Tư Duy Đa Chiều (Bao Gồm Tư Duy Ngược)

135

bài 1

Tư duy đa chiều và tầm quan trọng của nó

Tư duy đa chiều là cái gì đó mà học sinh không hề được dạy. Đa số họ như những cái máy chia làm 2 loại:

– Loại thứ nhất người ta nói gì nhồi vào cho thì mặc định nó là nhất, không thể thay đổi tư duy cố hữu.

– Loại thứ 2 có khá hơn chút thì có suy nghĩ, nhưng luôn nhìn nhận mọi thứ theo 1 chiều hướng xác định, khi được tác động theo hướng nào đó có thể sẽ thay đổi nhưng sau khi thay đổi sẽ nghiêng hoàn toàn về hướng suy nghĩ mới mà không tự định hình được nhiều khía cạnh song song mà vốn là bản chất của bất cứ sự việc nào dù là nhỏ nhất.

1- Tư duy đa chiều là gì?

Tư duy đa chiều được hiểu đơn giản là cách suy nghĩ/đánh giá sự vật/hiện tượng 1 cách bình tĩnh dưới nhiều góc độ, nhiều luồng tư duy để thấy được mọi tác động của nó cả về lý thuyết lẫn thực tế xã hội là đúng/sai, đẹp/xấu, hay/dở … ra sao. Từ đó chúng ta mới có thể dùng năng lực của mình để phán đoán, đánh giá vấn đề một cách khách quan, cặn kẽ nhất.

Ngoài ra, tư duy đa chiều còn phải có sự phân luồng hợp lý, minh bạch để cái nhìn luôn được khách quan nhất có thể vì thực tế trên thế giới này không có con người nào là khách quan 100% cả, nếu có thì ta phải quay ngược lại câu hỏi “có đúng anh ta là người?” hay là 1 con robot?

Tư duy đa chiều và tầm quan trọng của nó

2. Tư duy đa chiều và tầm quan trọng của nó.

Ở Việt Nam, tư duy đa chiều là cái gì đó mà nhiều người còn thiếu. Thậm chí có một số người khi đã hình thành “hệ thống tư tưởng cá nhân” rồi thì khi đứng trước sự vật/hiện tượng họ khó lòng thay đổi tư duy cố hữu, thường nhìn nhận mọi thứ theo một chiều hướng xác định.

Những người có tính cách thế này, rất dễ trở thành nạn nhân của truyền thông kền kền, rất dễ bị chúng định hướng và dắt mũi. Tôi thì rất không mong muốn bạn bè, anh em của mình bị đính hướng, nên thật sự mong mọi người nên có tư duy đa chiều để đánh giá vấn đề.

Nhắc lại chuyện xưa. Ví như câu chuyện tuyết rơi trắng trời ở Sapa những mùa trước, phượt thủ thì sung sướng đê mê, dân ở đấy thì khổ, thậm chí có bạn nào đấy đã viết hẳn bài: Mẹ ơi chú ý đàn bò, “họ” còn cầu tuyết rơi nữa đấy. Nhưng cô nàng này không biết rằng, dân Sapa được hưởng lợi rất lớn từ tuyết rơi trắng trời, một mùa bội thu về Du lịch.

Chúng ta cần có cái nhìn đa chiều để đánh giá vấn đề cặn kẽ và nghiêm túc. Nên nhớ, đôi khi hạnh phúc của người này là tai họa của người khác. Cái quan trọng ta phải tỉnh táo, có cái nhìn cảm thông và bao dung hơn, đừng bao giờ khắc bạc với đời và cay nghiệt tới người thương yêu mình.

Hay lấy câu chuyện gần nhất, kiểu truyền thông kền kền như Bạch Huệ, Bạch Hoàn … hay dùng đó là nhìn vào mặt xấu nhất của sự việc rồi khái quát hóa vội vã, lên án xã hội bằng những lời lẽ vô tri.

Chuyện một ông hiệu trưởng dâm ô hàng chục trẻ em, đó là một câu chuyện hổ thẹn, nhưng tại sao lại chửi Bộ giáo dục và đất nước Việt Nam. Có phải họ dung túng, bao che cho điều này không?

Sao không nhìn vào mặt tích cực, cả nước đều biết chuyện này để cho những kẻ rắp tâm gây ác phải chùn tay, để cho học sinh các em hiểu được rằng mình phải lên tiếng để tự bảo vệ bản thân.

Trong khi vẫn chưa tìm ra được tư tưởng nào cần phải tin, thì nhiều người trở nên mất phương hướng, trở nên dao động tinh thần vội vã vất bỏ tư tưởng đã từng một thời tin tưởng.

Chỉ đáng tiếc, rất nhiều người trong chúng ta rất cảm tính, một khi họ đã nhận định sự việc như thế nào thì rất khó để họ thay đổi quan điểm (tư duy lối mòn). Họ có thể là nạn nhân của chế độ giáo dục nhồi sọ (nước chảy đá mòn), hoặc là liên tục được tiếp xúc với truyền thông kền kền (gần mực thì đen), dần dà đầu óc bị ảnh hưởng. Hoặc cũng có thể, do tố chất bản thân của họ chỉ có thế mà thôi.

Nhiều người Việt Nam rất thích tư duy lối mòn, vậy nên họ tin vào ca dao tục ngữ, tin vào sách vở sáo rỗng, tin vào lời nói của người khác, tin vào sự đồn đại vô căn cứ … và thậm chí tin cả một đám truyền thông kền kền. (Ps: Có nhiều thằng con tin cả Bách râu nữa)

Chúng ta nên nhìn vào bản chất vấn đề, tránh bị ảnh hưởng bởi các chi tiết hỏa mù, cũng chớ dùng cảm tính và lối mòn để đánh giá, nhận xét hiện tượng sự vật. Ví dụ đừng vì người ta đáng thương mà bênh vực, chúng ta bênh vực người đúng.

Một ông quan ngoại tình, đó là đời tư cá nhân đáng xấu hổ nhưng chưa chắc năng lực của ông ta kém. Hitler tuy là kẻ ác, nhưng năng lực hung biện và chính trị của ông ta rất đáng để ngưỡng mộ.

3. Tiến bộ xã hội bắt nguồn từ sự hoài nghi

Nếu con người tin tưởng sự vật một cách mù quáng thì sự giả dối, ngụy tạo sẽ tràn lan. Chân lý chỉ được khám phá khi con người ta có tư duy đa chiều, nó sinh ra từ sự hoài nghi và các câu hỏi giả định.

Mọi sự vật, hiện tượng tồn tại đều có thể trả lời nó từ đâu mà ra. Mọi kết quả đều phải có nguyên nhân. Có thể là 1 nguyên nhân hoặc tập hợp nhiều nguyên nhân nhưng chắc chắn phải có nguyên nhân.

Không tin vào Giáo hội, Nicolas Copernic đã chứng minh được trái đất không phải hình tròn mà là dạng hình cầu. Galileo Galilei tìm ra học thuyết Trái đất quay quanh mặt trời vì hoài nghi rằng trái đất không phải là trung tâm của vũ trụ. Newton nhìn táo rơi, đặt ra câu hỏi tại sao lại thế và ông ấy tìm ra thuyết Vạn vật hấp dẫn.

Nghi ngờ ánh sáng không đơn giản chỉ là dạng sóng mà còn là vật chất, người ta tìm ra lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng. Những tiến bộ của khoa học đều ra đời từ sự phát hiện chân lý trong quá trình nghiên cứu thế giới quan này khi người ta hoài nghi và đặt ra câu hỏi tại sao lại thế.

Không phải chỉ có khoa học tự nhiên, những tiến bộ của văn minh xã hội cũng vậy. Từ chỗ hoài nghi sự hiển nhiên của chiếm hữu nô lệ, vậy nên sau này mới có đề xuất Luật cấm buôn bán nô lệ. Hoài nghi về Công giáo Roma, Martin Luther đã thực sự cải cách tôn giáo. Hoài nghi về vấn đề nam giới thượng đẳng hơn nữ giới của chế độ phong kiến, chúng ta có bình đẳng giới.

Đã bao giờ các bạn tự đặt ra câu hỏi và hoài nghi những gì mọi người vẫn thường cho là đúng chưa? Kiểu như: Ở hiền thì gặp lành, nghèo thì đáng thương, theo đuổi đam mê thì sẽ thành công. Ăn thịt chó là man rợ … Bạn đã bao giờ đặt ra câu hỏi tại sao lại thế chưa?

Xin lỗi, quan điểm của tôi là ở hiền mà lười và ngu, sống nghèo mà ác, gặp cái gì không chắc đâu. Theo đuổi đam mê, thành công sẽ theo đuổi bạn ư? Nếu không có năng lực, lại cố chấp theo đuổi đam mê thì không dở hơi sẽ phí thời gian, cuộc đời chìm trong thất bại. Nên nhớ, tham vọng phải gắn liền với năng lực, không tự định vị được bản thân đang ở đâu thì cuộc đời sẽ chìm trong bế tắc.

Không phải ai bỏ học cũng thành Bill Gates, không phải ai kiên trì khởi nghiệp cũng thành Jack Ma. Không phải ai hết mình nỗ lực cũng được như Ronaldo… Một lời khuyên dành cho các bạn, đó là chúng ta cần tỉnh táo và định vị được bản thân, bởi “mỗi người là một thế giới quan khác biệt”. Đọc các sách Self-help chỉ để cho vui, có cái nhìn tích cực hơn với cuộc sống, chớ vội tin và học theo những gì trong đó viết.

4. Nên tôn trọng ý kiến của người khác.

Hầu hết chúng ta đều đã từng áp dụng một trong ba kiểu tư duy như sau.

– Tư duy theo kinh nghiệm: là việc dùng các kinh nghiệm mà cá nhân (hoặc người khác) đã tích lũy để xử lý vấn đề. Càng già, càng trải nghiệm nhiều thì kinh nghiệm càng nhiều.

Ví dụ như các kinh nghiệm về thời tiết, sản xuất của ông cha ta. Như: Bầu nắng, mướp đắng mưa, dưa đại hạn. Hay như “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa – Bay cao thì nắng bay vừa thì râm” …

– Tư duy logic: là kiểu tư duy từ A suy ra B. A và B có mối liên kết nào đó móc xích lại với nhau. Tư duy logic hình thành lên Tư duy phân tích và Tư duy tổng hợp.

Ví dụ như trông thấy khói bốc lên nghi ngút, chúng ta sẽ phán đoán là ở đấy đang có đám cháy. Một cô gái thì sẽ có ngực to hơn nam giới. Nên nhớ Logic học là khoa học về những quy luật và hình thức cấu tạo của tư duy chính xác.

– Tư duy sáng tạo: là kiểu tư duy từ A suy ra B. A và B không có mối liên kết nào trực tiếp. Nói chung, không phải ai trong chúng ta cũng có tố chất sáng tạo này.

Ví dụ kinh điển là Edison sáng tạo ra bóng đèn không phải từ việc cải tiến cái đèn dầu. Giữa đèn dầu và đèn điện đều có cùng mục đích nhưng khác hẳn nhau.

Mặc dù sở hữu cả 3 loại tư duy nhưng mỗi người sẽ có xu hướng thiên về một hình thức tư duy nào đó phụ thuộc vào tố chất và môi trường sống.

5. Tích lũy kiến thức để nuôi dưỡng năng lực phán đoán.

Trong cuốn Khuyến học của Fukuzawa Yukichi, ông có nói: Chỉ có học vấn mới nuôi dưỡng năng lực phán đoán.

Nói chung ở lớp trẻ hiện nay đó chính là chịu ảnh hưởng của văn hóa Tây học, luôn cho rằng những thứ gì từ phương Tây là chuẩn mực trong khi không để ý tới hoàn cảnh, chủng tộc lẫn ưu/khuyết của nó.

Một khi không có tư duy đa chiều, lại không biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác, vậy lập tức sa vào tư duy lối mòn. Chính cái sự tự tôn thái quá này của 1 bộ phận lớp trẻ thành sự huyễn hoặc sai lầm về bản thân, luôn tự cho rằng mình đúng và bắt đầu lên tiếng, chê bai quan điểm của các giáo sư, tiến sĩ đầu ngành.

Rất nhiều người trong chúng ta tin tưởng mù quáng về Tây, Nhật … và cho rằng đó là chuẩn mực. Quan điểm cá nhân tôi, sự phù hợp mới là quan trọng. Không hẳn điều gì lúc nào cũng đúng trong mọi hoàn cảnh.

Trong xã hội đang hỗn loạn giữa cái mới và cái cũ, đang chứng kiến tư tưởng cùng văn vật phương Tây tràn vào thì việc lựa chọn đúng là rất cần thiết và cấp bách trên cơ sở so sánh văn mình Nhật Bản với phương Tây, phải du nhập cái gì, phải kiên quyết loại bỏ cái gì. Cần phải có năng lực lựa chọn: Tin cái gì và nghi ngờ cái gì. Kết quả của học vấn chính là ở chỗ nuôi dưỡng năng lực lựa chọn đó.

Học không bao giờ là đủ, lắng nghe không bao giờ là thừa. Nên tiếp xúc nhiều với người thông minh, bạn sẽ học hỏi được nhiều điều hay từ họ. Tránh tiếp xúc nhiều với truyền thông kền kền, vì một khi bản tâm không vững kiến thức chưa sâu, bạn bị ngộ độc thông tin lúc nào không hay đấy.

_______________________________________________________________________

bài 2

Tư duy đa chiều có liên quan chặt chẽ tới cách nhìn nhận, sự sáng tạo và tính hài hước. Bốn quá trình này đều có cùng một nền tảng. Nhưng trong khi chúng ta không thể thay đổi nhiều cách nhìn nhận, sự sáng tạo và tính hài hước thì tư duy đa chiều là một quá trình chủ động. Luôn tồn tại một cách thức sử dụng tâm trí để tư duy logic – nhưng đó là một cách khác với cách chúng ta thường làm.

Văn hóa có liên quan tới những ý tưởng đang dần ổn định. Giáo dục liên quan đến việc truyền đạt các ý tưởng đó. Cả hai đều liên quan đến việc cải thiện các ý tưởng bằng cách cập nhật chúng. Cách duy nhất để thay đổi các quan niệm là thông qua mâu thuẫn và mâu thuẫn vận hành theo hai cách. Cách thứ nhất, có một cuộc đụng độ trực diện giữa những ý tưởng đối lập. Trong hai ý tưởng, sẽ có một ý tưởng thực tế hơn ý tưởng còn lại và phải thay đổi. Cách thứ hai, tồn tại sự mâu thuẫn giữa thông tin mới và ý tưởng cũ, kết quả là ý tưởng cũ sẽ bị thay đổi. Đây là cách làm của khoa học, lĩnh vực luôn tìm cách tạo ra những thông tin mới để phá vỡ những ý tưởng cũ và kiến tạo những ý tưởng mới. Tuy nhiên, cách làm thứ hai không chỉ là phương pháp khoa học mà còn là cách mà con người thu nhận kiến thức.

Giáo dục dựa trên giả định an toàn rằng người học chỉ phải thu thập ngày càng nhiều thông tin, những thông tin này sẽ tự sắp xếp thành những ý tưởng hữu ích. Chúng ta đã phát triển các công cụ xử lý thông tin, ví dụ toán học để mở rộng thông tin, tư duy logic để tinh lọc thông tin.

Phương pháp thay đổi ý tưởng bằng mâu thuẫn phát huy hiệu quả khi thông tin có thể được đánh giá khách quan. Nhưng phương pháp này vô hiệu khi thông tin mới chỉ được đánh giá dựa trên các ý tưởng cũ. Thay vì bị thay đổi, ý tưởng cũ sẽ được củng cố và trở nên cứng nhắc hơn bao giờ hết.

Cách hiệu quả nhất để thay đổi ý tưởng cũ không đến từ bên ngoài – thông qua mâu thuẫn, mà đến từ bên trong – thông qua việc tái sắp xếp cách nhìn nhận những thông tin sẵn có. Cách nhìn là mấu chốt duy nhất để thay đổi các ý tưởng trong một tình huống tưởng tượng – khi thông tin không thể được đánh giá khách quan. Thậm chí khi thông tin có thể được đánh giá khách quan, hành động tái sắp xếp cách nhìn nhận thông tin cũng tạo nên một cú nhảy vọt. Điều giáo dục quan tâm không chỉ là việc thu thập thông tin mà còn là cách tốt nhất để sử dụng những thông tin đã thu thập.

Khi các ý tưởng làm chủ thông tin thay vì phụ thuộc vào chúng, sự tiến bộ diễn ra rất nhanh chóng. Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa phát triển các công cụ hữu ích để xử lý vấn đề cách nhìn nhận. Chúng ta chỉ thu thập thông tin và hy vọng đến một bước nào đó cách nhìn sẽ thay đổi. Tư duy đa chiều chính là một công cụ giúp thay đổi cách nhìn nhận.

Cách nhìn nhận, sự sáng tạo và tính hài hước rất khó nắm bắt vì tâm trí làm việc cực kỳ hiệu quả. Tâm trí vận hành để tạo ra những mô hình từ môi trường bên ngoài. Một khi các mô hình đã hình thành, chúng ta có thể nhận ra chúng, phản ứng trước chúng và sử dụng chúng. Khi các mô hình được sử dụng, chúng trở nên vững chắc hơn bao giờ hết.

Hệ thống hóa các mô hình là một cách rất hiệu quả để xử lý thông tin. Sau khi được thiết lập, các mô hình này sẽ hình thành một hệ thống mã hóa. Lợi ích của hệ thống mã hóa là thay vì phải thu thập tất cả thông tin, một người chỉ cần thu thập đủ thông tin để nhận diện mô hình mã hóa, điều này tương tự như tìm một cuốn sách thuộc một chủ đề nhất định trong thư viện bằng mã số sách.

Tâm trí được ví như một chiếc máy tính chuyên xử lý thông tin. Tuy nhiên, nó không phải là một chiếc máy tính thông thường mà là một môi trường đặc biệt cho phép thông tin tự sắp xếp vào các mô hình. Hệ thống ký ức tự sắp xếp, tự tối đa hóa này rất giỏi trong việc tạo ra các mô hình – đó chính là sự hiệu quả của tâm trí.

Nhưng bên cạnh sự hữu ích tuyệt vời đó, hệ thống mô hình hóa vẫn có những hạn chế nhất định. Khi được hệ thống hóa, các mô hình dễ dàng kết hợp hay bổ sung cho nhau nhưng rất khó để tái cấu trúc vì chúng điều khiển sự chú ý. Cách nhìn nhận và tính hài hước đều cần quá trình tái cấu trúc mô hình. Sự sáng tạo cũng liên quan đến quá trình tái cấu trúc nhưng đặt trọng tâm lớn vào việc thoát ra khỏi những mô hình giới hạn. Tư duy đa chiều tập trung vào việc tái cấu trúc, thoát ly khỏi mô hình cũ và gợi mở các mô hình mới.

Tư duy đa chiều có mối liên hệ chặt chẽ với sự sáng tạo. Trong khi sáng tạo nhấn mạnh vào kết quả thì tư duy đa chiều lại mô tả một quá trình. Chúng ta thường cảm thấy sự bí ẩn khi nói về tài năng và sự vô hình khi nói về sáng tạo, thường là khi nhắc đến sự sáng tạo trong các lĩnh vực nghệ thuật như cảm thụ thẩm mỹ, đồng cảm và năng khiếu biểu đạt. Nhưng sự sáng tạo bên ngoài lĩnh vực này không phải như vậy. Sáng tạo ngày càng được xem là một thành tố quan trọng cho sự thay đổi và phát triển. Nó dần được đánh giá cao hơn cả kiến thức và kỹ thuật vì cả hai yếu tố này ngày càng dễ đạt được. Để có thể sử dụng sự sáng tạo, chúng ta phải loại bỏ suy nghĩ thần bí về nó và coi nó như một cách thức sử dụng tâm trí – một cách xử lý thông tin. Tư duy đa chiều sẽ thảo luận về chủ đề này.

Tư duy đa chiều liên quan đến việc phát triển những ý tưởng mới. Thật kỳ cục khi nghĩ rằng các ý tưởng mới liên quan đến các sáng chế kỹ thuật. Sáng chế kỹ thuật chỉ là một phần nhỏ. Ý tưởng mới là các thay đổi hay tiến bộ từ khoa học tới nghệ thuật, từ chính trị đến hạnh phúc con người.

Tư duy đa chiều cũng liên quan đến việc phá vỡ nhà tù của các ý tưởng cũ kỹ. Nó tạo ra sự thay đổi trong thái độ và cách tiếp cận, từ đó dẫn đến việc nhìn những sự vật quen thuộc theo một cách khác. Giải phóng khỏi các ý tưởng cũ và kích thích các ý tưởng mới là hai mặt song song của tư duy đa chiều.

Tư duy đa chiều rất khác tư duy chiều dọc – kiểu tư duy truyền thống. Trong tư duy chiều dọc, chúng ta di chuyển từng bước và mỗi bước đều phải có cơ sở lý giải. Khác biệt giữa hai cách tư duy này rất rõ ràng. Ví dụ, trong tư duy đa chiều, chúng ta không chỉ đơn thuần sử dụng thông tin mà còn thu nhận những hiệu ứng từ việc sử dụng chúng. Trong tư duy đa chiều, chúng ta có thể phải sai ở một vài giai đoạn để đạt được một kết quả đúng; trong tư duy chiều dọc (logic hay toán học) điều này là bất khả thi. Trong tư duy đa chiều, chúng ta có thể chủ động tìm kiếm những thông tin không liên quan; còn trong tư duy chiều dọc, chúng ta chỉ tìm kiếm những gì có liên quan.

Tư duy đa chiều không thay thế cho tư duy chiều dọc. Cả hai đều cần thiết và bổ sung cho nhau. Tư duy đa chiều giúp nảy sinh ý tưởng, tư duy chiều dọc mang tính chọn lọc.

Với tư duy chiều dọc, chúng ta đi đến kết luận thông qua một chuỗi những bước đi có cơ sở. Vì tính hợp lý của những bước đó, chúng ta rất chắc chắn về tính chính xác của kết luận. Nhưng dù quy trình đó có chính xác đến đâu thì xuất phát điểm vẫn là lựa chọn cảm tính các khái niệm căn bản – hành động lựa chọn này thường có khuynh hướng phân chia rõ rệt và phân cực cao độ. Sau đó, tư duy chiều dọc sẽ làm việc dựa trên những khái niệm được tạo ra từ đây. Tư duy đa chiều cần thiết để xử lý các lựa chọn cảm tính nằm ngoài tầm với của tư duy chiều dọc. Tư duy đa chiều cũng kiềm chế sự kiêu ngạo của các kết luận cứng nhắc, dù nó được hình thành một cách vững chắc thế nào chăng nữa.

Tư duy đa chiều nâng cao hiệu quả của tư duy chiều dọc. Tư duy chiều dọc phát triển những ý tưởng được tạo ra bởi tư duy đa chiều. Bạn không thể khoan nhiều lỗ ở nhiều vị trí khác nhau bằng cách khoan sâu hơn một cái lỗ. Tư duy chiều dọc được sử dụng để khoan một cái lỗ sâu hơn. Tư duy đa chiều được sử dụng để khoan một cái lỗ ở vị trí khác.

Thói quen chỉ đặt trọng tâm vào tư duy chiều dọc khiến cho việc giảng dạy tư duy đa chiều càng trở nên cần thiết. Chỉ sử dụng tư duy chiều dọc không những là chưa đầy đủ mà còn là mối nguy hiểm.

Cũng như tư duy logic, tư duy đa chiều là một cách thức sử dụng tâm trí. Nó là thói quen và thái độ của tâm trí. Có những kỹ thuật cụ thể có thể được sử dụng riêng cho từng loại tư duy. Cuốn sách này đặt trọng tâm nhất định vào một vài kỹ thuật không phải vì chúng là một phần quan trọng của tư duy đa chiều mà vì chúng có tính thực tế. Thiện chí và lý thuyết không đủ để phát triển kỹ năng tư duy đa chiều. Chúng ta cần một môi trường thực tế và cần những kỹ thuật hữu hình để thực hành. Từ việc hiểu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật, tư duy đa chiều sẽ phát triển thành một thái độ của tâm trí. Chúng ta nên luyện tập cách sử dụng các kỹ thuật này.

Tư duy đa chiều không phải là hệ thống ma thuật mới. Không thiếu ví dụ về những người sử dụng tư duy đa chiều để đạt được thành quả. Có những người có khuynh hướng tư duy đa chiều một cách tự nhiên. Mục đích của cuốn sách này là cho bạn thấy rằng tư duy đa chiều là một phần rất căn bản của tư duy và ai cũng có thể phát triển kỹ năng này. Thay vì chỉ hy vọng có được cách nhìn nhận mới và sự sáng tạo, chúng ta có thể sử dụng tư duy đa chiều một cách chủ động và thực tế.

TÓM TẮT

Mục đích của tư duy là thu thập thông tin và sử dụng chúng tốt nhất có thể. Do đặc thù cơ chế vận hành của tâm trí trong việc tạo ra những mô hình khái niệm cố định, chúng ta không thể sử dụng những thông tin mới tốt nhất trừ khi sở hữu các phương tiện tái lập và cập nhật những mô hình cũ. Lối tư duy truyền thống dạy chúng ta cách tinh lọc các mô hình và xác lập giá trị của chúng. Nhưng chúng ta sẽ không thể tận dụng tối đa thông tin sẵn có nếu không biết cách tạo ra các mô hình mới và thoát khỏi sự kìm kẹp của những mô hình cũ. Tư duy chiều dọc liên quan đến việc cung cấp hay phát triển các mô hình khái niệm. Tư duy đa chiều thì liên quan đến việc tái cấu trúc những mô hình như vậy (cách nhìn nhận) và kích thích tạo ra những mô hình mới (sáng tạo). Tư duy đa chiều và tư duy chiều dọc bổ sung cho nhau. Cả hai kỹ năng tư duy này đều cần thiết nhưng hiện nay, giáo dục chỉ nhấn mạnh vào tư duy chiều dọc.

Sự cần thiết của tư duy đa chiều được phát triển từ những giới hạn trong cách vận hành của tâm trí với vai trò của một hệ thống ký ức tự tối đa hóa.

__________________________________________________________________________

Tư duy đa chiều là tư duy mở yêu cầu chúng ta phải đón nhận những gì mới những gì khác với lối mòn suy nghĩ đã hình thành từ lâu trong chính của mỗi người, khi đó chúng ta sẽ nhận thấy ở cùng một vấn đề xuất hiện những điểm đúng và những điểm không đúng. Tư duy đa chiều giúp chúng ta có sự phân luồng hợp lý, minh bạch để có thể nhìn nhận khách quan nhất về một vấn đề. Ví như khi một vụ án hình sự xảy ra, chúng ta cần đánh giá hành vi của bị cáo thông qua cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội để đi đến một kết luận chung nhất đó là định tội danh đối với bị cáo. Ngoài việc nhìn một vấn đề từ nhiều hướng còn phải linh hoạt mà chọn hướng nhìn đúng nhất nhằm đánh giá con người hay sự kiện trên đúng khía cạnh phù hợp của nó.

 

Việc tư duy đa chiều cũng gần giống như quan điểm toàn diện của Chủ nghĩa Mác Lê nin bởi theo quan điểm toàn diện, muốn có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng, một mặt chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó, mặt khác chúng ta phải có cái nhìn bao quát và xem xét nó trong các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp với các sự vật, hiện tượng khác. Chúng ta cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt, không tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật, hiện tượng, xem đó là những chân lí bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển mới có thể tránh khỏi những sai lầm và sự cứng nhắc.

 

Hiện nay, cơn bão thông tin đang ngày càng gay gắt kèm theo hàng loạt cơn mưa tin giả, tin sai sự thật, tin phiến diện hàng ngày hàng giờ len lỏi ngấm sâu làm thay đổi nhận thức về chính trị của người dân cũng như một số cán bộ, đảng viên. Vì thế hơn lúc nào hết, trong bối cảnh phương tiện truyền thông xã hội đang phát triển mạnh mẽ đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần tự chủ động định hướng thông tin, phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu, bản lĩnh vững vàng bằng nhiều cách, trong đó có thể kể đến cách thức sử dụng tư duy đa chiều trong việc định hướng thông tin. Theo đó, khi tiếp xúc với nhiều luồng thông tin trái chiều trên phương tiện truyền thông xã hội, cán bộ, đảng viên cần có sự tỉnh táo phân tích các thông tin qua nhiều góc nhìn; tránh việc đánh giá thông tin theo bề nổi mà không tìm hiểu cặn kẽ bản chất vấn đề do thông tin đó mang lại; tránh đơn thuần tiếp nhận thông tin một chiều mà không có phản biện, không có trao đổi, không có suy nghĩ khác đi vì nếu chỉ thụ động tiếp nhận thông tin thì việc nói ra và viết ra của bản thân của cán bộ, đảng viên sẽ chỉ theo một “lối mòn” đã bị áp đặt trước, rất dễ bị lung lay về nhận thức tư tưởng chính trị, dễ bị dư luận xấu dẫn dắt đi xa rời Đảng, xa rời lý tưởng cách mạng và rơi vào hố sâu “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”.

 

Tuy nhiên để có thể tìm hiểu cặn kẽ được chân lý của vấn đề, để có thể đưa ra ý kiến của bản thân, để chứng minh cái mình nói ra và cái mình viết ra là đúng thì yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải tự loại bỏ được “nhận thức non kém”, “tăng bề dày tư duy” trong chính bản thân bằng cách tự ý thức nâng cao trình độ chính trị, trình độ chuyên môn, nâng cao kỹ năng nghiên cứu tìm kiếm thông tin, nâng cao kỹ năng phản biện. Khi tiếp nhận một luồng thông tin mới, các cán bộ, đảng viên cần phải đặt ra các câu hỏi, tìm kiếm nhiều kiến thức liên quan đến luồng thông tin đó sau đó tự bản thân mỗi người sẽ đánh giá, sàng lọc thông tin bằng cách tự lập luận phản biện xem thông tin mình tiếp nhận đúng sai đến mức độ nào và đưa ra quan điểm cá nhân phù hợp nhất, đúng nhất về vấn đề mà thông tin đó đưa ra. Bên cạnh việc thường xuyên sàng lọc, đánh giá những luồng thông tin mới tiếp nhận, các cán bộ, đảng viên cũng cần sàng lọc, đánh giá, kiểm chứng lại chính những quan điểm, thông tin mà bản thân đã đưa ra trước đây qua nhiều góc nhìn khác nhau để rèn luyện tư duy phản biện và đến gần hơn với chân lý của vấn đề, bởi lẽ tri thức của con người phát triển theo khuynh hướng phát triển của sự vật, sự việc từ thấp đến cao một cách vô cùng tận theo hình xoắn ốc nên qua thời gian phát triển tri thức cái đúng cũng có thể trở thành cái sai và ngược lại.

 

Việc sử dụng tư duy đa chiều trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên hạn chế được sự phiến diện, siêu hình, máy móc, một chiều trong nhận thức cũng như trong việc giải quyết các tình huống thực tiễn, từ đó các ý kiến đưa ra đều dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, thẳng thắn phản biện loại bỏ được những ý kiến xấu, độc hại đang tràn lan hiện nay.

____________________________________________________________________

bài 3

Từ sách Tư duy đa chiều của Edward de Bono

1.TẠI SAO cần coi tư duy đa chiều như một kĩ năng không thể thiếu?

Theo đó, tác giả đưa ra sự đối sánh giữa tư duy đa chiều và tư duy chiều dọc thông thường trên các phương diện như tính chất, đặc trưng, cách vận hành của từng loại tư duy, mục đích,…

Qua đó, de Bono đi đến khẳng định rằng:

+ “Tư duy đa chiều không thay thế cho tư duy hàng dọc. Cả hai đều cần thiết và bổ sung cho nhau.”

+ “Tư duy da chiều nâng cao hiệu quả của tư duy hàng dọc. Tư duy hàng dọc phát triển những ý tưởng được tạo ra bởi tư duy đa chiều.”

Để có thể sử dụng, người đọc phải có cái nhìn tường tận về tư duy đa chiều. Vì thế, Bono đã chỉ ra bản chất cơ bản và vai trò của tư duy đa chiều. Một số điểm nổi bật của tư duy đa chiều:

+ Tư duy đa chiều liên quan đến việc phát triển những ý tưởng mới.

+ Giải phóng khỏi các ý tưởng cũ và kích thích các ý tưởng mới là hai mặt song song của tư duy đa chiều.

2.Thực hành tư duy đa chiều NHƯ THẾ NÀO để sáng tạo và tái cấu trúc cách nhìn sự vật?

Edward de Bono đã dành từng chương để nói về từng kỹ thuật thực hành tư duy đa chiều. Các kỹ thuật cơ bản như: tạo ra những lựa chọn thay thế; thách thức các giả định; trì hoãn đánh giá; thiết kế; tái cấu trúc mô hình sử dụng các kỹ thuật như phân tách, đảo ngược,…; suy luận loại suy; lựa chọn điểm thâm nhập và vùng chú ý; kích thích ngẫu nhiên; PO;…

CÁCH THỨC VẬN HÀNH CỦA TÂM TRÍ

Sự cần thiết của tư duy đa chiều xuất phát từ cách thức vận hành của tâm trí. Dù tâm trí là hệ thống xử lý thông tin rất hiệu quả nhưng nó vẫn có một số hạn chế đặc trưng nhất định. Những hạn chế này không tách rời khỏi các lợi thế của hệ thống vì cả hai đều xuất phát trực tiếp từ bản chất của hệ thống. Sẽ không thể có được những lợi thế nếu không có những bất lợi. Tư duy đa chiều luôn nỗ lực bù đắp những bất lợi mà vẫn giữ lại các lợi thế.

Giao tiếp mã hóa

Giao tiếp là quá trình truyền tải thông tin. Nếu muốn ai đó làm việc gì, bạn có thể hướng dẫn cụ thể, chính xác những gì cần làm. Làm như vậy sẽ chuẩn xác nhưng sẽ mất thời gian. Sẽ dễ hơn nhiều nếu bạn chỉ đơn giản nói rằng: “Hãy thực hiện kế hoạch số 4.” Câu nói đó có thể thay thế nhiều trang hướng dẫn.

Trong quân đội, các mô hình hành vi phức tạp được mã hóa theo cách này để khi nhắc đến một mã số cụ thể là có thể gọi ra toàn bộ mô hình hành vi cần được thực hiện. Tương tự với máy vi tính: những chương trình được sử dụng nhiều nhất được lưu lại dưới một tiêu đề cụ thể và khi cần dùng, chúng ta chỉ cần tìm đúng tiêu đề đó. Khi vào thư viện mượn sách, bạn có thể mô tả chi tiết cuốn sách mình muốn bằng tên tác giả, tên sách, lời tựa, chủ đề, mô tả tổng quát,… nhưng thay vào đó, tất cả những gì bạn cần làm là cho biết mã số của cuốn sách đó.

Giao tiếp mã số chỉ có thể thực hiện nếu có những mô hình định sẵn. Những mô hình có thể rất phức tạp này được xây dựng từ trước và quy định sẵn dưới những mã tiêu đề. Thay vì truyền tải tất cả thông tin được yêu cầu thì bạn chỉ cần truyền tải mã tiêu đề. Mã tiêu đề đó vận hành như một từ ngữ kích hoạt để nhận diện và gọi ra mô hình mong muốn. Từ kích hoạt có thể là một mã tiêu đề thực ví dụ như tên phim hoặc một phần thông tin cũng có thể được dùng để truy xuất phần thông tin còn lại. Ví dụ, một người không nhớ tên phim có thể nói: “Bạn có nhớ bộ phim có Julie Andrews trong vai cô gái chăm sóc một đám trẻ ở Áo không?”, người kia sẽ giúp bạn nhớ ra tên của bộ phim đó một cách dễ dàng.

Bản thân ngôn ngữ chính là một hệ thống mã hóa dễ thấy nhất với từ ngữ là những kích hoạt tố. Hệ thống mã hóa có lợi thế rất lớn. Nó giúp chúng ta dễ dàng truyền tải rất nhiều thông tin một cách nhanh chóng mà không tốn nhiều công sức. Nó giúp chúng ta phản ứng đúng đắn trước một tình huống khi tình huống đó được nhận diện bằng hệ thống mã hóa mà không cần nghiền ngẫm những chi tiết của nó. Nó giúp chúng ta phản ứng đúng đắn trước một tình huống ngay cả khi tình huống đó chưa được phát triển đầy đủ, bằng cách xác định tình huống dựa vào những biểu hiện ban đầu.

Giao tiếp thường được cho là một quá trình hai chiều: một người gửi đi một thông điệp và một người khác cố gắng hiểu nó. Trật tự sắp xếp có chủ ý các lá cờ trên một chiếc thuyền là một hệ thống mã hóa, ai từng biết đều hiểu được ý nghĩa của nó. Nhưng một người biết hệ thống mã hóa cũng có thể giải mã sai trong trường hợp lá cờ được sắp xếp ngẫu nhiên để trang trí cho một bữa tiệc hay trang trí ở cây xăng.

Giao tiếp có thể là một quá trình một chiều. Cách nhìn về môi trường là một ví dụ của giao tiếp một chiều. Mỗi người có thể nhặt ra những thông điệp từ môi trường dù chẳng ai chủ ý sắp đặt nó.

Nếu bạn đưa những dòng kẻ được sắp xếp ngẫu nhiên cho một nhóm người, họ sẽ nhanh chóng cố gắng tìm ra những mô hình đáng chú ý nhất. Họ tin rằng có các mô hình được sắp đặt một cách có chủ ý, không tồn tại những mô hình ngẫu nhiên hay đặc biệt. Những học viên được yêu cầu làm một hành động nhất định mỗi khi chuông reo vào những khoảng thời gian nhất định nhanh chóng tin rằng có một ý nghĩa nào đó trong tiếng chuông reo.

Giao tiếp bằng mã hóa hay bằng những mô hình định sẵn đòi hỏi phải có một danh mục mô hình, tương tự việc bạn chỉ có thể sử dụng mã số danh mục sách trong thư viện nếu ai đó đã xây dựng danh mục sẵn. Như đã gợi ý ở trên, không phải lúc nào cũng cần mã số cho từng mô hình. Một phần nào đó của mô hình có thể đại diện cho cả mô hình đó. Nếu bạn nhận ra một người đàn ông khi nghe tên John Smith, đó là bạn đang sử dụng mã tiêu đề, nhưng nếu bạn nhận ra người đàn ông tại buổi tiệc khi nghe thấy giọng nói của ông ta thì bạn đang sử dụng một phần của mô hình. Phía dưới là hai mô hình quen thuộc, mỗi mô hình đều bị che mất một phần nhưng không khó để đoán ra toàn bộ mô hình từ những phần không bị che.

Tâm trí là một hệ thống xây dựng mô hình

Tâm trí là một hệ thống xây dựng mô hình. Hệ thống thông tin của tâm trí hoạt động để tạo ra những mô hình và nhận diện chúng. Hoạt động này dựa trên việc sắp xếp chức năng của các tế bào thần kinh trong não bộ.

Tính hiệu quả của tâm trí trong giao tiếp một chiều với môi trường xuất phát từ năng lực xây dựng các mô hình, lưu trữ và nhận diện chúng. Có thể tồn tại một số ít các mô hình được xây dựng trong tâm trí và chúng trở thành những hành vi bản năng nhưng những kiểu mô hình bản năng này không mấy quan trọng với con người khi so với những động vật bậc thấp hơn. Tâm trí có thể cũng chấp nhận những mô hình sẵn có mà nó nhận được. Nhưng năng lực quan trọng nhất của hệ thống là khả năng tạo ra mô hình riêng. Cách tâm trí xây dựng các mô hình sẽ được mô tả cụ thể ở những phần sau.

Một hệ thống có khả năng tạo ra những mô hình và nhận diện chúng sẽ có khả năng giao tiếp hiệu quả với môi trường. Mô hình đúng hay sai không quan trọng, miễn sao chúng được định hình rõ ràng. Vì những mô hình đều do tâm trí con người xây dựng nên, nên trách nhiệm của tâm trí là mắc sai lầm. Một khi các mô hình đã hình thành, cơ chế hữu dụng (nỗi sợ, cái đói, sự khát, nhu cầu tình dục,…) sẽ lựa chọn và giữ lại những mô hình có ích cho sự tồn tại. Nhưng đầu tiên các mô hình cần phải được hình thành. Cơ chế chọn lựa chỉ chọn lọc các mô hình chứ không tạo ra hay thay đổi chúng.

Hệ thống tự tổ chức

Chúng ta có thể hình dung ra hình ảnh một thư ký tích cực vận hành một hệ thống văn thư, một thủ thư tích cực lên danh mục sách, một máy vi tính tích cực sắp xếp thông tin. Tuy nhiên, tâm trí không tích cực sắp xếp thông tin. Thông tin tự phân loại và sắp xếp vào những mô hình. Tâm trí thụ động, nó chỉ xây dựng một môi trường để tạo cơ hội cho thông tin tự tổ chức. Môi trường đặc biệt này là một bề mặt ký ức với các đặc tính đặc biệt.

Một ký ức là một sự kiện đã xảy ra và chưa hoàn toàn bị xóa nhòa mà vẫn còn lại những dấu vết. Những dấu vết này có thể tồn tại một thời gian dài hoặc chỉ trong thời gian ngắn. Thông tin khi đi vào não bộ sẽ để lại dấu vết là sự biến đổi trong trạng thái của các tế bào thần kinh, cái hình thành nên bề mặt ký ức.

Khung cảnh sau đây cũng giống như một bề mặt ký ức. Những rãnh nước trên mặt đất là những dấu vết ký ức tích tụ sau những cơn mưa. Trận mưa hình thành những con lạch nhỏ, chúng kết hợp thành những con suối và sau đó thành những dòng sông. Một khi các rãnh nước đã hình thành, chúng sẽ trở nên vô cùng bền vững vì mưa sẽ tiếp tục chảy vào các rãnh này và khiến chúng ngày càng sâu hơn. Những cơn mưa thực hiện công việc điêu khắc nhưng chính phản ứng của bề mặt đã định hình cách thức điêu khắc của cơn mưa.

Với ví dụ trên, những đặc tính vật lý của bề mặt có ảnh hưởng rất lớn đến cách cơn mưa tác động lên bề mặt. Bản chất của bề mặt sẽ quyết định hình dạng của dòng sông. Sự nhấp nhô của đá sẽ quyết định hướng chảy của dòng sông.

Thay vì sử dụng ví dụ về cảnh quan thiên nhiên, hãy thử lấy ví dụ về một kiểu bề mặt phẳng như một đĩa thạch trái cây chẳng hạn. Nếu lấy nước nóng đổ lên bề mặt thạch, nước sẽ làm thạch trái cây tan ra một chút. Sau khi đổ hết nước đi, trên bề mặt đĩa thạch sẽ để lại một khoảng lõm. Nếu đổ một muỗng đầy nước khác vào gần chỗ lõm này, nước sẽ đổ dồn về đó và có khuynh hướng làm vết lõm sâu hơn, đồng thời không để lại dấu vết riêng rõ ràng. Nếu liên tục đổ những muỗng nước nóng vào đĩa thạch (đổ nước vào ngay sau khi bề mặt nguội), bề mặt của đĩa thạch sẽ trở nên lồi lõm và đầy những dãy nhấp nhô. Bề mặt phẳng của đĩa thạch trái cây đóng vai một bề mặt ký ức cho những muỗng nước nóng tự sắp xếp chúng vào một mô hình. Những đường rãnh của bề mặt được tạo bởi nước nóng nhưng khi đã hình thành, chúng sẽ tự định hướng dòng chảy. Mô hình cuối cùng phụ thuộc vào vị trí đổ những muỗng nước và trình tự đổ nước. Điều này tương tự như bản chất tự nhiên của thông tin đầu vào và trật tự xuất hiện của thông tin. Thạch trái cây đã tạo ra môi trường cho quá trình tự sắp xếp thông tin vào những mô hình.

Quãng chú ý hạn chế

Đặc trưng căn bản của một hệ thống ký ức tự sắp xếp thụ động là quãng chú ý hạn chế. Đó là lý do tại sao mỗi lần chỉ có thể đổ duy nhất một muỗng nước lên bề mặt thạch trái cây. Quãng chú ý hạn chế chỉ cho phép một phần bề mặt ký ức có thể được kích hoạt vào một thời điểm. Phần nào sẽ được kích hoạt phụ thuộc vào cái gì xuất hiện trên bề mặt ký ức vào lúc đó, trước đó và trạng thái của bề mặt.

Quãng chú ý hạn chế cực kỳ quan trọng vì nó có nghĩa rằng một vùng được kích hoạt sẽ là khu vực cố kết duy nhất và khu vực này sẽ xuất hiện ở phần dễ dàng được kích hoạt nhất trên bề mặt ký ức. (Trong mô hình thạch trái cây, đó là vùng lõm sâu nhất.) Vùng hay mô hình dễ kích hoạt nhất là vùng quen thuộc nhất, vùng thường xuyên được dùng nhất hay vùng có dấu vết sâu nhất trên bề mặt ký ức. Một mô hình quen thuộc thường xuyên được sử dụng sẽ càng trở nên quen thuộc hơn. Bằng cách này tâm trí xây dựng một kho các mô hình định sẵn, cái đóng vai trò nền tảng cho giao tiếp mã hóa.

Với quãng chú ý hạn chế, bề mặt ký ức bị động tự tổ chức cũng trở nên tối đa hóa. Nghĩa là những quá trình chọn lọc, kết hợp, phân tách đều có khả năng xảy ra. Tất cả những quá trình này kết hợp lại sẽ trao cho tâm trí một năng lực tính toán đầy sức mạnh.

Trật tự xuất hiện của thông tin

Hãy xem cách sắp xếp các miếng ghép thành một khối ở phía dưới. Đưa cho một người hai miếng nhựa mỏng và yêu cầu người đó sắp thành một hình dạng có thể mô tả dễ dàng. Hai miếng nhựa đó thường được sắp thành hình vuông. Sau đó thêm vào một miếng khác với cùng yêu cầu như trước đây. Lúc này đơn giản chỉ là ghép thêm vào hình vuông để thành hình chữ nhật. Bây giờ thêm hai miếng nữa. Chúng được kết hợp tạo thành một miếng hình chữ nhật nằm ngang, sau đó ghép vào hình chữ nhật ban nãy để tạo thành một hình vuông mới.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây