Tư Duy Cảm Tính, Linh Tính

101

1. Tư duy cảm tính

Tư duy cảm tính
Tư duy cảm tính là gì?

Tư duy cảm tính hay còn gọi là nhận thức cảm tính là giai đoạn mà con người dùng 5 cơ quan cảm giác của mình để cảm nhận các sự vật nó gồm 3 hình thức: cảm giác, tri giác và biểu tượng.

– Cảm giác: Sử dụng 5 giác quan để cảm nhận được sự vật, hiện tượng

– Tri giác: Giai đoạn mà con người tổng hợp nhiều cảm giác lại để có được hình ảnh tương đối toàn vẹn của sự vật

– Biểu tượng: Hình thành nên hình ảnh, biểu tượng của sự vật bên ngoài vào trong đầu.

Ví dụ: Cái bàn được thu nhận trong đầu thì:

  • Cảm giác sẽ là khi các bạn nhìn, sờ nó… có được cảm giác của cái bàn.
  • Tri giác là khi tổng hợp lại toàn bộ những cảm giác về cái bàn mà chúng ta có.
  • Biểu tượng là cái mà chúng ta sẽ hình thành hình ảnh của cái bàn trong đầu.

2. Con người thường sống theo cảm tính?

Lý tính sẽ tìm ra chân lý giúp con người vì nó là những cái tồn tại bất biến, nằm ngoài ý thức con người.

Chân lý là cái có sẵn, không phải do con người tạo ra như chân lý của ngành khoa học. lý trí hay lý tính là ngọn đèn soi chiếu, dẫn dắt con người khỏi lầm đường, lạc lối, định hướng hành vi theo chân lý.

Thực tế thì con người thường theo xu hướng cảm tính, chỉ một số ít người thì ngược lại, theo chiều hướng lý tính. Và nếu có thì lý luận cũng thường do cảm tính dẫn dắt, thúc đẩy theo cảm xúc riêng.

Lý luận thường bảo vệ ý muốn và mục đích của con người. Sự bất an, xáo trộn, lầm lạc, bế tắc, đau khổ,… minh chứng cho thấy ít người được lý luận dẫn dắt. Nếu có thì cũng chỉ là bảo vệ quan điểm riêng hay mưu cầu cá nhân với ý đồ lợi lộc nào đó để biện minh thỏa mãn dục vọng của mình. Điều này nhiều người cũng đang tự lừa dối bản thân và đôi khi không biết là đang tự lừa dối.

Con người chúng ta hay có thành kiến, đánh giá sự vật, hiện tượng, con người hay sự yêu ghét,… tất cả đều do cảm tính dẫn dắt hướng tới hành động. Cảm tính chi phối hầy hết phần lớn cuộc sống con người nên những thuật xử thế, đắc nhân tâm hay những thuật liên quan đến con người đều áp dụng tâm lý, tác động của cảm xúc, cảm giác để có mục đích.

Tóm lại những điều này cho chúng ta thấy được con người sống theo cảm tính nhiều hơn là lý tính, chúng ta bị cảm xúc dẫn dắt và cho dù lý lẽ có tồn tại thì đó cũng chỉ  là sự biện mình cho ý đồ mong muốn của mình.

3. Cảm tính và lý tính tuy đối lập nhưng luôn song hành

Cảm tính và lý tính thường đối lập nhau, tuy nhiên nó luôn song hành hiện diện nơi con người, hiếm khi nào nó tồn tại độc lập riêng lẽ một mình. Ví dụ nếu khi bạn yêu người nào đó, vật nào hay điều gì thì sẽ tìm những lý lẽ để biện minh cho cái họ yêu. CÒn nếu ghét thì họ cũng sẽ tìm ra những lý lẽ để nói lên điều họ ghét.

Vì lý do này mà con người luôn cảm thấy mâu thuẫn nội tại vì cảm tính và lý tính không bao giờ hòa hợp nhau. Đây chính là nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người.

Con người có khuynh hướng thích được chiều chuộng theo bản năng và còn lệ thuộc vào “hỉ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục”. Điều này có nghĩa là đắm mình trong những cảm xúc thuộc về cảm tính mà giác quan con người nhận được.

Vì thế cảm tính và lý tính trở nên xung khắc và đối đầu khiến cho chủ thể bất an mặc dù bề ngoài có vẻ khoang khoái, thích thú nhưng nó cũng chỉ là giả tạo, là nhất thời.

4. Cảm tính và lý tính hoạt động trên hai bán cầu não 

  • Não trái có nhiệm vụ xử lý ngôn ngữ tư duy, trừu tượng, tính toán, phân loại, sắp xếp, ghi nhớ,…
  • Não phải có nhiệm vụ xử lý hình tượng tổng thể, khả năng cảm thụ âm nhạc,  phân biệt hình vẽ, bắt chước, phân tích trực quan, chỉnh thể vấn đề,…

4.1 Người có khuynh hướng về bán cầu não trái

Tư duy cảm tính
Tư duy lý tính – não trái
  • Thiên về lý tính nhiều hơn, có tư duy trừu tượng, tính khách quan, có lý luận chặt chẽ, xử lý vấn đề từng bước hợp lý.
  • Có tính logic phân tích từng bước và định hình tổng thể, biết cách so sánh, chứng minh và tìm tòi.
  • Biết cách đặt vấn đề, lập kế hoạch, có mục tiêu rõ ràng, có phương pháp làm việc đúng cách, cố nguyên tắc, có quy định, kiên trì và quyết đoán, làm chủ được thời gian.
  • Có tinh thần độc lập, nghị lực và bản lĩnh, sống thực tế.
  • Đời sống hơi khô khan và cứng nhắc ít sự sáng tạo, thiếu tình cảm, độc đoán, độc tài.

4.2 Người có khuynh hướng về bán cầu não phải

  • Những người này thường thiên về cảm tính, phán đoán theo chủ quan.
  • Xử lý nhiều ý tưởng cùng một lúc, dùng hình ảnh trực quan để nhớ, ít có cảm nhận về thời gian, dễ chán nản, bốc đồng, không có tính kiên nhẫn  và kém tập trung.
  • Thiên về cảm tính hơn lý tính, nhận xét và phán đoán tình huống theo thành kiến, chủ quan.
  • Thường sẽ thích trải nghiệm hơn là dùng những tài liệu khô khan, sử dụng từ ngữ diễn tả khó khăn, hay quyết định vội vàng, thiếu sự hệ thống.
  • Thích được chiều chuộng, vuốt ve, sống có tình cảm và hay bớt chợt tuy hứng cảm xúc.
  • Khó khăn trong việc phân bổ tính ưu tiên nên hay trễ giờ, trễ hạn trong công việc, dễ dàng thay đổi.
  • Vì trực giác rất nhạy bén nên không cần phải thông qua suy luận, có đầu óc hết sức sáng tạo và phong phú, dễ rung động, dễ mơ mộng sống không thực tế.
  • Có năng khiếu về nghệ thuật, âm nhạc, màu  sắc, chi tiết, chu đáo, có cái nhìn góc cạnh.
  • Sự tế nhị, mềm dẻo, giao tiếp tốt, có tính vị tha nhưng dễ bị bối rối và dễ khổ tâm.
Tư duy cảm tính
Tư duy cảm tính – não phải

Vì bán cầu não phải có  cơ năng mang tính chỉnh thể, tổng hợp, sáng tạo, trí tưởng tượng phong phú, nhạy cảm, tình cảm,… nên nhiều chức năng ưu thế ở mức độ cấp cao sẽ tập trung ở bán cầu não phải.

Mặc dù mỗi bên bán cầu não tương ứng với cảm tính và lý tính nhưng chúng sẽ hỗ trợ nhau trong quá trình hoạt động, vì thế chúng ta cần phải phát triển cân bằng cả não trái và não phải để trí tuệ phát triển, cân bằng tâm và trí con người, có sự hòa hợp giữa lý tính và cảm tính.

5. Sự cân bằng giữa cảm tính và lý tính

Tư duy cảm tính
Sự cân bằng giữa cảm tính và lý tính

Con người và vạn vật theo như kinh dịch đều bị chi phối bởi luật âm dương, chúng phải nương tựa nhau để tồn tại. Nếu như dương thịnh thì có được sự phát triển tốt nhưng nếu quá mạnh thì sẽ bị vỡ, còn nếu âm thịnh thì ổn định nhưng nhiều quá sẽ bị suy thoái và trì trệ.

Cảm tính thuộc về phần âm, lý tính thuộc về phần dương vì thế cần phải áp dụng để điều chỉnh trong con người, không nên thuần dương hay là thuần âm, tập trung vào chỉ một cái sẽ dẫn đến sự hủy diệt, phải luôn luôn trong âm có dương, trong dương có âm như mầm để nuôi dưỡng.

Để có được sự cân bằng trong con người, cần phải:

  • Học hỏi và trau dồi cả về trí và tâm của mình.
  • Cái tâm bao gồm nội tâm, ý chí, tình cảm, tâm linh, tri giác về thế giới, con người trong xã hội.
  • Tâm của chúng ta phải được soi sáng và dẫn dắt bởi cái lý chứ không dựa vào cảm xúc của mình.
  • Cái trí là khả năng suy luận, phán đoán, đi từ khái niệm đến kết luận và được kiểm nghiệm bằng thực tế theo từng bước quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, đặt giải thiết, kết luận, chứng minh dựa trên cơ sở khoa học.

Nhiệm vụ của lý tính là tìm ra sự thật, chân lý để soi sáng, dẫn dắt hành vi con người, cảm xúc, cảm tính thì lại không thể thiếu trong cuộc sống, thúc đẩy con người hành động, làm cho cuộc sống thêm phong phú, sinh động, sáng tạo. Tâm hồn con người trở nên nhiệt huyết, nhạy cảm và có sức sống hơn.

Nếu chỉ thuần cảm tình thì không khác gì các loài động vật, còn nếu thuần lý tình mà không có cảm tính thì cũng chỉ là những con robot đã được lập trình sẵn. Nếu con người chúng ta có cả tâm hồn, con tim, sự ý chí và lý tính mạnh để cân bằng sức sống cho mình, cho người khác thì đó chính là sự hòa hợp giữa cảm tính và lý tính.

_____________________________________________________________________________

Tư duy cảm tính

bài 1 

Một số lỗi tư duy cảm tính (Phần I)

Chúng ta thường đưa ra những phán đoán nhanh chóng mà không thèm suy nghĩ kĩ càng và cũng chả cảm thấy phiền về điều đó. Đôi lúc (nhờ may mắn) những phán đoán cảm tính đó đúng còn nhiều lúc thì sai. Nhưng ngay cả khi phán đoán đúng thì chúng ta cũng đang tư duy sai và dẫn đến một sự sai lầm có hệ thống trong cách nghĩ. Thế là, đến một lúc nào đó chúng ta chín chắn hơn và luôn suy tính cẩn thận, nhưng đã quá muộn. Chúng ta đang suy nghĩ kĩ càng một cách sai lầm.

Tiếp cận với Hai hệ thống

Giả sử trong chúng ta có hai ‘nhân vật’ (character) tồn tại và làm những nhiệm vụ riêng biệt là Hệ thống 1 và Hệ thống 2. 

Hệ thống 1 hoạt động theo cơ chế tự động và mau lẹ, với rất ít hoặc hầu như không cần cố gắng và không tự động kiểm soát

Hãy nhìn vào bức ảnh sau:

Rõ ràng bạn rất dễ dàng để nhận ra người đàn ông này đang tức giận và sẵn sàng buông những lời chỉ trích thậm tệ nhất. Và bạn làm việc này như một ‘bản năng’ mà chả cần tốn tí sức lực hay cảm thấy mệt mỏi gì cả. Đây là hoạt động tự động của Hệ thống 1, và còn bao gồm các hoạt động khác như:

– Nhìn xem trên bàn món đồ nào xa hơn, món đồ nào gần hơn.

– Nghe một âm thanh và biết nó phát ra từ hướng nào.

– Nhăn mặt trước một bộ ảnh gớm ghiếc.

– Nhận ra sự thù địch trong một giọng nói.

– Trả lời câu hỏi 1 + 1 = …

– Lái xe trên đường vắng.

– Tưởng tượng về tháp Ép-phen khi đọc câu này.

– Hiểu câu sau đây và có thể lấp đầy phần còn thiếu: Con mèo đi bằng bốn chân và có hai con mắt, thế nên nó có thể bắt…

 Hệ thống 1 bao gồm những kĩ năng để chúng ta thích nghi với môi trường. Nó cho phép chúng ta có một sự hiểu biết nhanh chóng về thế giới xung quanh và phản ứng lại. Tuy nhiên, trong một thế giới phức tạp như ngày nay, những phản ứng cần được tính toán kĩ càng bởi Hệ thống 2 để tránh đưa ra những quyết định cảm tính.

Hệ thống 2 tập trung sự chú ý đối với những hoạt động tư duy đòi hỏi sự nỗ lực, bao gồm những phép tính phức tạp. Cơ chế hoạt động của Hệ thống 2 thường gắn với những kinh nghiệm chủ quan, sự lựa chọn và tập trung của chủ thể.

Hãy thử căng não làm phép tính này mà không dùng bất cứ công cụ hỗ trợ nào (kể cả giấy và bút):

12 x 46

Tập trung đi nào..

Tiếp tục tập trung đi.

Có phải bạn đang cảm thấy hơi.. mệt? Tất nhiên, vì ngay lúc này đồng tử bạn đang giãn to ra, hệ thống làm mát bắt đầu hoạt động để giảm bớt nhiệt từ việc đốt ATP liên tục cho não bộ hoạt động. Tim cũng đập nhanh hơn một chút. Và bạn vẫn đang loay hoay vì không biết 542 có phải đáp án chính xác của phép toán này hay không. Đây là lúc bạn tập trung để giải quyết một vấn đề, bạn đang suy nghĩ một cách tích cực và chủ động. Hệ thống 2 bắt đầu làm việc, nó đi gom nhặt những quy tắc cộng trừ nhân chia bạn đã được học và bắt đầu xử lí dữ liệu. Hệ thống 2 cũng hoạt động khi:

– Tập trung chú ý vào nhà ảo thuật gia đang trình diễn.

– Tìm kiếm người bạn thích nơi đông người.

– Cố gắng nhớ lại tên ca khúc khi chỉ có thể nhớ giai điệu “từng tưng tưng tưng tứng tứng…”.

– Điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp trong từng tình huống xã hội cụ thể.

– Đếm số lần xuất hiện của chữ “đ” trong các gạch đầu dòng này.

– Kiểm tra tính hợp lí của một lập luận logic phức tạp.

– Tập trung lắng nghe tiếng của một người trong một nơi ồn ào.

Hiểu đơn giản, Hệ thống 1 giúp bạn thụ động xử lí thông tin còn Hệ thống 2 thì bắt bạn phải chủ động và tập trung chú ý. Chỉ cần bạn lơ là mất tập trung thì chả thể nào hoàn thành được các việc liệt kê ở gạch đầu dòng trên.

Mâu thuẫn giữa hai hệ thống và các cảm tính thường gặp

1. Mâu thuẫn

Bạn vào trong một nhà hàng và bắt gặp một cặp ăn mặc cực kì kì cục. Hệ thống 2 bảo với bạn rằng đừng nhìn vì như thế là bất lịch sự tuy nhiên bạn không thể cưỡng lại mong muốn quay đầu nhìn về phía họ của Hệ thống 1 (vì Hệ thống 1 luôn chú ý để những khác thường trong môi trường). Thế là buổi ăn hôm ấy trở nên khổ sở vì những mâu thuẫn trong chính tâm trí bạn.

Ở một trường hợp khác: Hệ thống 1 thôi thúc chúng ta bày tỏ tình cảm với người mình thích nhưng Hệ thống 2 phân tích kĩ càng và bảo rằng ta hãy tỏ ra lịch thiệp bằng cách đừng làm phiền người ấy nữa. Thật là khổ tâm quá mức mà…

2. Ảo giác

Hãy nhìn hình sau đây:

Hiệu ứng ảo giác Muller – Lyer 

Đây chỉ là hai đoạn thẳng được gắn hai ‘vây’ khác nhau: mũi tên hướng ra và mũi tên hướng vào. Giả sử hãy bỏ qua sự tồn tại của những cái vây đó, chúng ta sẽ cảm thấy đoạn thẳng phía dưới dài hơn phải không? Nhưng nếu dùng thước đo bạn sẽ nhận ra rằng hai hình này thực tế là bằng nhau. Bạn đã dùng Hệ thống 1 để đoán và Hệ thống 2 khi đo.

Để tránh được ảo giác này, chúng ta cần phải vượt qua cái được gọi là ‘cảm giác’ vì nếu chúng ta cứ thích ‘cảm giác’, chúng ta sẽ không chỉ vướng vào bẫy của hai đoạn thẳng trên mà còn vào một thứ nguy hiểm hơn là ảo giác nhận thức.

Không phải mọi ảo giác đều được thấy bằng mắt thường, đôi khi nó nằm trong suy nghĩ. Một giáo sư đã dặn dò các học trò của mình: “Rồi sẽ có lúc các trò gặp phải một bệnh nhân, anh ta chia sẻ với trò vô số những sai lầm mà anh ta phải chịu đựng trong những lần điều trị trước. Bệnh nhân này miêu tả một cách rành rọt chuyện các nhà trị liệu đã hiểu sai về anh ta như thế nào, anh ta nhận ra rằng bạn khác các bác sĩ trước. Bạn đồng cảm với anh ta, bị anh ta thuyết phục rằng chỉ bạn mới có khả năng giúp đỡ anh ta.” Đến đây, vị giáo sư cao giọng: “Đừng bao giờ nghĩ đến chuyện chữa trị cho anh ta. Đây là loại bệnh nhân tâm thần nhất và bạn chẳng thể nào giúp được anh ta cả. Hãy tống cổ anh ta ra khỏi phòng khám.” Một chuyên gia nghiên cứu tâm lí đầu ngành đã xác nhận sự đúng đắn của lời khuyên này: đồng cảm khiến cho chúng ta ảo tưởng và có những sai lầm trong quyết định. Việc bạn bị hấp dẫn bởi ai đó và bạn nghĩ rằng ‘chỉ mình mới có thể giúp họ’ khiến bạn bị vớ vẩn trong hành động. Ví dụ như tin rằng mình là học trò cưng của một giáo viên vì thường xuyên được khen, tin rằng ba mẹ thật sự tự hào về sự tài giỏi của mình hay tin rằng người yêu mình vô cùng ngưỡng mộ mình,… sẽ khiến cho bạn bị nhìn thấy mọi chuyện được gắn ‘vây’ (không phải vậy nhưng tưởng là vậy), chúng ta sẽ hành động thiếu đi tính khách quan và khi thất bại sẽ tự làm tổn thương mình.

3. Chú khỉ vô hình

Trong một thí nghiệm, người ta chiếu một đoạn phim về trận đấu bóng chày và yêu cầu người xem đếm số vận động viên mặc áo trắng mà không cần để ý đến những vận động viên mặc áo đen. Đến giữa đoạn phim, một người mặc trang phục giống như khỉ đột chạy ra giữa sân bóng và bắt đầu đấm thùm thụp vào ngực trong vòng 9 giây. Sau trận bóng, hơn một nửa số người xem không hề phát hiện ra sự hiện diện của “chú khỉ đột” này.

Đó là do bộ não chúng ta đang bận rộn với nhiệm vụ được giao. Điều này cho thấy rằng chúng ta thật sự đang bỏ qua rất nhiều điều xuất hiện trong đời mà không hề ý thức được điều đó. Đến khi đưa ra quyết định chúng ta cũng đã bỏ qua nó luôn. Và các bạn ạ, hãy đừng quá tập trung nghĩ/làm một việc khác khi đang có một nhiệm vụ quan trọng: lái xe chẳng hạn.

4. Bận rộn nhận thức

Vài nghiên cứu tâm lí học đã chứng minh những người đồng thời cảm thấy bị thử thách trước một nhiệm vụ nhận thức hay trước một sự cám dỗ thì có xu hướng khuất phục sự cám dỗ. Ví dụ: bạn được giao nhiệm vụ phải nhớ 7 con số, trong lúc đang tập trung thì có người mời một thanh socola hoặc một đĩa salad thì khả năng cao bạn sẽ chọn socola. Dù ai cũng biết salad thì tốt cho sức khỏe hơn socola.

Đây là do trong lúc Hệ thống 2 bận rộn trong việc giải toán thì Hệ thống 1 tranh thủ tác động đến hành vi của chúng ta. Những người trong tình trạng bận rộn nhận thức thường đưa ra những lựa chọn cá nhân, sử dụng ngôn ngữ nhạy cảm và đưa ra những nhận định hời hợt. Đó là lí do vì sao những người đang tập trung dễ cáu gắt và thường quyết định vô tội vạ khi được hỏi về các nhiệm vụ không liên quan đến nhiệm vụ họ đang tập trung giải quyết. Đó cũng là lí do vì sao khi chúng ta quá lo lắng đến kết quả của cuộc thi sẽ khiến chúng ta thi tệ hơn vì bộ não đang bị mất dung lượng cho việc lo lắng vớ vẩn này.

5. Sự suy yếu bản ngã

Khi bạn được yêu cầu phải làm trái với những gì ‘thông thường’ (trái với Hệ thống 1) thì khả năng cao sau đó khả năng tư duy bạn sẽ yếu hơn (Hệ thống 2 suy yếu).

Một nghiên cứu đã chỉ ra, những người được cho xem những bộ phim đầy cảm xúc nhưng bị bắt không được bộc lộ cảm xúc của mình ra sau đó sẽ đầu hàng sớm hơn trong các nhiệm vụ giải toán. Vì khi ấy, họ đang bị mệt mỏi do mâu thuẫn trong nhận thức. Những mâu thuẫn có thể xuất hiện trong các trường hợp sau:

– Đưa ra một loạt những lựa chọn gây tranh cãi.

– Cố gắng gây ấn tượng với người khác.

– Kiềm chế cảm xúc khi xem một bộ phim đầy cảm xúc.

– Phản ứng tử tế với những hành động xấu của bạn đời.

– …

Những mâu thuẫn trên sẽ gây ra những suy yếu sau:

– Phản ứng thái quá khi bị khiêu khích.

– “Vung tay quá trán” trong cơn cuồng mua sắm.

– Thể hiện kém trong các nhiệm vụ tư duy và khi phải đưa ra các quyết định logic.

– …

Các bạn thấy đó, một đời sống mà chúng ta phải làm những gì trái ngược với suy nghĩ hay lối cư xử thông thường sẽ khiến chúng ta bị suy yếu và đưa ra những quyết định tồi tệ – điều sẽ khiến cuộc sống chúng ta càng tồi tệ hơn. Do đó, hãy đừng lắt léo, đừng cố gắng chịu đựng,… điều này sẽ chỉ khiến bạn ngày càng tệ hơn mà chính bạn còn chẳng nhận ra được.

Các nhà khoa học cũng đã chỉ ra rằng: glucose giúp giảm sự suy yếu của não bộ. Do đó, sau mỗi phiên làm việc mệt mỏi và đối mặt với nhiều sự mâu thuẫn, hãy bổ sung glucose bằng cách uống một cốc nước chanh đường hoặc một ly trà đường. Điều này sẽ khiến chúng ta xử lí thông tin được tốt hơn – theo một cách mà chúng ta còn chẳng nhận ra được.

Không chỉ Glucose, tình trạng của cơ thể cũng khiến chúng ta đưa ra những quyết định khác nhau. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng các vị thẩm phán xét duyệt các hồ sơ xin ân xá có xu hướng ân xá các hồ sơ sau giờ ăn nhiều hơn (65%) so với trước khi ăn trưa (35%) và tỉ lệ này giảm dần khi càng xa giờ ăn trưa. Điều này cho thấy khi chúng ta đói – khát và mệt mỏi sẽ làm chúng ta dễ dàng thoả hiệp và đưa ra những quyết định dễ dàng (trong trường hợp của các vị thẩm phán thì từ chối ân xá là dễ dàng và không cần phải đắn đo nhiều). Điều này cũng cho thấy là bạn nên chỉ đưa ra những quyết định khi cơ thể ở trạng thái tốt nhất, và nên thao túng người khác bằng cách hỏi quyết định của họ khi họ đã khá mệt mỏi. Tất nhiên nhiều người tỉnh táo sẽ: “Giờ này tôi mệt rồi, mai giải quyết công việc nhé.”

6. Lười biếng trong suy nghĩ

Thể loại này mà sao trang cá nhân vài trăm ngàn like? Không khó hiểu lắm.

Hãy xem câu đố đơn giản này, và đừng cố gắng giải đố mà đưa ra một quyết định xuất hiện đầu tiên trong đầu các bạn:

Tổng giá của cái áo và cái quần là 110 đô.

Cái quần có giá cao hơn cái áo 100 đô.

Hỏi cái áo giá bao nhiêu đô?

Con số xuất hiện đầu tiên trong đầu bạn sẽ là 10 đô. Tuy nhiên suy nghĩ kĩ một tí bạn sẽ nhận ra đáp án phải là 5 đô. 

Buồn là, không phải lúc nào chúng ta cũng suy nghĩ kĩ khi phán đoán, chúng ta thường nghe trực giác nhiều hơn. Ví dụ như khi xem xét các mệnh đề đơn giản:

Chó là một loài động vật

Vài loài động vật có răng cửa

Cho nên vài loài chó có răng cửa.

“Đúng rồi”, não bạn bảo vậy. Nhưng nếu suy nghĩ kĩ càng hơn một tí, chúng ta sẽ thấy nhiều điểm bất hợp lí trong cách quy kết trên hay nói trắng ra chả liên quan gì đến nhau để kết luận cả. Vài loài động vật có răng cửa có thể không có loài chó trong đó.

Trực giác khiến chúng ta thỏa hiệp với những định kiến trong xã hội mà không cần suy nghĩ kĩ càng để kiểm chứng:

Nhiều người Thanh Hóa thì thiếu tử tế.

Thằng bạn mình người Thanh Hóa.

Cho nên rất có thể nó thiếu tử tế.

Nếu chịu suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy vô lí ngay từ khi cho rằng “Người Thanh Hóa thì thiếu tử tế”. Mà giả sử là điều này đúng thì chưa chắc thằng bạn chúng ta nằm trong số đó. Nếu muốn kiểm chứng thì phải xem xét qua nhiều phương diện khác nữa.

Cũng có thể nói “Nhiều gia đình ở Hà Nội khó khăn”, “Nhiều cô gái miền Nam thiếu đứng đắn”,… và kiểu tư duy này nhiều người mắc phải, và họ nghĩ vậy thật chứ không phải để “troll”.

Ngay từ đầu chúng ta đã lười biếng trong việc kiểm chứng những điều này, chúng ta chỉ nghe theo trực giác và hình thành một định kiến trong đầu. Điều này sẽ khiến chúng ta càng sống càng sai.

Chỉ có ít người cảnh giác hơn, động não hơn, không dễ hài lòng với những câu trả lời nông nổi vội vã và luôn hoài nghi trực giác của chính mình. Nhà tâm lí học Keith Stanovich gọi họ là những con người lí trí hơn.

7. Sự thỏa hiệp cám dỗ và tư duy “mì ăn liền”

Một trong những thí nghiệm nổi tiếng nhất ngành Tâm lý học là của Walter Mischel và các sinh viên của ông. Thí nghiệm này như sau:

Họ nghiên cứu những phản ứng điển hình của những đứa trẻ bốn tuổi. Họ cho chúng vào những cái phòng và chờ đợi. Nếu chúng chờ đủ 15 phút thì sẽ có người đến và cho chúng hai cái bánh, nếu không thì chúng có thể bấm chuông rồi ăn một cái bánh đã được đặt sẵn trong phòng. Trong phòng không có đồ chơi, không có sách, tranh hay bất cứ thứ gì có khả năng phân tán bọn nhóc.

Khoảng một nửa số trẻ đánh bại được sự nôn nóng và một nửa thì không. Những đứa trẻ chờ đủ 15 phút chủ yếu vì các bé tránh né khỏi ham muốn có được phần thưởng. 10 đến 15 năm sau, khoảng cách cưỡng lại ham muốn giữa cách nhóm trẻ này lại càng gia tăng nhiều hơn. Cụ thể là nhóm trẻ chờ đủ 15 phút ít vướng vào các tệ nạn ma túy hơn, thành tích trong các bài kiểm tra trí tuệ cũng tốt hơn.

Một thí nghiệm khác, do Shane Frederick tiến hành gọi là “Phản chiếu nhận thức”, cho các sinh viên trả lời các câu hỏi dễ nảy sinh trực giác (tương tự câu hỏi về áo và quần phía trên). Nhóm các sinh viên trả lời tệ hơn (trực giác mạnh và hệ thống 2 suy yếu hơn) sau đó được hỏi về quyết định: Chọn 34k USD ngay lập tức hay 38k USD trong một tháng sau. Có đến 64% trong số này thích “mì ăn liền” và chỉ có 37% trong nhóm những người trả lời đúng cả 3 câu hỏi về trực giác trên thích lấy tiền ngay. Khi được hỏi về họ sẵn sàng trả bao nhiêu cho một món đồ họ muốn có ngay trong ngày, những người ở nhóm đầu tiên sẵn lòng trả gấp đôi so với những người ở nhóm 2. Có thể gọi những người này là những con người “bốc đồng và trực giác”.

Có thể nói đây là do sự lười tư duy của con người. Ngày nay có nhiều sinh viên cũng thích kiểu “mì ăn liền” vậy, họ sẵn sàng nhảy vào đầu tư hay nhảy ra khởi nghiệp. Họ chả đem theo gì ngoài trực giác và sự tự tin quá mức vào khả năng của mình. Như một lẽ thường tình, những con người duy-trực-giác thường thất bại. Tiêu biểu là các anh bet bủng hay chơi số đề. Nếu chịu tư duy kĩ càng sẽ nhận ra xác suất thắng là rất thấp và chỉ có may mắn mới giúp được mình.

bài 2

Lối mòn của tư duy cảm tính: chúng ta đã ảo tưởng sức mạnh của chính mình như thế nào?

Từ một lượng thông tin hữu hạn và một sự thông hiểu có hạn, nếu tư duy theo cảm tính, bạn sẽ nhìn ngay ra một mối liên hệ, anh ta ghép chúng lại thành nhóm, và tái cấu trúc thành một câu chuyện mạch lạc, coi đây là câu chuyện đáng tin.

Anh bạn cùng lớp của tôi không phải cao thủ đánh bừa, làm bất động sản không thể nhanh giàu. Cao thủ đánh bừa chỉ là thứ có trong đầu óc của chúng tôi, kinh doanh bất động sản để giàu chỉ là một niềm tin mơ hồ của chúng ta.

Tự nhiên tôi giật mình nghĩ đến quảng cáo. Tôi từng đến một trường học quốc tế, người ta tạo ra rất nhiều thứ để chứng tỏ đây là một ngôi trường giàu có với trang thiết bị hiện đại. Bên trong có một khu sảnh rộng, trưng bày chân dung của những học sinh có thành tích xuất sắc.

Danh sách không có nhiều, 20 bạn là cùng. Phụ huynh đến trường, ai cũng tin đây là một trường chuẩn hiện đại, học sinh rất tài năng. Họ kết luận: Đây là một ngôi trường đáng tin và tôi muốn cho con học ở đây. Dựa vào cảm tính, các bậc phụ huynh đã đưa ra một phán đoán trên những biểu hiện của số ít, để đánh giá nhanh về một toàn thể.

Những ấn tượng ban đầu rất dễ đánh lừa tư duy cảm tính. Muốn đánh giá, phải nhìn vào cả quá trình. Phải nhìn vào điểm tổng kết của thằng bạn cùng lớp; nhìn đến kết quả cuối cùng của những người đặt niềm tin vào chứng khoán, bất động sản; nhìn vào quá trình thay đổi của học sinh khi chuyển trường.

Cảm tính tính toán thế nào?

Làm bài trắc nghiệm ai cũng biết có cách làm nhanh nhất, đấy là: Đánh bừa. Ngày xưa làm trắc nghiệm Toán có cậu bạn bày cho cả lớp cách đánh bừa, đó là câu trả lời thường nằm ở đáp án C, và ưu tiên số hai là đáp án B. Thế là cả lớp như “chết đuối vớ được cọc,” cứ câu nào bí thì khoanh C luôn, C nhiều quá thì khoanh thêm B (nghĩ lại thấy mình “ngu” thật, lúc sắp “chết” nói gì cũng tin!

Có lần tôi bí một câu, đang định khoanh C thì biết chắc C không đúng.

Tôi cũng chẳng hoài nghi gì cái “kế sách” của thằng bạn, tôi chuyển sang khoanh B thôi, dù câu A cảm giác đúng hơn. Thế rồi, vì học dốt nên chẳng bao giờ nhìn kết quả xem mình làm đúng hay sai (đằng nào chả là đánh bừa). Nhưng từ đấy tôi luôn nghĩ thằng bạn tôi nó mách đúng. Hôm làm IQ Test để xin việc, tôi cứ khoanh C rồi B. Mà giờ nghĩ lại, làm sao nó thống kê được C đúng nhiều nhất, B đúng nhiều nhì nhỉ?

Một ngày nọ, lớp tôi có người khoanh bừa mà được 9 điểm, lần tiếp theo được 8, tiếp lại được 7. Mọi người liên tôn cậu ta lên: CAO THỦ. Rồi lần kiểm tra tiếp theo nữa, ai cũng muốn hỏi được cao thủ kia mấy câu, chép được cả là tốt nhất. Thế mà tôi chép xong được có 3 điểm (số mình đen hay sao?).

Đến cuối kì, biết điểm tổng kết cậu ta, tôi và mọi người mới nhận ra, cậu ta không phải cao thủ, cậu ta hoàn toàn là ăn may. Điểm tổng kết cậu ta có khác mấy gì của tôi. (Tức là tổng trung bình các hệ số vào xong mới thấy là lúc này may được, thì lúc sau lại tụt xuống.) Làm tôi nghĩ đến mấy ông bác hay chơi cờ bạc ăn tiền, hôm nào “đỏ” thì rất hăng say, thích thú.

Thế nhưng chẳng nghĩ đến các hôm khá! Nếu nói là chơi vì tiền, thì tính ra bằng 0 cả. Tôi lại nghĩ tiếp đến mấy anh chơi chứng khoán, mấy chị đầu tư bất động sản. Cái thứ “ăn may, lộc lá” đấy hình như không có thật.

Cách đánh bừa này gọi là cảm tính. Hễ có cảm tính là chúng ta đưa ra các phán đoán như vậy đấy. Ba lần đánh bừa mà đều từ 7 điểm trở lên => Ta kết luận ngay đây là cao thủ. Đầu tư bất động sản cả năm lãi to => Ta kết luận luôn làm bất động sản nhanh giàu ghê.

________________________________________________________________________

bài 3

Tóm tắt sách: Lối mòn của tư duy cảm tính

Sách gồm 8 chương.

Chương 1: Nỗi sợ mất mát

Chúng ta thường nghĩ mình là những người suy nghĩ logic và hợp lý. Nhưng sự thật là con người ai cũng hành xử cảm tính, ngay cả phi công và bác sĩ phẫu thuật cũng có thể gây ra những sai lầm nghiêm trọng.

Nhưng điều gì thúc đẩy ta hành động cảm tính?

Nói ngắn gọn là chẳng ai thích mất mát, nỗi mất mát hay ác cảm về sự mất mát là một trong những yếu tố tìm ẩn kích thích hành vi cảm tính. Thú vị thay, cảm giác sợ mất mát nhiều hơn cả cảm giác vui khi được chiến thắng. Nên khi phải đối mặt với mất mát, ta sẽ né tránh nó bằng mọi giá. Sự nhạy cảm của ta với sự thay đổi giá thành sản phẩm là một minh hoạ hoạ cho biến động này. Vì sự tăng giá làm ta có cảm giác mất mát nên ta phản ứng với điều này mạnh hơn khi giảm giá xảy ra.

( Ví dụ từ sách: Khi giá trứng giảm, người ta chỉ mua nhiều trứng hơn một ít. Tuy nhiên khi giá tăng, ta giảm tiêu thụ trứng đến 2.5 lần. Hoặc mua bảo hiểm cho xe ô tô)

Chương 2: Rủi ro càng cao, ta càng cảm tính

Nỗi sợ mất mát là nguyên nhân khiến ta hành động theo cảm tính. Khi rủi ro cao và ta có thể đánh mất rất nhiều, ta càng hành động cảm tính hơn nữa. Nghịch cảnh thay, khi càng cố tránh mất mát lớn và làm bất cứ thứ gì để tránh nó, ta thường gây ra nhiều tổn thất hơn so với hậu quả mình lo sợ ban đầu.

Những chiến lược đầu tư thường khuyến khích hành động cảm tính. ( Cổ phiếu)

Sự gắn bó với một ý tưởng thường làm ta khó rời bỏ nó, ngay cả khi ý tưởng đó không khả thi.

Chương 3:Sự phân bổ giá trị

Ấn tượng ban đầu rất quan trọng, dù cho đó là một đôi giày mới hay một tình huống xã hội mới. Những ấn tượng ban đầu của ta đôi khi sẽ hình thành nhận thức sau này. Yếu tố chính hình thành nên hiện tượng này là sự phân bổ giá trị.

Nghĩa là xu hướng gán những giá trị nhất định cho đối tượng khác dựa trên những hoàn cảnh mà ta trải nghiệm lúc ban đầu. Một hoàn cảnh như vậy thì liên quan đến một hoặc nhiều người cụ thể. 

Ví dụ, nghe ý tưởng kinh doanh từ một người mà mình không thích, ta có thể thấy ý tưởng đó dở hơn ý tưởng người mà mình thích. Theo đó, giá trị của người thứ nhất trong trường hợp này là mức độ ưa thích của ta đối với họ, ảnh hưởng đến ấn tượng ban đầu của ta về ý tưởng kinh doanh.

Chương 4: Vì sao tình yêu mù quáng?

Chương 5: Lời nói quyết định kết quả

Sự thật là ta rất dễ hình thành một đặc điểm nhất định khi ta bị dán nhãn đặc điểm đó ( đẹp – xấu, béo- ốm). Điều này có thể tác động tích cực lẫn tiêu cực đến ta. HIệu ứng Pygmalio có thể giải thích hiện tượng này.

Hiệu ứng Pygmalion được diễn giải qua bốn quá trình sau:

– Chúng ta hình thành kỳ vọng về con người hay sự kiện

– Chúng ta thể hiện kỳ vọng đó qua những tín hiệu giao tiếp, đối đãi…

– Người ta có khuynh hướng đáp lại những tín hiệu đó bằng cách điều chỉnh cách cư xử của họ cho phù hợp

– Kết quả là kỳ vọng ban đầu trở thành hiện thực

—> Nghĩa là khi kỳ vọng ta tăng lên, ta có thể đạt được kết quả tốt hơn.

Hiệu ứng Golem là một hiện tượng tâm lý trong đó việc những người giám sát hoặc những cá nhân đặt ra những kỳ vọng thấp hơn vào cá nhân đó dẫn đến kết quả hoạt động kém hơn của cá nhân. Nghĩa là họ có cảm giác tiêu cực về những gì họ bị dán nhãn. Ví dụ, sợ lão hoá khiến ta già hơn.

Chương 6: Góc khuất của sự cân bằng.

Dù là chơi thể thao, cố gắng thăng chức hay chơi vé số,… đa số chúng ta đều cảm thấy sư công bằng là yếu tố quan trọng cho những tương tác của mình. Kỳ lạ thay, cứ khăng khăng đòi công bằng, trong khi có đôi lúc ta lại cư xử thiếu công bằng.

Ví dụ, hành vi của khán giả xem chương trình Ai là triệu phú. Trong chương trình, người chơi có thể nhờ sự trợ giúp của khán giả. Khán giả đã thể hiện quan điểm về sự công bằng của mình, nghĩa là nếu người chơi không biết đáp án cho một câu hỏi căn bản thì anh ta không xứng đáng thắng cuộc và sự trợ giúp anh ta là không công bằng. Tuy nhiên sự công bằng trong một số nền văn hoá cũng khác nhau.  Các dự liệu cho thấy khán giả Mỹ có xu hướng giúp đỡ người chơi bất kể khả năng như thế nào của họ, vì 90% đáp án từ khán giả là chính xác. Còn khán giả Nga thì ngược lại, thường đưa ra đáp án sai bất kể người chơi.

Ta biết hành vi của mình bị ảnh hưởng nặng nề bởi nhận thức về sự công bằng. Vậy điều gì khiến ta cảm thấy việc gì đó là công bằng? Một thành tố chính của sự công bằng là được nói lên quan điểm.

Chương 7: Luôn nghĩ về bức tranh tổng thể

Bạn đang lái xe đến một buổi họp quan trọng rồi đột nhiên bánh xe bị xì lốp, banh nhanh chóng thay lốp và đi tiếp nhưng bạn đã bị muộn, nạn nhớ có con đường đi tắt giúp bạn tiết kiệm thời gian nhưng bạn chưa đi qua đó bao giờ. Bạn sẽ làm gì?

Thông thường, thôi thúc đầu tiên của ta là sẽ đi đường tắt vì nỗi sợ mất mát đã được kích hoạt. Tuy nhiên, nếu ta cân nhắc bức tranh tổng thể, lựa chọn tốt nhất là vẫn đi con đường quen thuộc, con đường quen thuộc chắc chắn sẽ đưa bạn đến nơi.

Dù sao đi trễ 15p cũng không phải là thảm hoạ. Con đường tắt có thể giúp bạn tiết kiệm thời gian, nhưng nếu bạn đi lạc, bạn có thể bỏ lỡ cả buổi hợp.

→ Tình huống này cho thấy tầm trọng của việc bỏ qua những xui rủi trong quá khứ và tập trung vào bức tranh tổng thể hiện tại. Vì thế, dù cho vừa phạm sai lầm hay đang đối mặt với các hậu quả của hành vi trong quá khứ, bạn phải luôn sẵn sàng quên đi quá khứ và nghĩ về bức tranh tổng thể hiện tại.

Tổng kết:

Ta không hề tư duy hợp lý như ta tưởng, rất nhiều yếu tố vô thức tác động đến hành vi cảm tính của ta. Ta có một nỗi sợ mất mát vô lý và cho phép những ấn tượng ban đầu điều khiển những ấn tượng ban đầu của mình về người khác.

Lời khuyên:

Hãy đánh giá vấn đề qua góc nhìn mới mẻ, đôi khi quá khứ có ảnh hưởng nhiều hơn ta nghĩ. Ví dụ, ta có thể làm việc theo một cách nhất định bởi vì đó là cách ta luôn áp dụng, những thói quen này đã sinh ra sự thụ động, thậm chí làm ta không nghĩ đến việc thay đổi. Để vượt qua tình trạng đó, hãy tưởng tượng bạn vừa mới đi làm,  rồi xét xem mình sẽ nghĩ thế nào về cách bạn làm việc và những thói quen này.

Bài học rút ra từ sách -Lối mòn của tư duy cảm tính-

Tâm lí lo sợ thiệt hại : Con người thường có những tâm lí lo sợ, khi gặp những tình huống nguy hiểm và khẩn cấp, con người thường có xu hướng tìm đến sự an toàn, và đôi khi tâm lí đó làm cho con người có những quyết định sai lầm và để lại những hậu quả nặng nề, những lúc như này chúng ta cần phải hết sức bình tĩnh để chiến thắng những tư duy cảm tính. (rất nhiều ví dụ được đưa ra trong sách)

Hiện tượng sai lệch chuẩn đoán : đây là hiện tượng phán xét 1 người hay 1 sự việc chỉ thông qua 1 khía canh, hay 1 ít thông tin ban đầu nên dẫn đến những kết luận không khách quan. Hiện tượng này xảy ra hằng ngày xung quanh bản thân chúng ta, và chúng ta k ai nhận ra điều đó để tư duy cảm tính điều khiển cảm xúc cũng như hành động của chúng ta. Khi tâm lý quy kết giá trị (do sai lệch chuẩn đoán) phát huy, nó hoàn toàn tác động tiêu cực đến khả năng ra quyết định của mỗi người.

Hiệu ứng tắc kè hoa : Luôn có sự tồn tại của một động lực ngầm bên trong những tương tác tưởng chừng đơn giản nhất, và chính điều này đã biến chúng ta thành những người dễ thay đổi, dễ bị lay chuyển về mặt tâm lý khi có tác động từ bên ngoài.

_____________________________________________________________________

Kết hợp với tài liệu đã có trên site

Tư Duy Cảm Tính, Linh Tính

Lý luận cảm xúc

Lý luận cảm xúc là một quá trình nhận thức mà qua đó một cá nhân kết luận rằng phản ứng cảm xúc của họ chứng minh điều gì đó là đúng, bất chấp bằng chứng thực nghiệm trái ngược. Lý trí cảm xúc tạo ra một ‘sự thật cảm xúc’, có thể mâu thuẫn trực tiếp với ‘sự thật đặc biệt’ ngược lại. Nó có thể tạo ra cảm giác lo lắng, sợ hãi và e ngại trong các tình huống căng thẳng hiện có, và như vậy, thường liên quan hoặc kích hoạt bởi rối loạn hoảng sợ hoặc rối loạn lo âu. Ví dụ, mặc dù vợ / chồng chỉ thể hiện sự tận tâm, nhưng một người sử dụng lý trí cảm tính có thể kết luận, “Tôi biết vợ / chồng tôi không chung thủy vì tôi cảm thấy ghen tị .”

Quá trình này khuếch đại ảnh hưởng của các biến dạng nhận thức khác . Ví dụ, một học sinh có thể cảm thấy không an toàn về sự hiểu biết của họ về tài liệu kiểm tra mặc dù họ có khả năng trả lời các câu hỏi. Nếu học sinh đó hành động vì sự bất an của họ về việc trượt bài kiểm tra, họ có thể đưa ra giả định rằng họ hiểu sai tài liệu và do đó có thể đoán câu trả lời một cách ngẫu nhiên, gây ra sự thất bại của chính họ trong một lời tiên tri tự ứng nghiệm.

Lý luận cảm tính có liên quan đến các khái niệm tương tự khác, chẳng hạn như: lý luận có động cơ, một loại lý luận trong đó các cá nhân đạt được kết luận từ sự thiên vị thay vì động cơ thực nghiệm; Trí tuệ cảm xúc , liên quan đến cách mà các cá nhân sử dụng cảm xúc của họ để hiểu các tình huống hoặc thông tin và đưa ra kết luận; và méo mó nhận thức hoặc thiếu hụt nhận thức, trong đó các cá nhân hiểu sai các tình huống hoặc đưa ra quyết định mà không xem xét một loạt các hậu quả.

Nguồn gốc 

Lý luận cảm xúc là một khái niệm lần đầu tiên được đưa ra bởi bác sĩ tâm thần Aaron Beck. Nó được đưa vào như một phần trong chủ đề nghiên cứu rộng lớn hơn của Beck: lệch lạc nhận thức và trầm cảm. Để chống lại những sai lệch về nhận thức, Beck đã phát triển một loại liệu pháp chính thức được gọi là liệu pháp nhận thức, được kết hợp với liệu pháp nhận thức-hành vi. Suy luận theo cảm xúc được cho là do suy nghĩ tự động, nhưng Beck tin rằng nó xuất phát từ những suy nghĩ tiêu cực không thể kiểm soát và xảy ra mà không cần nỗ lực. Lý do này đã được chấp nhận phổ biến trong những năm qua. Gần đây nhất, một giải thích mới nói rằng một “tác nhân kích hoạt” hoặc kích hoạt cảm giác từ môi trường làm tăng kích thích cảm xúc. Với sự gia tăng kích thích này, một số khu vực của não bị ức chế. Sự kết hợp giữa sự gia tăng kích thích cảm xúc và sự ức chế của các bộ phận trong não dẫn đến lý trí theo cảm xúc.

Điều trị 

Trước khi tìm kiếm sự trợ giúp của chuyên gia, một cá nhân có thể ảnh hưởng đến tác động của lý trí cảm xúc đối với họ dựa trên phương pháp đối phó của họ . Sử dụng phong cách đối phó chủ động, tập trung vào vấn đề sẽ hiệu quả hơn trong việc giảm căng thẳng và ngăn chặn các sự kiện căng thẳng. Ngoài ra, được hỗ trợ xã hội tốt cũng giúp giảm căng thẳng tâm lý. Nếu một cá nhân chọn tìm kiếm sự trợ giúp chuyên nghiệp, bác sĩ tâm lý thường sẽ sử dụng liệu pháp nhận thức – hành vi để dạy bệnh nhân cách thách thức những sai lệch về nhận thức của họ, bao gồm cả lý trí cảm xúc. Trong cách tiếp cận này, những suy nghĩ tự động điều khiển lý trí cảm xúc được bệnh nhân xác định, nghiên cứu và lập luận thông qua. Khi làm như vậy, nhà tâm lý học hy vọng sẽ thay đổi suy nghĩ tự động của bệnh nhân và giảm mức độ căng thẳng của bệnh nhân. Liệu pháp nhận thức hành vi thường được coi là phương pháp hiệu quả nhất để điều trị lý trí cảm xúc.

Gần đây nhất, một phương pháp trị liệu mới sử dụng phương pháp RIGAAR để giảm căng thẳng cảm xúc. RIGAAR là từ viết tắt của: xây dựng mối quan hệ, thu thập thông tin, thiết lập mục tiêu, truy cập tài nguyên, thống nhất chiến lược và diễn tập thành công. (rapport building, information gathering, goal setting, accessing resources, agreeing strategies and rehearsing success)

Giảm kích thích cảm xúc cũng được đề xuất bởi cách tiếp cận của con người để chống lại lý trí cảm xúc. Kích thích cảm xúc cao sẽ ức chế các vùng não cần thiết cho suy luận phức hợp logic. Khi ít xúc động hơn, lý trí nhận thức ít bị ảnh hưởng hơn và chủ thể dễ dàng tách rời thực tế khỏi cảm xúc.

Các yếu tố 

Lược đồ nhận thức là một trong những yếu tố để gây ra suy luận cảm tính. Lược đồ được tạo ra từ cách chúng ta nhìn thế giới này và trải nghiệm thực tế của chúng ta. Lược đồ giúp chúng ta ghi nhớ những điều hoặc sự kiện quan trọng đã xảy ra trong cuộc sống của chúng ta. Kết quả của quá trình học tập là lược đồ, và nó cũng được tạo ra bởi điều kiện hoạt động và cổ điển. Ví dụ, một cá nhân có thể phát triển một lược đồ về những kẻ khủng bố và nhện rất nguy hiểm. Dựa trên giản đồ của họ, mọi người có thể thay đổi suy nghĩ của họ hoặc cách họ thành kiến ​​về cách họ nhìn nhận mọi thứ. Những thành kiến ​​về xử lý thông tin của lược đồ ảnh hưởng đến cách một người suy nghĩ và ghi nhớ cũng như hiểu biết của họ về trải nghiệm và thông tin. Sự thiên vị làm cho lược đồ của một người tự động truy cập nội dung tương tự của lược đồ. Ví dụ, một người mắc chứng sợ chuột nếu có nhiều khả năng hình dung hoặc cảm nhận được một con chuột ở gần họ. Các lược đồ cũng dễ dàng kết nối với các kích thích trung tâm của lược đồ. Ví dụ, khi những người trầm cảm bắt đầu nghĩ về những điều tiêu cực, họ có thể rất khó nghĩ về bất cứ điều gì tích cực.

Đối với sai lệch về trí nhớ, giản đồ có thể ảnh hưởng đến hồi ức của một cá nhân để gây ra những ký ức không giống với giản đồ. Ví dụ, nếu các cá nhân có một lược đồ về mức độ thông minh của họ, thì những hồi ức liên quan đến thất bại có cơ hội cao được lưu lại trong tâm trí họ và họ có khả năng nhớ lại những sự kiện tích cực trong quá khứ. Lược đồ cũng làm cho các cá nhân thành kiến ​​thông qua cách họ giải thích thông tin. Nói cách khác, lược đồ thay đổi hiểu biết của họ về thông tin. Ví dụ, khi mọi người từ chối giúp những đứa trẻ có lòng tự trọng thấp giải một bài toán, trẻ có thể nghĩ rằng chúng quá ngu ngốc để học cách giải bài toán hơn là những người khác quá bận rộn để giúp đỡ. 

Kỹ thuật giảm thiểu 

Các kỹ thuật để giảm thiểu lý trí cảm xúc bao gồm:

  • Kiểm tra tính xác thực: Bệnh nhân bảo vệ suy nghĩ và ý tưởng của mình bằng cách sử dụng bằng chứng khách quan để hỗ trợ các giả định của họ. Nếu không thể, họ có thể tiếp xúc với lý trí cảm tính.
  • Đảo ngược nhận thức: Bệnh nhân được kể về một tình huống khó khăn mà họ từng gặp phải trong quá khứ và làm việc với bác sĩ trị liệu để giúp họ giải quyết và sửa chữa các vấn đề của họ. Điều này có thể giúp bệnh nhân chuẩn bị cho những tình huống tương tự để họ không quay lại với lý trí theo cảm xúc.
  • Khám phá có hướng dẫn: Nhà trị liệu hỏi bệnh nhân một loạt câu hỏi được thiết kế để giúp họ nhận ra những sai lệch trong nhận thức của mình.
  • Viết nhật ký: Bệnh nhân hình thành thói quen viết nhật ký để ghi lại những tình huống mà họ phải đối mặt, những cảm xúc và suy nghĩ mà họ trải qua cũng như phản ứng hoặc hành vi của họ đối với chúng. Sau đó, nhà trị liệu và bệnh nhân sẽ phân tích cách thức mà các kiểu suy nghĩ không tốt của bệnh nhân ảnh hưởng đến hành vi của họ.
  • Bài tập về nhà: Khi bệnh nhân có được khả năng tự phục hồi và ghi nhớ những hiểu biết sâu sắc có được từ các buổi trị liệu, bệnh nhân có nhiệm vụ xem lại các buổi trị liệu và đọc sách liên quan để tập trung suy nghĩ và hành vi của họ, được ghi lại và xem xét cho buổi trị liệu tiếp theo.
  • Mô hình hóa: Nhà trị liệu có thể sử dụng việc nhập vai để hành động theo những cách khác nhau nhằm đáp ứng các tình huống tưởng tượng để bệnh nhân có thể hiểu và làm mẫu cho hành vi của họ.
  • Tăng cường tích cực có hệ thống: Nhà trị liệu định hướng hành vi sẽ sử dụng một hệ thống khen thưởng ( củng cố tích cực có hệ thống ) để thúc đẩy bệnh nhân củng cố các hành vi cụ thể. 

Những ký ức tiêu cực và hoàn cảnh cuộc sống căng thẳng có cơ hội gây ra trầm cảm. Yếu tố chính gây ra trầm cảm là những kinh nghiệm sống chưa được giải đáp. Những người hay suy luận về cảm xúc có nhiều khả năng mắc bệnh trầm cảm hơn. Liệu pháp tập trung vào cảm xúc (EFT) là một hình thức trị liệu tâm lý có thể giúp mọi người tìm thấy quan điểm tích cực về quá trình cảm xúc của họ. EFT là một phương pháp điều trị dựa trên nghiên cứu nhấn mạnh vào sự thay đổi cảm xúc, đó là mục tiêu của liệu pháp này. EFT có hai liệu pháp thay thế khác nhau để điều trị: liệu pháp nhận thức-hành vi (CBT), nhấn mạnh vào việc thay đổi những suy nghĩ và hành vi tự đánh bại bản thân; và liệu pháp giữa các cá nhân (IPT), trong đó nhấn mạnh đến việc thay đổi các kỹ năng của con người để tương tác tốt hơn với những người khác. 

EFT hoạt động dựa trên sự hiểu biết rằng sự phát triển của một người bị ảnh hưởng bởi những ký ức và trải nghiệm cảm xúc. Mục đích của liệu pháp là thay đổi quá trình cảm xúc bằng cách tái hiện những trải nghiệm cảm xúc đau đớn và đưa chúng vào nhận thức. Quá trình này giúp bệnh nhân phân biệt giữa những gì họ trải qua và ảnh hưởng của những kinh nghiệm trong quá khứ đối với cảm giác của họ. Điều này có thể giúp bản thân nhận thức rõ hơn về những gì họ muốn trong cuộc sống và cho phép ra quyết định tốt hơn thông qua việc giảm thiểu lý trí theo cảm tính. Một mục đích khác của EFT là thúc đẩy trí tuệ cảm xúc, đó là khả năng hiểu cảm xúc của họ và nhận thức thông tin cảm xúc, kiểm soát hành vi của họ trong khi phản ứng với các vấn đề.

Đối phó tập trung vào cảm xúc là một cách tập trung vào việc quản lý cảm xúc của một người để giảm căng thẳng và cũng để giảm cơ hội suy luận về cảm xúc. Liệu pháp nhận thức là một hình thức trị liệu giúp bệnh nhân nhận ra các kiểu suy nghĩ tiêu cực của họ về bản thân và các sự kiện để điều chỉnh các kiểu suy nghĩ này và thay đổi hành vi của họ. Liệu pháp nhận thức-hành vi giúp các cá nhân thực hiện tốt các nhiệm vụ nhận thức và giúp họ suy nghĩ lại tình huống của mình theo hướng có lợi cho họ. Điều trị bằng liệu pháp nhận thức-hành vi là thông qua quá trình học hỏi và thực hiện thay đổi những cảm xúc, suy nghĩ và hành vi không phù hợp.

Hàm ý 

Nếu không được điều trị, các tác dụng suy nhược có thể xảy ra, phổ biến nhất là trầm cảm. Tuy nhiên, lý trí cảm tính có khả năng hữu ích khi đánh giá thế giới bên ngoài chứ không phải bản thân chúng ta. Cảm giác của một người khi đánh giá một đồ vật, con người hoặc sự kiện, có thể là một phản ứng sinh tồn bản năng và một cách để thích nghi với thế giới. “Các hạch hạnh nhân được chôn sâu trong hệ limbic đóng vai trò như một thiết bị cảnh báo sớm về sự mới lạ, chính xác để có thể huy động sự chú ý để cảnh báo tâm trí về mối nguy hiểm tiềm tàng và chuẩn bị cho khả năng bay hoặc chiến đấu.”

Một số lỗi của tư duy cảm tính

Chúng ta thường đưa ra những phán đoán nhanh chóng mà không thèm suy nghĩ kĩ càng và cũng chả cảm thấy phiền về điều đó. Đôi lúc (nhờ may mắn) những phán đoán cảm tính đó đúng còn nhiều lúc thì sai. Nhưng ngay cả khi phán đoán đúng thì chúng ta cũng đang tư duy sai và dẫn đến một sự sai lầm có hệ thống trong cách nghĩ. Thế là, đến một lúc nào đó chúng ta chín chắn hơn và luôn suy tính cẩn thận, nhưng đã quá muộn. Chúng ta đang suy nghĩ kĩ càng một cách sai lầm.

Tiếp cận với Hai hệ thống

Giả sử trong chúng ta có hai ‘nhân vật’ (character) tồn tại và làm những nhiệm vụ riêng biệt là Hệ thống 1 và Hệ thống 2. 

Hệ thống 1 hoạt động theo cơ chế tự động và mau lẹ, với rất ít hoặc hầu như không cần cố gắng và không tự động kiểm soát

Hãy nhìn vào bức ảnh sau:

Hình 1: 

Rõ ràng bạn rất dễ dàng để nhận ra người đàn ông này đang tức giận và sẵn sàng buông những lời chỉ trích thậm tệ nhất. Và bạn làm việc này như một ‘bản năng’ mà chả cần tốn tí sức lực hay cảm thấy mệt mỏi gì cả. Đây là hoạt động tự động của Hệ thống 1, và còn bao gồm các hoạt động khác như:

– Nhìn xem trên bàn món đồ nào xa hơn, món đồ nào gần hơn.

– Nghe một âm thanh và biết nó phát ra từ hướng nào.

– Nhăn mặt trước một bộ ảnh gớm ghiếc.

– Nhận ra sự thù địch trong một giọng nói.

– Trả lời câu hỏi 1 + 1 = …

– Lái xe trên đường vắng.

– Tưởng tượng về tháp Ép-phen khi đọc câu này.

– Hiểu câu sau đây và có thể lấp đầy phần còn thiếu: Con mèo đi bằng bốn chân và có hai con mắt, thế nên nó có thể bắt…

 Hệ thống 1 bao gồm những kĩ năng để chúng ta thích nghi với môi trường. Nó cho phép chúng ta có một sự hiểu biết nhanh chóng về thế giới xung quanh và phản ứng lại. Tuy nhiên, trong một thế giới phức tạp như ngày nay, những phản ứng cần được tính toán kĩ càng bởi Hệ thống 2 để tránh đưa ra những quyết định cảm tính.

Hệ thống 2 tập trung sự chú ý đối với những hoạt động tư duy đòi hỏi sự nỗ lực, bao gồm những phép tính phức tạp. Cơ chế hoạt động của Hệ thống 2 thường gắn với những kinh nghiệm chủ quan, sự lựa chọn và tập trung của chủ thể.

Hãy thử căng não làm phép tính này mà không dùng bất cứ công cụ hỗ trợ nào (kể cả giấy và bút):

12 x 46

Tập trung đi nào..

Tiếp tục tập trung đi.

Có phải bạn đang cảm thấy hơi.. mệt? Tất nhiên, vì ngay lúc này đồng tử bạn đang giãn to ra, hệ thống làm mát bắt đầu hoạt động để giảm bớt nhiệt từ việc đốt ATP liên tục cho não bộ hoạt động. Tim cũng đập nhanh hơn một chút. Và bạn vẫn đang loay hoay vì không biết 542 có phải đáp án chính xác của phép toán này hay không. Đây là lúc bạn tập trung để giải quyết một vấn đề, bạn đang suy nghĩ một cách tích cực và chủ động. Hệ thống 2 bắt đầu làm việc, nó đi gom nhặt những quy tắc cộng trừ nhân chia bạn đã được học và bắt đầu xử lí dữ liệu. Hệ thống 2 cũng hoạt động khi:

– Tập trung chú ý vào nhà ảo thuật gia đang trình diễn.

– Tìm kiếm người bạn thích nơi đông người.

– Cố gắng nhớ lại tên ca khúc khi chỉ có thể nhớ giai điệu “từng tưng tưng tưng tứng tứng…”.

– Điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp trong từng tình huống xã hội cụ thể.

– Đếm số lần xuất hiện của chữ “đ” trong các gạch đầu dòng này.

– Kiểm tra tính hợp lí của một lập luận logic phức tạp.

– Tập trung lắng nghe tiếng của một người trong một nơi ồn ào.

Hiểu đơn giản, Hệ thống 1 giúp bạn thụ động xử lí thông tin còn Hệ thống 2 thì bắt bạn phải chủ động và tập trung chú ý. Chỉ cần bạn lơ là mất tập trung thì chả thể nào hoàn thành được các việc liệt kê ở gạch đầu dòng trên.

Mâu thuẫn giữa hai hệ thống và các cảm tính thường gặp

1. Mâu thuẫn

Bạn vào trong một nhà hàng và bắt gặp một cặp ăn mặc cực kì kì cục. Hệ thống 2 bảo với bạn rằng đừng nhìn vì như thế là bất lịch sự tuy nhiên bạn không thể cưỡng lại mong muốn quay đầu nhìn về phía họ của Hệ thống 1 (vì Hệ thống 1 luôn chú ý để những khác thường trong môi trường). Thế là buổi ăn hôm ấy trở nên khổ sở vì những mâu thuẫn trong chính tâm trí bạn.

Ở một trường hợp khác: Hệ thống 1 thôi thúc chúng ta bày tỏ tình cảm với người mình thích nhưng Hệ thống 2 phân tích kĩ càng và bảo rằng ta hãy tỏ ra lịch thiệp bằng cách đừng làm phiền người ấy nữa. Thật là khổ tâm quá mức mà…

2. Ảo giác

Hãy nhìn hình sau đây:

Hình 2:

Đây chỉ là hai đoạn thẳng được gắn hai ‘vây’ khác nhau: mũi tên hướng ra và mũi tên hướng vào. Giả sử hãy bỏ qua sự tồn tại của những cái vây đó, chúng ta sẽ cảm thấy đoạn thẳng phía dưới dài hơn phải không? Nhưng nếu dùng thước đo bạn sẽ nhận ra rằng hai hình này thực tế là bằng nhau. Bạn đã dùng Hệ thống 1 để đoán và Hệ thống 2 khi đo.

Để tránh được ảo giác này, chúng ta cần phải vượt qua cái được gọi là ‘cảm giác’ vì nếu chúng ta cứ thích ‘cảm giác’, chúng ta sẽ không chỉ vướng vào bẫy của hai đoạn thẳng trên mà còn vào một thứ nguy hiểm hơn là ảo giác nhận thức.

Không phải mọi ảo giác đều được thấy bằng mắt thường, đôi khi nó nằm trong suy nghĩ. Một giáo sư đã dặn dò các học trò của mình: “Rồi sẽ có lúc các trò gặp phải một bệnh nhân, anh ta chia sẻ với trò vô số những sai lầm mà anh ta phải chịu đựng trong những lần điều trị trước. Bệnh nhân này miêu tả một cách rành rọt chuyện các nhà trị liệu đã hiểu sai về anh ta như thế nào, anh ta nhận ra rằng bạn khác các bác sĩ trước. Bạn đồng cảm với anh ta, bị anh ta thuyết phục rằng chỉ bạn mới có khả năng giúp đỡ anh ta.” Đến đây, vị giáo sư cao giọng: “Đừng bao giờ nghĩ đến chuyện chữa trị cho anh ta. Đây là loại bệnh nhân tâm thần nhất và bạn chẳng thể nào giúp được anh ta cả. Hãy tống cổ anh ta ra khỏi phòng khám.” Một chuyên gia nghiên cứu tâm lí đầu ngành đã xác nhận sự đúng đắn của lời khuyên này: đồng cảm khiến cho chúng ta ảo tưởng và có những sai lầm trong quyết định. Việc bạn bị hấp dẫn bởi ai đó và bạn nghĩ rằng ‘chỉ mình mới có thể giúp họ’ khiến bạn bị vớ vẩn trong hành động. Ví dụ như tin rằng mình là học trò cưng của một giáo viên vì thường xuyên được khen, tin rằng ba mẹ thật sự tự hào về sự tài giỏi của mình hay tin rằng người yêu mình vô cùng ngưỡng mộ mình,… sẽ khiến cho bạn bị nhìn thấy mọi chuyện được gắn ‘vây’ (không phải vậy nhưng tưởng là vậy), chúng ta sẽ hành động thiếu đi tính khách quan và khi thất bại sẽ tự làm tổn thương mình.

3. Chú khỉ vô hình

hình 3

Trong một thí nghiệm, người ta chiếu một đoạn phim về trận đấu bóng chày và yêu cầu người xem đếm số vận động viên mặc áo trắng mà không cần để ý đến những vận động viên mặc áo đen. Đến giữa đoạn phim, một người mặc trang phục giống như khỉ đột chạy ra giữa sân bóng và bắt đầu đấm thùm thụp vào ngực trong vòng 9 giây. Sau trận bóng, hơn một nửa số người xem không hề phát hiện ra sự hiện diện của “chú khỉ đột” này.

Đó là do bộ não chúng ta đang bận rộn với nhiệm vụ được giao. Điều này cho thấy rằng chúng ta thật sự đang bỏ qua rất nhiều điều xuất hiện trong đời mà không hề ý thức được điều đó. Đến khi đưa ra quyết định chúng ta cũng đã bỏ qua nó luôn. Và các bạn ạ, hãy đừng quá tập trung nghĩ/làm một việc khác khi đang có một nhiệm vụ quan trọng: lái xe chẳng hạn.

4. Bận rộn nhận thức

Vài nghiên cứu tâm lý học đã chứng minh những người đồng thời cảm thấy bị thử thách trước một nhiệm vụ nhận thức hay trước một sự cám dỗ thì có xu hướng khuất phục sự cám dỗ. Ví dụ: bạn được giao nhiệm vụ phải nhớ 7 con số, trong lúc đang tập trung thì có người mời một thanh socola hoặc một đĩa salad thì khả năng cao bạn sẽ chọn socola. Dù ai cũng biết salad thì tốt cho sức khỏe hơn socola.

Đây là do trong lúc Hệ thống 2 bận rộn trong việc giải toán thì Hệ thống 1 tranh thủ tác động đến hành vi của chúng ta. Những người trong tình trạng bận rộn nhận thức thường đưa ra những lựa chọn cá nhân, sử dụng ngôn ngữ nhạy cảm và đưa ra những nhận định hời hợt. Đó là lí do vì sao những người đang tập trung dễ cáu gắt và thường quyết định vô tội vạ khi được hỏi về các nhiệm vụ không liên quan đến nhiệm vụ họ đang tập trung giải quyết. Đó cũng là lí do vì sao khi chúng ta quá lo lắng đến kết quả của cuộc thi sẽ khiến chúng ta thi tệ hơn vì bộ não đang bị mất dung lượng cho việc lo lắng vớ vẩn này.

5. Sự suy yếu bản ngã

Khi bạn được yêu cầu phải làm trái với những gì ‘thông thường’ (trái với Hệ thống 1) thì khả năng cao sau đó khả năng tư duy bạn sẽ yếu hơn (Hệ thống 2 suy yếu).

Một nghiên cứu đã chỉ ra, những người được cho xem những bộ phim đầy cảm xúc nhưng bị bắt không được bộc lộ cảm xúc của mình ra sau đó sẽ đầu hàng sớm hơn trong các nhiệm vụ giải toán. Vì khi ấy, họ đang bị mệt mỏi do mâu thuẫn trong nhận thức. Những mâu thuẫn có thể xuất hiện trong các trường hợp sau:

– Đưa ra một loạt những lựa chọn gây tranh cãi.

– Cố gắng gây ấn tượng với người khác.

– Kiềm chế cảm xúc khi xem một bộ phim đầy cảm xúc.

– Phản ứng tử tế với những hành động xấu của bạn đời.

– …

Những mâu thuẫn trên sẽ gây ra những suy yếu sau:

– Phản ứng thái quá khi bị khiêu khích.

– “Vung tay quá trán” trong cơn cuồng mua sắm.

– Thể hiện kém trong các nhiệm vụ tư duy và khi phải đưa ra các quyết định logic.

– …

Các bạn thấy đó, một đời sống mà chúng ta phải làm những gì trái ngược với suy nghĩ hay lối cư xử thông thường sẽ khiến chúng ta bị suy yếu và đưa ra những quyết định tồi tệ – điều sẽ khiến cuộc sống chúng ta càng tồi tệ hơn. Do đó, hãy đừng lắt léo, đừng cố gắng chịu đựng,… điều này sẽ chỉ khiến bạn ngày càng tệ hơn mà chính bạn còn chẳng nhận ra được.

Các nhà khoa học cũng đã chỉ ra rằng: glucose giúp giảm sự suy yếu của não bộ. Do đó, sau mỗi phiên làm việc mệt mỏi và đối mặt với nhiều sự mâu thuẫn, hãy bổ sung glucose bằng cách uống một cốc nước chanh đường hoặc một ly trà đường. Điều này sẽ khiến chúng ta xử lí thông tin được tốt hơn – theo một cách mà chúng ta còn chẳng nhận ra được.

Không chỉ Glucose, tình trạng của cơ thể cũng khiến chúng ta đưa ra những quyết định khác nhau. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng các vị thẩm phán xét duyệt các hồ sơ xin ân xá có xu hướng ân xá các hồ sơ sau giờ ăn nhiều hơn (65%) so với trước khi ăn trưa (35%) và tỉ lệ này giảm dần khi càng xa giờ ăn trưa. Điều này cho thấy khi chúng ta đói – khát và mệt mỏi sẽ làm chúng ta dễ dàng thoả hiệp và đưa ra những quyết định dễ dàng (trong trường hợp của các vị thẩm phán thì từ chối ân xá là dễ dàng và không cần phải đắn đo nhiều). Điều này cũng cho thấy là bạn nên chỉ đưa ra những quyết định khi cơ thể ở trạng thái tốt nhất, và nên thao túng người khác bằng cách hỏi quyết định của họ khi họ đã khá mệt mỏi. Tất nhiên nhiều người tỉnh táo sẽ: “Giờ này tôi mệt rồi, mai giải quyết công việc nhé.”

6. Lười biếng trong suy nghĩ

Hãy xem câu đố đơn giản này, và đừng cố gắng giải đố mà đưa ra một quyết định xuất hiện đầu tiên trong đầu các bạn:

Tổng giá của cái áo và cái quần là 110 đô.

Cái quần có giá cao hơn cái áo 100 đô.

Hỏi cái áo giá bao nhiêu đô?

Con số xuất hiện đầu tiên trong đầu bạn sẽ là 10 đô. Tuy nhiên suy nghĩ kĩ một tí bạn sẽ nhận ra đáp án phải là 5 đô. 

Buồn là, không phải lúc nào chúng ta cũng suy nghĩ kĩ khi phán đoán, chúng ta thường nghe trực giác nhiều hơn. Ví dụ như khi xem xét các mệnh đề đơn giản:

Chó là một loài động vật

Vài loài động vật có răng cửa

Cho nên vài loài chó có răng cửa.

“Đúng rồi”, não bạn bảo vậy. Nhưng nếu suy nghĩ kĩ càng hơn một tí, chúng ta sẽ thấy nhiều điểm bất hợp lí trong cách quy kết trên hay nói trắng ra chả liên quan gì đến nhau để kết luận cả. Vài loài động vật có răng cửa có thể không có loài chó trong đó.

Trực giác khiến chúng ta thỏa hiệp với những định kiến trong xã hội mà không cần suy nghĩ kĩ càng để kiểm chứng:

Nhiều người Thanh Hóa thì thiếu tử tế.

Thằng bạn mình người Thanh Hóa.

Cho nên rất có thể nó thiếu tử tế.

Nếu chịu suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy vô lý ngay từ khi cho rằng “Người Thanh Hóa thì thiếu tử tế”. Mà giả sử là điều này đúng thì chưa chắc thằng bạn chúng ta nằm trong số đó. Nếu muốn kiểm chứng thì phải xem xét qua nhiều phương diện khác nữa.

Cũng có thể nói “Nhiều gia đình ở Hà Nội khó khăn”, “Nhiều cô gái miền Nam thiếu đứng đắn”,… và kiểu tư duy này nhiều người mắc phải, và họ nghĩ vậy thật chứ không phải để “troll”.

Ngay từ đầu chúng ta đã lười biếng trong việc kiểm chứng những điều này, chúng ta chỉ nghe theo trực giác và hình thành một định kiến trong đầu. Điều này sẽ khiến chúng ta càng sống càng sai.

Chỉ có ít người cảnh giác hơn, động não hơn, không dễ hài lòng với những câu trả lời nông nổi vội vã và luôn hoài nghi trực giác của chính mình. Nhà tâm lí học Keith Stanovich gọi họ là những con người lí trí hơn.

7. Sự thỏa hiệp cám dỗ và tư duy “mì ăn liền”

hình 4

Một trong những thí nghiệm nổi tiếng nhất ngành Tâm lý học là của Walter Mischel và các sinh viên của ông. Thí nghiệm này như sau:

Họ nghiên cứu những phản ứng điển hình của những đứa trẻ bốn tuổi. Họ cho chúng vào những cái phòng và chờ đợi. Nếu chúng chờ đủ 15 phút thì sẽ có người đến và cho chúng hai cái bánh, nếu không thì chúng có thể bấm chuông rồi ăn một cái bánh đã được đặt sẵn trong phòng. Trong phòng không có đồ chơi, không có sách, tranh hay bất cứ thứ gì có khả năng phân tán bọn nhóc.

Khoảng một nửa số trẻ đánh bại được sự nôn nóng và một nửa thì không. Những đứa trẻ chờ đủ 15 phút chủ yếu vì các bé tránh né khỏi ham muốn có được phần thưởng. 10 đến 15 năm sau, khoảng cách cưỡng lại ham muốn giữa cách nhóm trẻ này lại càng gia tăng nhiều hơn. Cụ thể là nhóm trẻ chờ đủ 15 phút ít vướng vào các tệ nạn ma túy hơn, thành tích trong các bài kiểm tra trí tuệ cũng tốt hơn.

Một thí nghiệm khác, do Shane Frederick tiến hành gọi là “Phản chiếu nhận thức”, cho các sinh viên trả lời các câu hỏi dễ nảy sinh trực giác (tương tự câu hỏi về áo và quần phía trên). Nhóm các sinh viên trả lời tệ hơn (trực giác mạnh và hệ thống 2 suy yếu hơn) sau đó được hỏi về quyết định: Chọn 34k USD ngay lập tức hay 38k USD trong một tháng sau. Có đến 64% trong số này thích “mì ăn liền” và chỉ có 37% trong nhóm những người trả lời đúng cả 3 câu hỏi về trực giác trên thích lấy tiền ngay. Khi được hỏi về họ sẵn sàng trả bao nhiêu cho một món đồ họ muốn có ngay trong ngày, những người ở nhóm đầu tiên sẵn lòng trả gấp đôi so với những người ở nhóm 2. Có thể gọi những người này là những con người “bốc đồng và trực giác”.

Có thể nói đây là do sự lười tư duy của con người. Ngày nay có nhiều sinh viên cũng thích kiểu “mì ăn liền” vậy, họ sẵn sàng nhảy vào đầu tư hay nhảy ra khởi nghiệp. Họ chả đem theo gì ngoài trực giác và sự tự tin quá mức vào khả năng của mình. Như một lẽ thường tình, những con người duy-trực-giác thường thất bại. Tiêu biểu là các anh bet bủng hay chơi số đề. Nếu chịu tư duy kĩ càng sẽ nhận ra xác suất thắng là rất thấp và chỉ có may mắn mới giúp được mình.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây