tốc, thời gian, khoảng cách,.v.v. 

Newton 

  • Luật hấp dẫn của vũ trụ 
  • Định luật chuyển động 
  • Phép tính vi phân, tích phân

1.5.3. Tư duy cơ giới (TK 17 – TK 19) 

Descartes – TK 17: 

  • Tách vật chất ra khỏi tinh thần, trí tuệ, xem tự nhiên như là một bộ máy. Bộ máy sau này là cá thể sống và các hệ thống kinh tế, xã hội 
  • Đối với đối tượng là bộ máy phức tạp, phân tích ra thành phần đơn giản hơn rồi làm ngược lên các bậc cao hơn 

Pascal: 

  • Chân lý cảm nhận bằng cái tâm và những chân lý thu được bằng suy luận. Chân lý là có 3 chiều trong không gian, các con số là vô hạn,.v.v.. Sẽ vô ích nếu suy luận đòi hỏi cái tâm chứng minh cho những nguyên lý mà mình có được.
  • Quan điểm phân tích: không thể biết bộ phận mà không biết toàn thể, lại càng không thể biết toàn thể mà không biết các bộ phận

1.5.4. Tư duy cơ giới (TK 17 – TK 19) 

Laplace – 1814: 

Một trí tuệ, nếu ở một thời điểm nào đó biết tất cả các lực mà tự nhiên chịu tác động và biết vị trí tương ứng của các thực thể tạo nên nó, ngoài ra có đủ khả năng phân tích tất cả các số liệu đó theo cùng một công thức chuyển động cho các vật thể vũ trụ cũng như các nguyên tử bé nhỏ; thì đối với trí tuệ đó chẳng có giá trị bất định, cả tương lai cũng như quá khứ đều hiện rõ trước mắt

Ảnh hưởng của tư duy cơ giới trong lịch sử phát triển của nhận thức:

  • Nguyên lý và định luật trong tư duy cơ giới dẫn đến phát minh kỹ thuật công nghệ, máy móc 
  • Giúp vượt ra sự hạn chế của các phương pháp quan sát và mô tả quen thuộc để tiếp cận khả năng được lý thuyết hoá và phát triển các công cụ của suy luận diễn dịch 

1.5.4. Khoa học hệ thống (TK 19 – TK 20) 

Poincare’ – TK 19 

Khảo sát hành vi chuyển trạng thái của hệ động lực và phát hiện ra rằng hành vi này rất bất thường, hỗn độn, và có ngẫu nhiên. Ví dụ: sự chuyển động hỗn độn của phân tử khí

⇒ Trật tự của toàn thể: ở cấp độ toàn thể là có trật tự dù rằng ở cấp độ phân tử thì thể hiện trước mắt là hỗn độn, vô trật tự. Ví dụ: một nền kinh tế bao gồm hàng triệu người sản xuất và tiêu dùng. Cho nên, “để hiểu toàn thể thì phải hiểu phần tử” là không còn hợp lý 

Einstein – TK 19 

Thuyết tương đối: mối quan hệ giữa khối lượng và vận tốc, giữa khối lượng và năng lượng, giữa không gian, thời gian và vật chất.  

⇒ Loại bỏ ảo tưởng về một không gian tuyệt đối và thời gian tuyệt đối của tư duy cơ giới.

Tính chất của khoa học hệ thống 

  • 1. Tính vượt trội (emergence): Đặc trưng toàn thể tạo nên và phát triển từ phức hợp của những quan hệ tương tác bên trong của hệ thống với môi trường bên ngoài 
  • 2. Phi tuyến: Chứa các quan hệ không tuyến tính, làm cho hệ thống không qui giản được về một tổng gộp đơn giản của các thành phần, có những hành vi không ổn định, không tiên đoán được, .v.v. => Những hỗn độn này có khả năng tự tổ chức để chuyển sang một trật tự mới có tính tổ chức cao hơn

1.5.5. Tư duy hệ thống 

Thế giới của tự nhiên và cuộc sống vốn phức tạp. Các nhà hiền triết Ðông Tây cổ xưa đã tìm cách thâm nhập vào cái phức tạp đó bằng một thứ năng lực phát hiện mang tính trực cảm trí tuệ, và đã sáng tạo nên những triết thuyết đầy trí tưởng tượng huyền bí, chứa nhiều ý tưởng sâu sắc, được củng cố bởi niềm tin mà không phải va chạm với thử thách của những thực nghiệm mà thời đó chưa có. Rồi kỷ nguyên của khoa học “hiện đại” đã tới, với việc phát hiện các định luật của tự nhiên và với các phương pháp thực nghiệm. Khoa học loại bỏ những gì không qua được thử thách của thực nghiệm và không suy ra được từ các định luật. Nhưng định luật chỉ cho ta biết một số quan hệ đã được qui giản, thực nghiệm cũng chỉ cho phép thử lại một số tương tác giản đơn, và để hiểu các hiện tượng phức tạp ta tìm cách phân tích nó thành ra một số lớn các bộ phận thuần nhất với những tương tác đơn giản.

Nhưng rồi, như lời triết gia A.N.Whitehead, “tự nhiên không đến với ta sạch sẽ như ta nghĩ về nó”, và khoa học, trong tinh thần qui giản của cơ giới luận, với việc “làm sạch” tự nhiên đó đã “hất đổ cả đứa bé cùng với chậu nước tắm”! Ta trở lại đối mặt với một tự nhiên như nó vốn có, đầy phức tạp, bí ẩn, rất hỗn độn, ngẫu nhiên, mà dường như vẫn được an bài trong những trật tự siêu nhiên nào đó. Cũng khởi đầu từ thế giới vật chất (những vấn đề của thế giới vi mô và của vũ trụ), nhưng rồi nhu cầu nhận thức cái phức tạp bản chất đó đã nhanh chóng lan sang mọi lĩnh vực khác của cuộc sống đời thường, của sinh học, của kinh tế, chính trị, xã hội. Thiên nhiên và cuộc sống có những đối tượng cũ đòi hỏi những nhận thức mới, nhưng cũng có rất nhiều những đối tượng đã qua nhiều biến động và phát triển mới (đặc biệt trong kinh tế, xã hội) lại càng đòi hỏi những nhận thức mới mà ta không còn có thể giữ mãi cách nhìn cũ, cách hiểu cũ của tư duy cơ giới. 

Phức tạp, trước hết là không thể qui giản về, hoặc phân tích thành, những cái đơn giản. Phức tạp là trong cái toàn thể không thể tách chia được. Hiểu cái phức tạp là phải hiểu hệ thống trong tính toàn thể của nó. Tư duy hệ thống là cách tư duy theo tinh thần đó. Tư duy hệ thống có cơ sở là khoa học hệ thống, nhưng không đồng nhất với những thành tựu đã đạt được của khoa học hệ thống. Như trình bày sơ lược trong phần trên, khoa học hệ thống được phát triển chưa lâu, nó đã phát hiện nhiều vấn đề, đã hé mở nhiều con đường tìm kiếm nhưng chưa phải đã có được cách lý giải khoa học cho mọi vấn đề được đặt ra. Tư duy hệ thống hiện đại, vận dụng những tư tưởng và thành tựu của khoa học hệ thống, đồng thời cũng tiếp thụ những tinh hoa trong các dòng tư duy truyền thống, nhằm hình thành và phát triển một cách nhìn mới, một cách nghĩ mới, và từ đó, một cách xử sự mới, trước những phức tạp của thiên nhiên và cuộc đời.

Nhìn chung, System thinking hay còn gọi là tư duy hệ thống, là một cách tiếp cận vấn đề bằng cách xem xét vấn về đó như một phần của một hệ thống tổng thể, thay vì chỉ nhìn và giải quyết vấn đề đó một cách độc lập và riêng lẻ.

Tư duy hệ thống là quan điểm nhìn nhận thế giới khách quan trong một thể thống nhất không thể tách rời, mà ở đó tất cả các đơn vị, yếu tố cấu thành, các hiện tượng cơ bản sinh ra từ chúng đều có mối liên hệ, tác động qua lại với nhau trong cái tổng thể.

1.6. Đặc điểm

Ðặc điểm chủ yếu của tư duy hệ thống là ở cách nhìn toàn thể và do cách nhìn toàn thể mà thấy được những thuộc tính hợp trội của hệ thống. Các thuộc tính hợp trội là của toàn thể mà từng thành phần không thể có. Tình yêu, hạnh phúc, thành đạt,… là những thuộc tính của một con người trong toàn thể, chứ không thể là của một bộ phận nào trong con người đó. Cũng vậy, dân chủ, bình đẳng,… là thuộc tính của một xã hội, chứ không thể là thuộc tính của từng con người trong xã hội đó. Hợp trội là sản phẩm của tương tác, qua tương tác mà có cộng hưởng tạo nên những giá trị cao hơn tổng gộp đơn giản các giá trị của các thành phần. Ðể tạo nên được những thuộc tính hợp trội có chất lượng cao của hệ thống, thì phải can thiệp vào các quan hệ tương tác, chứ không phải vào hành động của các thành phần. Ðồng thời cũng cần chú ý là trong tiến hoá, qua việc tham gia tương tác các thành phần góp phần tạo nên những tính chất hợp trội của hệ thống, nhưng mặt khác, chính những tính chất hợp trội đó của hệ thống cũng làm tăng thêm phẩm chất của các thành phần.

Trong các hệ thống thực tế, có nhiều loại tương tác khác nhau, có những tương tác qua trao đổi vật chất và năng lượng như trong các hệ vật lý, có những tương tác chủ yếu là qua trao đổi thông tin (và tri thức) như trong các hệ văn hoá-xã hội ; các tương tác phải được mô tả bằng một thứ ngôn ngữ nào đó, như các mô hình toán học, mô hình lôgích, mô hình thông tin và cybernetic (với các quan hệ vào-ra và các vòng phản hồi), mô hình văn hoá-xã hội (với các quan hệ được mô tả một cách định tính), v.v… Hệ thống có các tương tác bên trong, nhưng khác với các hệ kín thường được xét đến trong cơ học và vật lý, các hệ thống thực tế trong sinh học, sinh thái, kinh tế và xã hội hầu hết là các hệ mở, nghĩa là có các tương tác với bên ngoài, với môi trường. Hành vi của một hệ mở chỉ có thể hiểu trong bối cảnh các tương tác với môi trường đó. Ðể “quản lý” một hệ thống phát triển, điều hết sức quan trọng là phải hiểu được các mối tương tác với môi trường, và cần nhớ rằng trong môi trường có những yếu tố ta điều khiển được, nhưng có rất nhiều yếu tố mà ta không thể điều khiển được. Tài năng của người lãnh đạo hay quản lý là ở chỗ trên cơ sở những hiểu biết tích luỹ được mà điều khiển tốt những gì điều khiển được, gây ảnh hưởng đến những gì mà mình không điều khiển được, và cố cảm nhận những gì mà mình cũng không gây ảnh hưởng được. 

Tính có mục tiêu cũng là một đặc điểm rất quan trong của các hệ thống phức tạp. Có mục tiêu, chứ không phải có mục tiêu biết trước, được xác định từ đầu. Có thể có một mục tiêu, mà cũng có thể có nhiều mục tiêu đồng thời. Vì hệ là mở, hoạt động trong môi trường, nên muốn đạt mục tiêu của mình cũng cần biết mục tiêu của người, của các đối tác. Biết để cố “gây ảnh hưởng đến những gì mà mình không điều khiển được”. Mục tiêu của đối tác, nói dễ hiểu, là cái mà đối tác thích. Mà cái thích của con người thì không phải bao giờ cũng dễ hiểu. Có cái thích hợp lẽ, ta có thể hiểu bằng những suy luận duy lý. Có những cái thích theo cảm hứng, lại có những cái thích theo thị hiếu phù hợp với một văn hoá nào đó, ta không thể dùng lý lẽ lôgích mà hiểu được. Không thể áp đặt cái thích của mình cho người, không thể suy bụng ta ra bụng người ; mà phải bằng trực cảm tế nhị và nghiên cứu công phu để hiểu được cái lẽ tại sao mà họ làm những việc họ làm, họ thích những cái họ thích, từ đó cảm nhận được lý do mục tiêu của những đối tác trong môi trường, rồi tuỳ đó mà xác định các giải pháp thích nghi của mình. Các lý thuyết điều khiển tối ưu, lý thuyết trò chơi,… thích hợp cho một số lớp các hệ có mục tiêu khá đơn giản; ngày nay, “điều khiển” trong các hệ thích nghi phức tạp với nhiều tác tử (agents) là một loại bài toán rất có ý nghĩa thời sự, nhưng khó được giải quyết chỉ bằng các phương pháp hình thức, và hẳn sẽ cần nhiều cách tiếp cận mới để nghiên cứu.

Tính đa chiều (multidimensionality), hay cũng gọi là đa thứ nguyên, là một đặc điểm cốt yếu của tư duy hệ thống. Trong thế giới mà ta đang sống, trong các hệ thống của tự nhiên và xã hội luôn luôn tồn tại những khuynh hướng đối lập nhau, những xu thế trái ngược nhau; có những đối lập dẫn đến đối kháng cực đoan đòi hỏi một mất một còn, nhưng đó không phải là phổ biến, mà phổ biến là các khuynh hướng đối lập không loại trừ nhau, chung sống và tương tác với nhau bằng đấu tranh và thoả hiệp, tạo nên một quan hệ bổ sung, một trạng thái mới với những chất lượng mới cho phát triển. Ngày xưa, Lão tử viết trong Ðạo đức kinh: “thiên hạ đều biết tốt là tốt, thì đã có xấu rồi ; đều biết lành là lành, thì đã có cái chẳng lành rồi ; Bởi vậy, có với không cùng sanh, khó và dễ cùng thành, dài và ngắn cùng hình, cao và thấp cùng chiều, …”13. Phép biện chứng và tư duy hệ thống nói rõ hơn, không chỉ về cái lẽ cùng tồn tại của các thuộc tính đối lập, mà còn cả về sự tương tác của các mặt đối lập, sự chuyển hoá giữa các mặt đó với nhau, để sáng tạo nên những chất lượng cao hơn trong quá trình phát triển của các hệ thống. Theo nhà điều khiển học Ackoff, “các phần không chấp nhận được riêng rẽ có thể tạo nên một toàn thể chấp nhận được”14. Chẳng hạn, riêng kỷ luật hay riêng tự do không tạo thành một xã hội tốt, nhưng trong một xã hội lành mạnh, vừa có kỷ luật, vừa có tự do.

Tất nhiên, đa chiều không nhất thiết là có đối lập. Ða chiều là có nhiều cái khác nhau, nhiều cách nhìn, cách hiểu khác nhau về một đối tượng. Quan điểm đa chiều trong tư duy hệ thống còn là sự cố gắng phát hiện cái giống nhau trong những cái khác nhau, và cái khác nhau trong những cái giống nhau. Tìm cái giống nhau trong những cái khác nhau là khoa học, hướng tới cái phổ biến, cái có tính qui luật ; tìm cái khác nhau trong những cái giống nhau là nghệ thuật, hướng tới những phong cách riêng, sắc thái riêng của cảm thụ. Cả hai đều cần thiết và bổ sung cho nhau để sáng tạo nên những chất lượng phong phú mới của cuộc sống.

Ða chiều cũng là một cách nhìn nhiều mặt, nhiều cấp độ khi tìm hiểu các hệ thống. Một lý thuyết về một loại hệ thống nào đó bao giờ cũng phản ánh một cách hiểu nhất định về từng mặt và từng cấp độ khi xem xét nó. Cần hết sức tránh việc áp đặt một lý thuyết cụ thể nào xem là chân lý tuyệt đối về các hệ thống đó, mà nên xem mỗi lý thuyết đều có những giới hạn giải thích nhất định. Ðặc biệt, đối với các hệ thống kinh tế và xã hội, nhiều lý thuyết trước đây được xây dựng theo các mô hình cơ giới, tất định, đã không còn thích hợp với sự phát triển hiện đại, cần được xem xét lại theo quan điểm đa chiều nói trên

“Thiên hạ đều biết là tốt, thì đã có xấu rồi; đều biết là lành, thì đã có cái chẳng lành rồi;Bởi vậy, có với không cùng sanh, khó và dễ cùng thành, dài và ngắn cùng hình, cao và thấp cùng chiều” -Lão Tử trong Đạo Đức Kinh-

Những điều trình bày kể trên về tư duy hệ thống có thể góp phần giúp ta có một cách nhìn mới, một cách nghĩ mới về các hệ thống phức tạp. Có những điều đã có căn cứ khoa học rõ ràng, nhưng cũng còn nhiều điều  chưa có những lý giải khoa học đủ sức thuyết phục. Khoa học ngày nay đang cố mở rộng khả năng cho những phương pháp nghiên cứu của mình để bao quát thêm những chân trời mới của nhận thức. Nhưng có giới hạn nào đó cho khoa học hay không? Từ năm 1936, Max Planck, nhà vật lý sáng lập cơ học lượng tử, đã viết: “Khoa học […] có nghĩa là một sự cố gắng không mệt mỏi và một sự phát triển tiến bộ liên tục nhằm hướng tới một mục đích mà trực giác thơ mộng có thể nắm bắt được nhưng trí tuệ không bao giờ có thể hiểu thấu hoàn toàn”. Cái phức tạp, đa dạng và cực kỳ phong phú của thiên nhiên và cuộc sống, trải qua nhiều thế kỷ trước khi được nhận thức bằng khoa học đã được con người cảm nhận qua trực giác và thể hiện bằng ngôn ngữ của thơ ca, âm nhạc, hội hoạ, của nghệ thuật nói chung. Và giờ đây, sau mấy thế kỷ khoa học được phát triển như một công cụ chủ yếu của nhận thức thế giới, dù khoa học đã mạnh hơn bao giờ hết, nhưng chính vì rất mạnh mà tự hiểu được những hạn chế của mình, nên lại cần đến sự hỗ trợ của nghệ thuật để nắm bắt những cái mà mình không thể hiểu thấu hoàn toàn. Phải chăng đây là lúc cả khoa học và nghệ thuật đã cùng đạt đến trình độ chín muồi để mà không còn tách bạch, phân chia, để mà liên kết hỗ trợ nhau cùng giúp con người thấu hiểu và cảm nhận được mọi vẻ đẹp phong phú cũng như mọi biến hoá phức tạp của tự nhiên và của cuộc đời.

1.7. Các hình thức tư duy của tư duy hệ thống 

  1. Tư duy theo môi trường hoặc theo bối cảnh: tư duy trong các mối liên quan. 
  2. Tư duy theo mạng lưới: nhấn mạnh vào mối tương quan giữa các vật thể hơn là từng vật thể tách rời. Những chất xúc tác nhỏ có thể gây ra sự thay đổi lớn trong hệ thống. => Tư duy hệ thống khuyến khích sự giao tiếp có tổ chức ở mọi cấp độ. 
  3. Tư duy theo quá trình: tập trung vào các quá trình hơn là kết quả của một cách quản lý. Mỗi một cấu trúc được nhìn nhận như là sự biểu thị của các quá trình cơ bản. => Nếu chúng ta muốn thay đổi kết quả, trước tiên chúng ta nên thay đổi các quá trình dẫn tới kết quả đó. => Di chuyển trọng tâm từ các biểu hiện và hành vi (những triệu chứng của vấn đề) sang cấu trúc hệ thống và các kiểu tinh thần bên trong
  4. Tư duy tổng thể: mở rộng vòng hiểu biết sang các mối quan hệ tồn tại giữa các sự vật. => Chiến lược nắm vững những điều phức tạp.
  5. Tư duy ngược: bao gồm các bài test và nhiều câu hỏi để tìm ra căn nguyên của vấn đề. => Điểm chính để biết được tư duy hệ thống bắt đầu từ đâu

1.8. Định luật cần nhớ  

Từng bộ phận không thể quyết định tính chất hệ thống  

Nguyên nhân và hậu quả thường cách nhau một khoảng không gian và thời gian  

Giải pháp của một vấn đề có thể tạo ra một vấn đề khác  Sự kiện chỉ là kết quả phản ứng của cấu trúc hay bản chất của hệ thống  

Cái giống nhau trong những cái khác nhau là khoa học; tìm cái khác nhau trong giống nhau là nghệ thuật hướng tới cái phong cách riêng.  

Không thể áp đặt mục tiêu của mình cho người khác. 

Hiểu mục tiêu của đối tác để “gây ảnh hưởng đến cái mà mình không thay đổi được”  

Nhanh hơn chính là chậm hơn

1.9. Đổi mới tư duy: Ðôi mắt mới cho cuộc thám hiểm mới

Ta đã lược qua một số nét chính trong quá trình phát triển tư duy, và hy vọng rằng qua việc trình bày đó ta cũng đã hình dung được phần nào yêu cầu đổi mới tư duy trong việc nhận thức thực tiễn hiện nay. Từ vài thập niên gần đây, người ta nói nhiều đến sự cáo chung của tất định luận, của qui giản luận, sự kết thúc của cái chắc chắn, v.v…, với ý nghĩa đòi hỏi kết thúc sự thống trị độc tôn của tất định luận, qui giản luận, của quan niệm về tính chân lý chắc chắn (certainty) của các qui luật,…, nói gọn lại là của tư duy cơ giới trong khoa học. Niềm tin vào tính đúng đắn tuyệt đối của tri thức khoa học bị lung lay, và càng ngày ta càng nhận thấy là thực tế vô cùng phức tạp, các mô hình khoa học mà ta sử dụng cho thực tế là quá sơ lược và đơn giản, các phương pháp khoa học mà ta đã có là bất cập trong việc nhận thức bản chất của cái phức tạp muôn màu muôn vẻ của thực tế. 

Và từ đó nhận thức của con người lại phải bắt đầu một hành trình thám hiểm mới, và ta có thể mượn lời của nhà văn Pháp Marcel Proust (trong La Prisonnière), “một cuộc thám hiểm thật sự… không ở chỗ tìm kiếm những vùng đất mới mà ở chỗ có những đôi mắt mới”. Cũng là những vùng đất cũ, cũng là thiên nhiên và cuộc sống ấy, nhưng cần được thám hiểm mới bằng những đôi mắt mới của trí tuệ và tâm thức con người. Phải chăng tư duy hệ thống với cách nhìn hệ thống đang góp phần quan trọng giúp ta có được đôi mắt cần thiết đó? Sẽ còn nhiều thời gian phía trước cho ta tiếp tục xác định những phẩm chất gì là cần phải có cho đôi mắt mới, nhưng ta cũng có thể đồng tình xem tư duy hệ thống – như đang được tiếp tục phát triển và hoàn thiện – là những phẩm chất cốt yếu cho đôi mắt mới đó.

Nhưng, đổi mới tư duy với tư duy hệ thống có nhất thiết là phải từ bỏ tư duy cơ giới với những tất định luận, qui giản luận, với phương pháp phân tích, với lập luận nhị nguyên,…? Dù cách diễn đạt có thể nặng nhẹ khác nhau, nhưng tôi nghĩ rằng yêu cầu từ bỏ là từ bỏ cái địa vị độc tôn duy nhất của tư duy cơ giới và của các phương pháp “khoa học” trong phạm trù của tư duy đó, còn việc dùng tư duy hệ thống không những không loại bỏ việc vận dụng các phương pháp nhận thức đó, mà trái lại, còn yêu cầu các phương pháp đó phải được phát triển và tăng cường thêm bằng cách sử dụng các ý tưởng và công cụ của khoa học và công nghệ hiện đại. Tư duy hệ thống sẽ càng sắc bén thêm, sâu sắc thêm, nếu khoa học hệ thống được phát triển mạnh mẽ, cung cấp thêm nhiều căn cứ xác đáng. Mà khoa học hệ thống, thì dù có được phát triển trong cách nhìn hệ thống, có sử dụng nhiều loại mô hình khác nhau không nhất thiết là toán học, có vận dụng kết hợp các tính toán định lượng với các lập luận định tính,… cũng vẫn phải dùng các mô hình qui giản, các phương pháp phân tích và các lập luận lôgích nhị nguyên, dựa vào các “qui luật” tất định, ngay cả khi nghiên cứu cái bất định cũng thực chất là nghiên cứu các luật tất định về các hiện tượng bất định đó. Chỉ có điều là khi vận dụng các khái niệm, mô hình và phương pháp đó, ta phải luôn nhớ rằng đó chỉ là những sản phẩm giản lược của nhận thức, những cái xấp xỉ, gần đúng của thực tế, có thể là thích hợp cho việc nhận thức một số đối tượng và quá trình tương đối đơn giản nào đó, ở một số thành phần và về một số mặt nhất định, chứ khó có thể giúp ta nhận thức được thực tế trong cái toàn thể phức tạp của nó. Và vì vậy, từ bỏ vai trò độc tôn của tư duy cơ giới cũng sẽ cho phép ta không đồng nhất bất kỳ một lý thuyết nào với chân lý, bất kỳ lý thuyết nào cũng có thể bị bác bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung bằng những giả thuyết mới mỗi khi gặp mâu thuẫn với thực tế.

Ðổi mới tư duy với tư duy hệ thống cũng còn có nghĩa là trên cơ sở khoa học hiện đại mà tiếp thu những quan điểm về nhận thức của các triết thuyết truyền thống, kết hợp các tri thức khoa học với các tri thức thu được bằng trực cảm, kinh nghiệm ; kết hợp các khả năng lập luận khoa học và cảm thụ nghệ thuật ; tìm kiếm sự thấu hiểu của chúng ta bằng lý lẽ và cả bằng những xúc động tâm hồn ; bằng ngôn ngữ của những công thức, những luận giải, và cả bằng “ngôn ngữ” trực tiếp của tai nghe, mắt nhìn, nhìn vào hình ảnh màu sắc và cả “nhìn” sâu, “nhìn” xa bằng tưởng tượng của trực cảm trí tuệ và tâm thức. Và không chỉ kết hợp mà còn là bổ sung cho nhau, nâng cao năng lực của nhau. Càng có nhiều tri thức thì càng có nhiều trí tưởng tượng, và ngược lại càng giàu tưởng tượng thơ mộng thì sẽ càng nảy sinh nhiều ý tưởng bất ngờ cho sáng tạo khoa học. Ngày nay, người ta bắt đầu nói nhiều về vai trò quan trọng của loại tri thức tiềm ẩn (tacit knowledge) trong đời sống thực tế, và đã có những nghiên cứu cho biết là những loại tri thức này có đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế tri thức hiện đại 20. “Một thứ nguyên tâm hồn cho nhận thức”, như E. Lazlo đề xuất, đã là một yêu cầu thực sự cho các nghiên cứu hiện đại về nhận thức ngày nay.

Questionnaires:

  1. Tư duy hệ thống là gì?
  2. Một hệ thống có chịu tác động từ bên ngoài hay không? Cho ví dụ?
  3. Sự kiện có thể hiện được cấu trúc hay bản chất của hệ thống?
  4. Hậu quả hay hệ quả có hoàn toàn xảy ra tức thì sau nguyên nhân cho tất cả các trường hợp? Cho ví dụ?
  5. Một hệ thống có các đầu vào giống nhau có tạo ra kết quả giống nhau?
  6. Kết quả đồng nhất có phải do điều kiện ban đầu và cách thức giống nhau?
  7. Hiểu được tính chất của từng bộ phận có giúp hiểu được tính chất tổng thể của hệ thống hay không?
  8. Nhìn tổng thể hay nhìn từng bộ phận sẽ phức tạp hơn?
  9. Khi nghĩ về kết quả của 1 hệ thống hay quá trình, chúng ta cần tập hợp những yếu tố gì?
  10. Tối ưu hóa 1 bộ phận của hệ thống có tối ưu hóa được hệ thống?

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây