Thiên Hoàng Minh Trị

195

Nhật Bản đã trải qua những bước chuyển mình đáng kinh ngạc từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Sự thay đổi này đã biến một nước Nhật nghèo đói, loạn lạc kéo dài hàng thế kỷ thành một Nhật Bản phú cường làm rúng động thế giới.

Sự phát triển kỳ diệu đó được đem đến từ những chính sách canh tân tuyệt vời của Minh Trị Thiên hoàng (1852-1912), vị vua thứ 122 của Nhật Bản. Thiên hoàng Minh Trị trị vì từ ngày 3 tháng 2 năm 1867 tới khi qua đời. Ông được coi là một vị minh quân có công lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản, đã canh tân và đưa Nhật Bản trở thành một quốc gia hiện đại, thoát khỏi nguy cơ trở thành thuộc địa của các nước đế quốc phương Tây giữa lúc chủ nghĩa thực dân đang phát triển mạnh.

1. Sơ lược về cuộc đời Thiên Hoàng Minh Trị

Tên húy Minh Trị là Mutsuhito (睦仁: Mục Nhân). Ở Nhật Bản, ngoài trường hợp là người thân trong Hoàng gia, ai nói tên thật của Thiên hoàng sẽ bị xem là phạm húy. Ông là vị Hoàng đế quan trọng nhất lãnh đạo đất nước từ 1868-1912, chuyển Nhật Bản từ một đất nước phong kiến sang công nghiệp hóa

1.1. Thân thế và tuổi nhỏ

Hoàng tử Mutsuhito chào đời ngày 3 tháng 11 năm 1852, là con trai thứ của Thiên hoàng Kōmei. Mẹ ông là thị nữ Nakayama Yoshiko (中山慶子, Trung Sơn Khánh Tử, 1834 – 1907), con gái của lãnh chúa Nakayama Tadayasu thuộc gia tộc Fujiwara, đã có lúc giữ chức Tả đại thần. Dưới triều Kōmei và Minh Trị sau này, Hoàng gia gặp nhiều bi kịch: ngoài Mutsuhito, tất cả năm người con khác của Thiên hoàng Kōmei đều chết khi còn thơ ấu. Bản thân Thiên hoàng Minh Trị cũng có 15 người con, mà trong số đó chỉ có năm người không bị chết yểu.

Vị hoàng tử trẻ được đặt ngự hiệu là “Hữu cung” (さちのみや, Sachi-no-miya). Phần lớn thời thơ ấu của ông trôi qua tại gia đình Nakayama ở kinh đô Kyōto, theo phong tục ủy thác nuôi dưỡng trẻ em Hoàng gia cho các thành viên ưu tú của cung đình. Mutsuhito bắt đầu học khi chín tuổi. Theo sử sách, ông là một học sinh thờ ơ, và, về cuối đời, ông đã viết những bài thơ tỏ lòng ân hận rằng bản thân ông đã không chuyên tâm hơn trong môn tập viết. 

Ngày 11 tháng 7 năm 1860, ông chính thức được nhận nuôi bởi Asako Nyōgō (sau này là Anh Chiếu Hoàng thái hậu), nữ ngự (nyogo) của Thiên hoàng Kōmei. Ông được đổi tên là Mutsuhito (Mục Nhân – hàm nghĩa đối xử với mọi người hòa mục, nhân từ), được phong chức Thân vương (Shinnō), lại được phong chức Hoàng thái tử (Kōtaishi) cùng ngày.

Theo sách 10 Đại hoàng đế thế giới của Trung Quốc, tên gọi Mutsuhito đúng là hợp với vẻ ngoài của hoàng tử lúc đó. Ngay từ lúc nhỏ, ông chỉ quanh quẩn với các cung nữ và sống cách biệt với thế giới bên ngoài, lại còn được cha mẹ hết sức cưng chiều, yêu quý, nên Mutsuhito trở thành một cậu bé nhút nhát, yếu đuối và hay sợ sệt. Tháng 8 năm 1864, binh sĩ của Mạc phủ và phiên bang Chōshū (Trường Châu) đánh nhau với quân của phiên Long Ma tại cửa Hoàng cung, và tiếng súng nổ trong trận đánh đã khiến Mutsuhito té xỉu vì quá sợ, và sau khi tỉnh dậy đứa trẻ vẫn còn chui rúc vào lòng các cung nữ để trốn, tỏ ra không có một tí can đảm nào cả. Nhiều triều thần sợ rằng, theo đà tiến triển của cuộc xung đột giữa chính quyền Mạc phủ và các lực lượng chống đối thì hai bên lại có thể đánh nhau ở kinh đô Kyōto, và lúc này Mutsuhito sẽ chết vì quá sợ.

Claude Farrère, một tiểu thuyết gia có tên tuổi ở Pháp, thường lấy người võ sĩ Nhật làm đề mục trong các tác phẩm của mình. Claudre Farrère đề cao một Tướng quân người Nhật là Nogi Maresuke (乃木希典, Nãi Mộc Hy Điền) và kể rằng, thuở bé, Mutsuhito và Maresuke là học sinh trong cùng một trường. Có lần, Maresuke phạm sai lầm, bị thầy mắng. Maresuke quyết định phải tự sát, với danh dự là nguyên nhân. Tuy nhiên, Đông cung Thái tử Mutsuhito không cho Maresuke tự sát, vì nhận thấy Maresuke là một người có khả năng, về sau người này sẽ thành danh và lập nhiều công lao cho đất nước. Ông bảo:

“Ta là vua của ngươi: sự lỗi lầm đó ta gánh vác dùm cho, ta biểu người cứ việc sống”.

Phần lớn tuổi trẻ của Thiên hoàng Minh Trị chỉ được biết qua các ghi nhận về sau. Theo Donald Keene, tác giả cuốn Emperor of Japan: Meiji and His World, 1852–1912, các ghi nhận thường có sự mâu thuẫn. Một người đương thời mô tả ông là một người to khỏe, hơi giống một tên du côn và thể hiện tài năng xuất chúng trong môn sumo. Theo những ghi nhận khác, ông là một người mảnh khảnh và hay bị ốm. Một số người viết tiểu sử Minh Trị nói ông đã ngất xỉu khi nghe tiếng súng lần đầu tiên, nhưng điều này lại bị bác bỏ bởi một số người khác.

Tuy nhiên, do thân thế là một hoàng tử Mutsuhito cũng bị tiêm nhiễm phải nhiều thói tật không lành mạnh của một đứa trẻ quý tộc, ví dụ như ông thiếu sự đồng cảm với những người yếu thế. Một lần nọ, thấy một cụ già bị sẩy chân té xuống nước, Mutsuhito không những không kêu người đến cứu mà còn phá lên cười khoái chí. Dạo khác, Mutsuhito mang kéo đi cắt phá tan hoang những cành dây leo trang trí trong hành lang cung vua, rồi vu khống cho người khác. Và việc cầm khẩu súng bắn nước đi chọc phá các cung nữ cũng là một trò vui của tiểu hoàng tử.

1.2. Quá trình lên ngôi đầy sóng gió

Kể từ thế kỷ XII, Nhật nằm dưới sự thống trị của chế độ Mạc Phủ. Đến thế kỷ XIX, trong suốt thời niên thiếu của hoàng tử Mutsuhito, nhà nước phong kiến Nhật Bản bắt đầu giao thời giữa cái cũ và cái mới:

1.2.1. Trước năm 1853: Chế độ Mạc Phủ Tokugawa 

Mạc phủ Tokugawa được thành lập vào thế kỷ XVII. Dưới chế độ này, Sei-i Daishōgun (Chinh Di Đại Tướng Quân) gọi tắt là Shogun (Tướng quân) là người trị vì Nhật Bản. Dưới trướng Shogun có tới hàng trăm Phiên bang, có thể chế chính trị, pháp luật, tiền tệ, quan thuế và đo lường riêng biệt. 

Năm 1615, Shogun đầu tiên của nhà Tokugawa là Tokugawa Ieyasu, người đã chính thức từ ngôi, cùng với con là Tokugawa Hidetada, Shogun trên danh nghĩa, đã ban bố bộ luật quy định vai trò của tầng lớp quý tộc. Theo đó, Thiên hoàng chỉ dành thời gian vào nghệ thuật và học vấn, trong khi Shogun có thể ra lệnh cho cấp dưới mà không cần thông qua ý kiến hoặc sự đồng ý từ Thiên hoàng. 

Ít lâu sau khi lên nắm quyền, Mạc phủ Tokugawa ban bố chính sách Sakoku “bế quan tỏa cảng”, giới hạn nghiêm ngặt việc giao thương với người nước ngoài và cấm đạo Kitô. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là ngoại thương hoàn toàn chấm dứt trong hai thế kỷ trước năm 1854. Người Nhật vẫn buôn bán với Triều Tiên thông qua đảo Đối Mã, Nhà Thanh qua quần đảo Nansei và Hà Lan qua thương điếm Dejima (Xích Đảo), một hòn đảo nhân tạo nằm ngoài khơi cảng Nagasaki. Người Hà Lan là dân tộc phương Tây duy nhất được buôn bán với người Nhật vào thời đó. Nhờ sự tiếp xúc với người Hà Lan, các nghiên cứu khoa học của phương Tây vẫn tiếp tục được tiếp thu trong thời kỳ này với cái tên “Lan học” (Rangaku), cho phép người Nhật học hỏi và làm theo phần lớn các bước của Cách mạng khoa học và Cách mạng công nghiệp. 

Thời bấy giờ, Nhật là một quốc gia có nền nông nghiệp lạc hậu, giáo dục không được quan tâm, bảo thủ về mặt chính trị và văn hóa. Còn các lãnh chúa phong kiến với bộ máy thống trị quản lý lãnh địa, tự cô lập mình bằng thanh gươm võ sĩ (samurai). Xã hội được chia làm 4 tầng lớp rõ rệt: Tầng lớp chiến binh samurai (sĩ) là tầng lớp cao quý nhất, tiếp theo là nông dân (nông), thợ thủ công (công) và thương nhân (thương). Bản chất cứng nhắc của hệ thống đẳng cấp đã tạo ra trở lực đáng kể cho thời kỳ này. Thuế đối với nông dân luôn được giữ ở một mức cố định mà không tính tới lạm phát hay việc thay đổi tỷ giá tiền tệ. Kết quả là, tổng số thuế mà các samurai chúa đất thu được ngày càng giảm sút. Điều này cũng dẫn đến sự hàng loạt cuộc đối đầu giữa quý tộc và các samurai nghèo đói với những người nông dân giàu có, từ các cuộc va chạm lẻ tẻ ở địa phương đến những cuộc nổi loạn lớn. Tuy vậy, không có cuộc nổi dậy nào đủ mạnh để có thể thách thức thể chế đã được thiết lập, cho đến khi ngoại binh xuất hiện. Chỉ khi chủ nghĩa tư bản phương Tây thâm nhập vào, xã hội phong kiến Nhật Bản mới bắt đầu sụp đổ.

1.2.2. Từ năm 1853

Phó đề đốc Hải quân Hoa Kỳ là Matthew Calbraith Perry đem bốn tàu chiến (được người Nhật gọi là “Những con tàu đen”) tới vịnh Edo (Tōkyō ngày nay) vào tháng 7 năm 1853. Perry yêu cầu Nhật Bản mở cửa, và đe dọa rằng người Nhật sẽ chuốc lấy hậu quả về quân sự nếu họ không đồng ý mở cửa.

Năm 1854, Matthew C. Perry lại mang một hạm đội 9 chiếc tàu chiến, bắt chính quyền Mạc phủ ký một hiệp định buôn bán bất bình đẳng và sau 200 năm thực hiện chính sách sakoku, Nhật Bản cuối cùng phải nhượng bộ cho thế lực thương mại nước ngoài. Tiếp đó, các nước đế quốc phương Tây như Hà Lan, Anh, Pháp, Nga, … cũng đua nhau tới và ép Mạc phủ ký các hiệp ước tương tự. 

Việc mất đi một loạt chủ quyền quốc gia khiến Nhật Bản đứng trước cuộc khủng hoảng dân tộc và này gây bất mãn trong quần chúng nhân dân. Chính quyền Mạc phủ sớm đối mặt với sự thù địch ở trong nước, trong khi Mạc phủ tìm cách đối phó và tìm cách hòa hoãn với các ngoại cường thì vua Komei lại xuống chiếu “Tôn hoàng Nhương di” kêu gọi dân chúng phải đánh đuổi người ngoại quốc. Các Phiên bang vùng Tây Nam Nhật Bản – vốn từ lâu bất mãn với Mạc phủ – đã nhân cơ hội này đi rêu rao khắp nơi rằng chính quyền Mạc phủ câu kết với người nước ngoài, bán đứng chủ quyền quốc gia; mưu dùng chiêu bài “Tôn hoàng, nhương di” để lật đổ chế độ Mạc phủ.

Thiên hoàng Minh Trị
Kanrin Maru, tàu chiến hơi nước chạy chân vịt đầu tiên của Nhật, năm 1855. Mạc phủ hăng hái theo đuổi quá trình hiện đại hóa, nhưng đối mặt với sự bất mãn ngày càng tăng ở trong nước chống lại mối nguy với chủ quyền quốc gia vì các mối liên hệ với phương Tây

Trong năm 1864, những hành động này bị các thế lực ngoại quốc đáp trả dữ dội, ví dụ như vụ bắn phá Kagoshima của quân Anh và bắn phá Shimonoseki của liên quân các nước. Cùng lúc, quân đội Chōshū, cùng với những ronin bài ngoại, tiến hành cuộc nổi loạn Hamaguri cố chiếm kinh đô Kyōto, nhưng Shogun tương lai là Tokugawa Keiki (được chọn thừa kế Iemochi) đã dẫn đầu đội quân chinh phạt và đánh bại họ. Vào lúc này, sự kháng cự trong giới lãnh đạo phiên bang Chōshū cũng như triều đình giảm xuống. Nhưng vài năm sau, Mạc phủ Tokugawa không thể kiểm soát được toàn bộ đất nước nữa khi mà phần lớn các lãnh chúa đại danh bất tuân các mệnh lệnh và yêu cầu từ kinh đô Edo. 

Nhận thức về tình hình chính trị náo loạn của Hoàng thái tử Mutsuhito được xem là không chắc chắn. Trong thời gian này, ông học thơ Hòa ca (tanka), đầu tiên học với vua cha Kōmei, sau học với các nhà thơ của cung đình.

1.2.3. Lên ngôi và lật đổ chế độ Mạc phủ

Sau cuộc đảo chính nội bộ và cuộc nổi loạn cách tân của phiên bang Chōshū bị Mạc phủ cử quân viễn chinh dẹp tan, phiên bang Chōshū bí mật liên minh với phiên bang Satsuma, và tìm cách liên minh với phiên bang Tosa. 

Cuối năm 1866, đầu tiên là Shogun Tokugawa Iemochi (Đức Xuyên Gia Mậu) và sau đó đến năm 1867 Thiên hoàng Kōmei qua đời, hưởng dương 36 tuổi. 

Vào tháng 1 năm 1867, Thiên hoàng Kōmei lâm bệnh nặng. Thiên hoàng có vẻ như đã bình phục, nhưng bệnh tình đột ngột trở nên tồi tệ hơn và qua đời vào ngày 30 tháng 1 năm 1867.

Tokugawa Keiki (Đức Xuyên Khánh Hỉ, 1837 – 1913) lên kế vị chức Shogun. Ông thực hiện một nỗ lực cuối cùng nhằm hiện đại hóa chính quyền Mạc phủ và biến Nhật Bản thành một quốc gia theo cơ cấu Tây phương. 

Thiên hoàng Minh Trị
Chinh Di Đại tướng Quân Tokugawa Keiki, ảnh chụp năm 1867

Còn Thái tử Mutsuhito – lúc này chỉ là một đứa trẻ 14 tuổi rưỡi – được mọi người tôn làm Thiên hoàng, chính thức lên nối ngôi ngày 3 tháng 2 năm 1867, trong một nghi lễ ngắn ở kinh thành Kyōto.

Đứng trước tin này, lực lượng chống Mạc phủ ngay lập tức đề ra kế hoạch nắm lấy miếng “Ngọc” – tức khống chế Thiên hoàng rồi sau đó sẽ “ôm lấy Ngọc” – tức lợi dụng danh nghĩa Thiên hoàng để tiêu diệt chính quyền Mạc phủ. 

Lúc này, tân Thiên hoàng Mutsuhito chỉ là một đứa trẻ, suốt ngày cứ chơi đùa với các cung nữ một cách vô ý thức. Ông hoàn toàn không có năng lực và kinh nghiệm chấp chính, chỉ làm một vị vua bù nhìn, đóng dấu và ký tên vào những văn kiện đã được soạn thảo sẵn. Trong thời gian này ông cũng tiếp tục học tập, nhưng không học về những vấn đề chính trị. Tuy nhiên, trang in điện tử Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (dẫn nguồn từ Tạp chí “Nhà quản lý” số 27 tháng 09/2005) có ghi nhận khác:

…hoàng tử Mutsuhito đã sớm nhận thấy thực trạng suy kiệt, bi đát của đất nước cũng như nhận thấy nguy cơ của chủ nghĩa thực dân phương Tây đang ngày càng hiển hiện, đe dọa nền độc lập dân tộc. Trước tình hình đó, ông cùng với những người theo chủ nghĩa dân tộc cấp tiến quyết tâm đưa đất Nhật trở nên hùng mạnh. Biểu hiện đầu tiên của quyết tâm này là ngay sau khi lên ngôi, Mutsohito đã lấy niên hiệu là Minh Trị (Meiji – tức nền chính trị sáng suốt).

Đầu tiên, Iwakura Tomomi – một người hầu cũ của Thiên hoàng Kōmei – trước tiên lôi kéo số công khanh trong triều đình, thuyết phục họ đứng về phía chống Mạc phủ, cùng nhau thao túng Thiên hoàng. Họ khuyên Thiên hoàng ban lệnh ân xá cho tất cả những thành viên chống Mạc phủ đang bị giam trong tù. Sau đó, vào ngày 8 tháng 11 năm 1867, họ thuyết phục ông xuống mật chiếu chinh phạt lực lượng Mạc phủ do Tokugawa Keiki đứng đầu. Đến hôm sau (9 tháng 11), mật chỉ của Thiên hoàng Minh Trị đã được truyền xuống hai phiên bang Satsuma và Chōshū. Tờ mật chỉ có đoạn:

“Không thảo phạt được tên giặc này thì đối với trên làm sao đáp tạ được thần linh của tiên đế, đối với dưới làm sao trả được thâm thù của muôn dân?”

Trước tình hình đó, theo đề xuất của đại danh phiên bang Tosa, Tokugawa Keiki tuyên bố “trả lại đại quyền” cho Thiên hoàng và từ bỏ chức vụ “Chinh Di Đại tướng Quân” đồng ý trở thành “công cụ thực thi” mệnh lệnh của Hoàng gia. Mạc phủ Tokugawa đến hồi cáo chung. 

Tuy nhiên thông qua việc khống chế hội nghị của các phiên, Keiki hy vọng mình vẫn có thể nắm thực quyền như trước đây. Tất nhiên là phái chống Mạc phủ không dễ gì mắc bẫy của Keiki, họ tiếp tục dùng danh nghĩa của Thiên hoàng để điều động quân đội từ các địa phương về. Sáng sớm ngày 3 tháng 1 năm 1868, họ lại “nhờ” Thiên hoàng ra lệnh giải tán hết các đội cảnh vệ của Mạc phủ đóng trong Hoàng cung, thay vào đó là lực lượng của phái chống Mạc phủ. Tiếp theo, Thiên hoàng lại ban bố lệnh phục hồi chính quyền cổ của Thiên hoàng, xóa bỏ chế độ Mạc phủ, đặt ra ba chức quan Tổng Tài, Nghị Định, Tham dữ. Cho đến lúc này Thiên hoàng Mutsuhito đã hoàn toàn nằm trong tay phái cải cách, nhưng họ vẫn còn lo sợ thế lực của gia tộc Tokugawa. Thế là phái chống Mạc phủ lại thuyết phục Thiên hoàng ban sắc lệnh buộc Keiki “từ quan nộp đất”, tức tước đoạt binh quyền và lãnh địa của Keiki.

Tokugawa Keiki phản ứng ngay. Keiki phát động một chiến dịch quân sự với mục đích chiếm lấy triều đình ở Kyōto, tuyên bố sẽ thanh trừng “bọn phản tặc” chung quanh Thiên hoàng. Đáp lại, Thiên hoàng lại ban bố sắc lệnh sẽ đích thân cầm quân chinh phạt “tên giặc” Keiki đang mưu cướp đoạt quyền lực quốc gia. Đôi bên đã đánh nhau tại khu vực Toba-Fushimi gần kinh đô Kyōto. Tình hình quân sự nhanh chóng chuyển biến theo hướng có lợi cho phe bảo hoàng, tuy nhỏ hơn nhưng được hiện đại hóa mạnh mẽ hơn. Đồng thời, đông đảo dân nghèo và nông dân cũng nổi dậy đấu tranh với chính quyền Mạc phủ. Cuối cùng, Tokugawa Keiki buộc phải đầu hàng tại đại bản doanh Edo và đến ngày 3 tháng 5 năm 1868, Keiki bị lưu đày tại Mito.

Tàn dư của Mạc phủ Tokugawa rút lui về phía bắc Honshū rồi sau đó là Hokkaidō, tại đây họ thành lập nước Cộng hòa Ezo (Hà Di) – nước Cộng hòa duy nhất trong lịch sử Nhật Bản. 

Quân đội triều đình sớm củng cố vị trí của mình trong nội địa Nhật Bản, và vào tháng 4 năm 1869, phái đi một hạm đội và 7.000 lục quân đến Ezo, đánh tan tác đối phương tại trận Hakodate. Thất bại này khiến quân Ezo mất đi căn cứ địa cuối cùng và phái chống Mạc phủ chính thức nắm quyền lực tuyệt đối trên toàn nước Nhật, hoàn thành giai đoạn quân sự trong cuộc Minh Trị Duy Tân. Ngày 18 tháng 5 năm 1869, Tổng tài (tương đương với Tổng thống) nước Cộng hòa Ezo là Enomoto Takeaki (Giá Bản Võ Dương) đầu hàng và chấp nhận quyền thống trị của Thiên hoàng Minh Trị. Khoảng 12 vạn binh sĩ được huy động trong cuộc chiến, và có khoảng 3.500 người thiệt mạng. Sau này, năm 1903, Tokugawa Keiki đã vào triều yết kiến nhà vua, được nhà vua phong cho tước Công.

1.2.4. Dời đô và đặt niên hiệu mới

Sau chiến thắng của phái chống Mạc phủ, Thiên hoàng Mutsuhito tuyên bố chế độ Mạc phủ – sau gần ba thế kỷ thống trị Nhật Bản – cáo chung. Dù chính quyền Mạc phủ bị lật đổ và phái chống Mạc phủ đã chiếm kinh thành Edo vào năm 1868, nhưng họ đã không thế chỗ Mạc phủ bằng một chính phủ trung ương vững mạnh hơn. 

Thiên hoàng Minh Trị
Thiên hoàng Minh Trị mới 16 tuổi, trong hành trình từ Kyōto về Tōkyō, vào cuối năm 1868

Ngày 23 tháng 2, lần đầu tiên các sứ thần ngoại quốc được cho phép đến kinh đô Kyōto và viếng thăm Thiên hoàng. 

Vào ngày 7 tháng 4 năm 1868, Thiên hoàng cùng bá quan văn võ, cùng với lãnh chúa các phiên bang thực hiện lễ tế cáo trời đất và tổ tiên một cách trang trọng. Ông đã công bố “Năm lời tuyên thệ” như sau:

  • “Mở ra hội nghị rộng rãi, trăm công ngàn việc đều lấy theo công luận mà quyết định.”
  • “Trên dưới một lòng, ra sức sửa sang việc nước.”
  • “Văn võ một đường, từ công khanh đến thứ dân, đều được toại chí, khiến cho lòng người hăm hở sốt sắng.”
  • “Thảy bỏ hết những thói hư mối tệ chất chứa lâu đời, từ đây gắng gổ duy tân tự cường, hiệp theo công đạo của Trời Đất.”
  • “Cầu trí thức ở thế giới, làm cho Nước Nhà trở nên mạnh lớn vẻ vang.” 

Ai cũng biết rằng văn bản của lời thề này không phải do Minh Trị tự soạn mà do hai học giả samurai, Yuri Kimimasa (1829–1909) và Fukuoka Takachika (1835–1919), và sau đó được Kido Takayoshi sửa lại. Theo 5 lời tuyên thệ này, chế độ phong kiến bị xóa bỏ đồng thời một chính phủ dân chủ và hiện đại lãnh đạo nước Nhật được thành lập. Với việc triều đình Thiên hoàng long trọng công bố tuyên thệ cải cách đất nước Mặt trời mọc, đường lối cải cách Duy Tân của họ chính thức được tuyên bố. 

Giữa tháng 5, ông rời kinh đô Kyōto lần đầu tiên để cầm quyền truy kích những tàn dư của quân đội Mạc phủ. Đi bằng xe ngựa chậm, ông đi từ Kyōto đến Osaka trong ba ngày, qua những con đường có đầy dân chúng ven đường. Không xảy ra một cuộc xung đột nào ở Osaka; những nhà lãnh đạo mới mong Thiên hoàng thân thiện hơn với thần dân và những sứ thần ngoại quốc. Hết tháng 5, sau 2 tuần ở Osaka (trong một bầu không khí ít trịnh trọng hơn hẳn ở Kyōto), Thiên hoàng Mutsuhito quay trở về nhà.

Sau khi hoàn thành việc xóa bỏ chế độ Mạc phủ, ngày 3 tháng 9 năm 1868, Thiên hoàng Mutsuhito xuống chiếu đổi tên thành phố Edo – đại bản doanh cũ của chính quyền Mạc phủ – thành Tōkyō (Đông Kinh), đồng thời phái người trang trí và xây dựng lại ngôi thành của Mạc phủ thành Hoàng cung mới. Ngày 12 tháng 10 năm 1868, Thiên hoàng chính thức làm lễ đăng quang tại Tử Thần điện ở cố đô Kyōto. Theo đề nghị của các đại thần, ông đặt niên hiệu là Minh Trị, dựa theo câu “Thánh nhân nam diện thính thiên hạ, hướng minh nhi trị” trong chương Thuyết Quái của Kinh Dịch. Đây cũng là thụy hiệu của Thiên hoàng. Điều này đã mở đầu một truyền thống mới: Thiên hoàng chỉ đặt duy nhất một niên hiệu trong thời gian trị vì, khác với trước kia các Thiên hoàng thường thay đổi niên hiệu. Ngoài ra, sau khi ông qua đời, niên hiệu này cũng trở thành thụy hiệu của ông.

Ngày 4 tháng 11 năm 1868, triều đình Minh Trị rời Kyōto về đóng về đóng đô tại Tōkyō. Thành phố Tōkyō là nơi có những điều kiện thuận lợi về kinh tế, địa lý và chính trị, giúp Thiên hoàng dễ trị vì hơn. 

Năm 1874, các khí đốt được ông cho phép nhập và sử dụng để thắp sáng tân đô Tōkyō. Đây là lần đầu tiên khí đốt được sử dụng ở Nhật Bản. Tuy nhiên, theo Gordon, đến năm 1889, triều đình mới ra quyết định cuối cùng: dời đô về thành phố Tōkyō. Việc dời đô này cũng có mục đích là đoạn tuyệt với quá khứ và xúc tiến công cuộc Duy Tân vĩ đại mạnh mẽ hơn nữa. Ông cũng cho rằng truyền thống dân tộc kết hợp với kỹ thuật phương Tây là những thứ giúp cho Nhật thoát khỏi sự lạc hậu.

Đầu năm 1869, ông về Kyōto để làm lễ giỗ Thiên hoàng Hiếu Minh và kết hôn. Ngày 11 tháng 1 năm 1869, ông cưới Ichijō Masako (về sau đổi tên thành Haruko) (9 tháng 5 năm 1849 – 19 tháng 4 năm 1914), con gái thứ ba của Tả đại thần Ichijō Tadaka (Nhất Điều Trung Hương) và phong làm Hoàng hậu (tức Chiêu Hiến Hoàng hậu). Masako là trường hợp đầu tiên trong vòng vài thế kỷ nắm giữ cả hai danh hiệu Nữ ngự (nyōgō) và Hoàng hậu (kōgō) khi còn sống. Vì Masako lớn hơn ông ba tuổi nên Thiên hoàng đã phải chờ cho đến khi ông đủ tuổi để thực hiện lễ thành nhân (Gembuku, tức lễ mừng nam giới bước vào tuổi trưởng thành 20). Sau lễ cưới, nhà vua trở lại thành Tōkyō.

1.3. Những năm đầu làm vua (1868 – 1878)

Trải qua hàng loạt sự biến trên, cuối cùng thì địa vị chí tôn của Thiên hoàng Minh Trị đã được xác lập. Hoàng gia vốn suy yếu suốt nhiều thế kỷ nay đã phục hồi lại. Nhưng lúc ban đầu, ông không trực tiếp điều hành triều chính. Căn cứ theo Chính Thể thư ban hành năm 1868, quyền lực nằm trong tay một cơ quan tên là “Thái Chính Quan” (bao gồm Nghị Chính quan, Hành chính quan, Quân Vụ quan, Hình Pháp quan, Hội Kế quan). 

Các phiên bang phía Nam như Satsuma, Chōshū và Tosa – vốn giữ vai trò quyết định trong chiến thắng, chiếm giữ hầu hết các vị trí trọng yếu trong chính phủ vào nhiều thập kỷ sau chiến tranh Boshin (chỉ cuộc nội chiến giữa quân đội của Mạc phủ Tokugawa đang cầm quyền và những người muốn phục hồi quyền lực triều đình).

Trong khoảng thời gian này, các triều thần thuộc phái chống Mạc phủ trước đây là những người nắm thực quyền. Họ dùng danh nghĩa của Thiên hoàng để thực thi các cải cách theo đường lối tư bản chủ nghĩa như: phế Phiên lập Huyện, cải cách thuế đất, trả lại bản tịch, xóa bỏ hạn chế đối với nông, công, thương nghiệp,… 

3 năm sau khi cuộc Duy Tân được khởi xướng, năm 1870 người ta đã hoàn tất việc xây dựng đường ray xe lửa đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, đường ray có độ dài là 28 cây số, nối liền Tōkyō và Yokohama. 

Những nhà lãnh đạo mới của Nhật Bản đã cố gắng cải tổ hệ thống các phiên do lãnh chúa đại danh đứng đầu. Năm 1869, một số đại danh – vốn là những người ủng hộ cuộc Duy tân – đã giao đất đai của họ cho Thiên hoàng. Họ được tái bổ nhiệm làm thống đốc, với mức lương không nhỏ. Vào năm sau, tất cả những đại danh khác cũng tiếp bước họ. Năm 1871, Thiên hoàng tuyên bố rằng các phiên bang hoàn toàn bị xóa bỏ, Nhật Bản được chia làm 72 đô đạo phủ huyện. 

Về quân sự, năm 1872, bộ binh (hyobusho) được chia ra làm hai bộ: bộ lục quân (rikugunsho) và bộ hải quân (kaigunsho). Lực lượng hải quân tổ chức theo Royal Navy (hải quân Anh), bao gồm hạm đội của chính quyền Tokugawa và của nhiều bang (đặc biệt là Satsuma) để lại. Truyền thống đánh cá và đi biển lâu đời của người Nhật giúp ngành hải quân phát triển nhanh chóng.

Về đối ngoại, triều đình Thiên hoàng không theo đuổi mục tiêu trục xuất các lợi ích của ngoại quốc khỏi Nhật Bản, mà thay vào đó là mạnh mẽ chuyển mục tiêu chính trị sang việc tiếp tục hiện đại hóa quốc gia và tái đàm phán các hiệp ước bất bình đẳng với các nước đế quốc phương Tây, sau này trở thành khẩu hiệu “Phú quốc, Cường binh”.

Thiên hoàng Minh Trị
Hình Thiên hoàng Minh Trị 

Sự thay đổi thái độ với người ngoại quốc này diễn ra trong những ngày đầu của cuộc chiến tranh Boshin: vào ngày 8 tháng 4 năm 1868, một tấm biển được dựng lên ở kinh đô Kyōto (và sau này trên toàn quốc) đặc biệt phản đối bạo lực đối với người nước ngoài. Trong thời gian chiến tranh, đích thân Thiên hoàng Minh Trị tiếp kiến các Công sứ châu Âu, đầu tiên là ở cố đô Kyōto, sau đó là Osaka và kinh đô Tōkyō. Ngày 4 tháng 9 năm 1869, Công tước xứ Edinburgh (tên thật là Alfred Ernest Herbert) viếng thăm Nhật Bản, được Thiên hoàng Minh Trị tiếp đón. Một việc chưa từng có tiền lệ là Thiên hoàng tiếp đón Công tước xứ Edinburgh, tại Tōkyō, “như một người “ngang hàng” với ông về khía cạnh dòng máu”. 

Triều đình Thiên hoàng đã thực hiện khẩu hiệu “phú quốc, cường binh, thực sản hưng nghiệp”, bằng việc học hỏi khoa học – kỹ thuật phương Tây, khai thác khoáng sản, lập xưởng chế tạo vũ khí, xây dựng đường sắt, đường thủ, … một cách tích cực. Ngoài ra, cựu Tổng tài nước Cộng hòa Ezo là Enomoto Takaeki được bổ nhiệm Công sứ Nga và Trung Quốc, và Bộ trưởng Giáo dục của Thiên hoàng Minh Trị.

Mặc dù những năm đầu triều vua Minh Trị chứng kiến sự nồng ấm trong quan hệ giữa triều đình Nhật với các nước đế quốc phương Tây, nhưng quan hệ với Pháp vẫn lạnh nhạt vì sự ủng hộ ban đầu của Pháp với chế độ Mạc phủ. Năm 1871, theo lệnh của Thiên hoàng Minh Trị, quan đại thần Iwakura Tomomi làm chính sứ, cùng một phái bộ sứ thần đi sang các quốc gia châu Âu và châu Mỹ, nhằm thu thập thông tin về chế độ chính trị, kinh tế.

Đồng thời các quan viên cũng thực hiện nhiều thay đổi nơi hậu cung và thay đổi cả con người của Thiên hoàng Minh Trị. Đầu tiên, họ cử Motoda Eifu (Nguyên Điền Vĩnh Phù), một người tinh thông Tống Nho làm Thị giảng (thầy dạy học của nhà vua) mới cho Thiên hoàng. Eifu đã dạy Thiên hoàng về Quốc học, Nho học, Thi ca và cũng nhồi nhét tư tưởng lấy đại nghĩa danh phận làm trung tâm. 

Sau đó Yoshī Tomo (Cát Tỉnh Hữu Thực), bạn thân của quan đại thần Ōkubo Toshimichi, được bổ nhiệm làm Cung nội Đại thừa, cai quản nội cung. Yoshī Tomo đã tái bổ nhiệm một loạt các Thị tùng trưởng và thị tùng mới cho Thiên hoàng. Tomo cũng giải tán toàn bộ số Nữ quan – tức các thị nữ trong cung – và tiến hành tuyển lựa một số Nữ quan mới với số lượng chỉ bằng 1/3 trước kia và với thực quyền bị hạn chế gắt gao để ngăn không cho họ lạm quyền như trước. Đồng thời, Tomo mời một số cựu võ sĩ của Mạc phủ Tokugawa như Sơn Cương Thiết Thái Lang, Tân Điền Thôn Bát,… vào cung dạy võ thuật, kiếm thuật, cưỡi ngựa,… cho vị Thiên hoàng vốn yếu rất yếu mềm, qua đó cũng gieo tinh thần tôn sùng võ công, ham thích chiến đấu vào ông. 

Tomo cũng mời một số nhân sĩ có tư tưởng đổi mới để giảng dạy cho Thiên hoàng về phương pháp trị nước và xử thế của giai cấp tư sản cùng nhiều tri thức mới khác. Như Nishimura Shigeki (Tây Thôn Mậu Thọ) dạy cho ông về chính trị và luật pháp của nước Pháp; Hukuhane Mishizu (Phúc Vũ Mỹ Tịnh) dạy ông về sự lập chí của các nước phương Tây; còn Katō Hiroyuki (Gia Đằng Hoàng Chi) – về sau trở thành một cận thần của Thiên hoàng – dạy ông về luật pháp của đế chế Đức. Thiên hoàng cũng học tiếng Đức trong thời gian này.

Sự cải cách trong nội cung đã thay đổi con người Thiên hoàng Minh Trị rất nhiều. Từ một cậu thiếu niên yếu đuối, nhu nhược, suốt ngày chui rúc trong hậu cung để chơi đùa với các cung nữ, ông đã trở thành một con người mạnh khỏe, cường tráng, ham học hỏi, yêu thích võ nghệ, và đặc biệt trở nên rất ghét việc vào hậu cung. Ông đặc biệt rất hâm mộ hoàng đế Napoléon Bonaparte của Pháp, ông từng hỏi Shigeki rất kỹ lưỡng về thân thế, tính tình, sự nghiệp xưng bá của Napoléon và không ngớt lời khen ngợi việc Napoléon đã từng lập nên một đế chế hùng mạnh trong lịch sử Pháp. Thậm chí vào năm 1871, ông đã dặn dò phái đoàn khảo sát châu Âu của Iwakura Tomomi là phải sưu tập thật nhiều sách vở nói về Napoléon Bonaparte. Nhân vật Napoléon Bonaparte đã để lại nhiều ảnh hưởng cho Thiên hoàng Minh Trị trong công việc trị quốc sau này.

Ngày 5 tháng 11 năm 1872, Đại công tước Aleksei Aleksandrovich của Nga viếng thăm Nhật Bản, được Thiên hoàng Minh Trị đón tiếp. Đại công tước Aleksei Aleksandrovich là người con thứ sáu của Nga hoàng Aleksandr II (1855 – 1881). Ngày 9 tháng 11 năm 1872, Thiên hoàng và Đại công tước Aleksei xem cuộc diễn tập của lực lượng vũ trang Nhật Bản, và sau khi về cung, Đại công tước Nga đã gặp gỡ và làm quen với Hoàng hậu Chiêu Hiến. Vài ngày sau, nhận lời mời của Đại công tước Aleksei, Thiên hoàng đến Yokohama (Hoành Tân) để xem đội tàu Nga. Nhờ sự can thiệp của Đại công tước Nga, 34 tín đồ Kitô giáo người Nhật được Thiên hoàng Minh Trị ân xá và phóng thích.

Những sự chuyển biến về tính cách của Thiên hoàng Minh Trị trong những năm đầu làm vua đã đặt một nền tảng vững chắc cho quá trình đích thân chấp chính của ông sau này.

1.4. Quá trình đích thân chấp chính (1878 – 1912)

1.4.1. Những biến cố lớn trong các năm 1877 – 1878

Đến những năm 1877 – 1878, chính trường Nhật Bản lúc đó có nhiều biến động lớn. Trước đây, tầng lớp samurai đóng vai trò không nhỏ trong công cuộc lật đổ Mạc phủ Tokugawa và khôi phục uy quyền của Thiên hoàng. 

Nhưng nhiều cải cách đầu triều vua Minh Trị đã gây bất lợi cho lợi ích của họ: thành lập quân đội theo chế độ nhập ngũ từ dân thường, mất đi uy tín và lương bổng cha truyền con nối đã tạo nên sự đối kháng với rất nhiều cựu samurai. Ngày 28 tháng 3 năm 1875, theo một chiếu chỉ của Thiên hoàng Minh Trị, những người samurai không được mang gươm khi đi ngoài đường. Sự căng thẳng dâng cao ở miền Nam, dẫn đến cuộc nổi loạn Saga năm 1874, và cuộc nổi loạn ở vùng Chōshū năm 1876. Các cựu samurai vùng Satsuma do Saigō Takamori (Tây Hương Long Thịnh) – người đã rời bỏ triều đình vì bất đồng về vấn đề có nên xâm lược Triều Tiên hay không – lãnh đạo đã bắt đầu cuộc Chiến tranh Tây Nam năm 1877. Lúc đó, thật ra Saigō Takamori chưa chuẩn bị cho cuộc bạo loạn nhưng những samurai địa phương nghe được tin rằng triều đình cử người tới giết Saigō. Họ bèn khởi xướng một chiến dịch tấn công kinh đô Tōkyō nhằm đương đầu với triều đình Minh Trị và giải cứu Thiên hoàng thoát khỏi “đám cố vấn xấu xa” chung quanh ông. 

Thiên hoàng Minh Trị
Saigō Takamori ngồi ở giữa, tranh vẽ năm 1877

Ngoài ra, những chiến binh dấy loạn còn nhằm mục tiêu chiến đấu để bảo tồn tầng lớp samurai và một chính quyền đạo đức hơn với khẩu hiệu “Tân chính, Hậu đức” . Saigō Takamori tự mình tuyên bố vẫn trung thành với Thiên hoàng Minh Trị và mặc quân phục Lục quân Đế quốc Nhật trong suốt cuộc chiến. 

Tình hình Nhật Bản trở nên rối loạn do những người bất bình tại những nơi khác cũng nổi lên hưởng ứng Saigō. Cuộc chiến tranh chấm dứt bằng một trận chiến anh hùng, nhưng cũng là thất bại hoàn toàn của đội quân samurai tại Shiroyama (Thành Sơn). Trước cuộc tấn công cuối cùng, Saigō tự sát bằng cách mổ bụng seppuku truyền thống của người võ sĩ Nhật Bản. Saigō Takamori bị Thiên hoàng xem là một viên quan phản nghịch, tuy nhiên, 12 năm sau ông xót thương và ân xá Saigō, đồng thời phong con trai của người võ sĩ ấy làm Hầu tước.

Tháng 5 năm Minh Trị thứ 10 (1878), Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ōkubo Toshimichi bị hành thích. Với cái chết của ba nhân vật trong nhóm “Duy Tân tam kiệt”, tức ba nhân vật lừng lẫy nhất trong công cuộc lật đổ chế độ Mạc phủ là Kido Takayoshi (1877), Saigō Takamori (1877) và Ōkubo Toshimichi (1878) nói trên, thế hệ lãnh đạo thứ nhất của cuộc Minh Trị Duy Tân hầu như hết người. Quyền hành trong triều đình Minh Trị được chuyển sang cho thế hệ lãnh đạo thứ hai của công cuộc Minh Trị Duy Tân, bao gồm Itō Hirobumi (Y Đằng Bác Văn), Yamagata Aritomo (Sơn Huyện Hữu Bằng) và Ōkuma Shigenobu (Đại Ôi Trọng Tín).

1.4.2. Phong trào Thiên hoàng chấp chính

Tháng 2 năm 1877, triều đình Thiên hoàng ra chiếu chỉ về việc thiết lập trường Đại học Tōkyō đầu tiên. Luật, Khoa học Tự nhiên, Văn khoa và Y học là bốn khoa chuyên ngành của ngôi trường này.

Trong tình hình những lãnh tụ lớn nhất của quá trình Duy Tân lần lượt qua đời, thì những người thay thế nhóm “Duy Tân tam kiệt” như Itō Hirobumi và Ōkuma Shigenobu thì lại có xích mích với nhau. Các công thần của phong trào Duy Tân thì cứ ôm hết đại quyền quốc gia nên thường bị phê phán sau lưng. Thêm vào đó, phong trào Tự do Dân quyền đang phát triển mạnh, lại còn liên kết với phong trào chống cải cách ruộng đất của địa chủ và đe dọa đến triều đình. Lúc này, triều đình cần có một người cầm lái vững mạnh để ổn định lại tình hình đất nước, và họ nghĩ đến một nhân vật không xa lạ – đó chính là Thiên hoàng Minh Trị.

Tháng 5 năm 1878, những thầy dạy học của Thiên hoàng đã phát động phong trào “Thiên hoàng chấp chính”, kêu gọi ông đích thân đứng ra xử lý đại sự quốc gia. Họ kể với ông về cuộc Trung hưng (1333 – 1336) dưới ngọn cờ của Thiên hoàng Go-Daigo vào thế kỷ XIV. Họ còn nhấn mạnh rằng, sở dĩ Thiên hoàng Go-Daigo lại tiếp tục để mất quyền bính vào tay Mạc phủ Ashikaga là vì ông vua này quá tin những thủ hạ chung quanh, không trực tiếp xử lý triều chính. Họ cố khuyên Thiên hoàng Minh Trị không nên đi theo vết xe đổ của Thiên hoàng Go-Daigo năm xưa. Lúc này, sau nhiều năm học hỏi việc pháp trị và văn hóa Đông Tây, Thiên hoàng Minh Trị cũng bắt đầu có những chủ trương, chính kiến độc lập đối với việc chính sự; và dĩ nhiên Thiên hoàng cũng mong muốn tự mình đứng ra nắm lấy đại quyền. Đồng thời, người đứng đầu Nội các lúc đó là Nội vụ khanh Itō Hirobumi cũng cảm thấy một mình khó đối phó với phong trào Tự do Dân quyền cũng như phong trào Thiên hoàng chấp chính, thế là Hirobumi quyết định lựa chọn ủng hộ việc Thiên hoàng Minh Trị đích thân nắm lấy quyền bính, mưu dùng uy tín của Thiên hoàng để đối phó với phong trào Tự do Dân quyền.

Thiên hoàng Minh Trị mong muốn thần dân có đủ sức khoẻ, để giúp ông đổi mới và hoà nhập nước Nhật với thế giới bên ngoài. Vì thế, ông bãi bỏ chế độ ăn chay trong toàn dân, lại còn giết và ăn thịt con bò đầu tiên để làm gương cho nhân dân. Trái với lệ thường, ông kiên quyết cho rằng Hoàng hậu và các cung nữ của bà phải cùng ông tham gia các buổi học về phương pháp trị quốc cũng như về các tri thức, văn minh của phương Tây.

Có điều, trong khoảng giai đoạn đầu chấp chính, Thiên hoàng Minh Trị gần như không có ý kiến gì trước các cuộc bàn thảo của triều thần, và ông đều phê chuẩn tất cả các nghị quyết của Nội các. Thiên hoàng cũng dùng uy tín của mình để giúp đỡ Nội các trước những khó khăn, thách thức, trong đó có một việc quan trọng bậc nhất là bóp chết phong trào Tự do Dân quyền.

1.4.3. Đối phó với phong trào Tự do Dân quyền

Tháng 3 năm 1881, một nhóm cựu du học sinh người Nhật ở Pháp bao gồm Tây Viên Tự Công Vọng, Tùng Điền Chính Nghĩa, … sau khi về nước đã đứng ra thành lập tờ báo Đông Dương Tự do Tân văn, chủ trương thành lập nền dân chủ triệt để, truyền bá tư tưởng tự do. Trước đó, vào năm 1880, triều đình được sự ủng hộ của Thiên hoàng đã thông qua “Điều lệ hội họp” và “Điều lệ báo chí” hạn chế gắt gao quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, cấm phát hành các văn kiện bàn bạc về chính trị,… nhưng triều đình không áp dụng ngay với trường hợp của Tây Viên Tự Công Vọng, vì Tây Viên Tự Công Vọng là anh ruột của quan Thị tùng trưởng của Thiên hoàng và có ảnh hưởng chính trị rất lớn. Thay vào đó, triều đình Thiên hoàng cố gắng dùng biện pháp khuyên nhủ, uy hiếp nhằm thuyết phục Tây Viên Tự Công Vọng rút lui khỏi tờ báo nhưng đã không thành công. 

Cuối cùng, Thiên hoàng buộc phải dùng đến biện pháp cứng rắn, ra sắc lệnh buộc Tây Viên Tự Công Vọng rút lui khỏi tờ báo và sau đó ra sắc lệnh đóng cửa luôn tờ báo – trước sau ra được 34 số. Để xoa dịu phong trào đấu tranh của quần chúng, tháng 10 năm 1881 Thiên hoàng Minh Trị tuyên bố sẽ triệu tập quốc hội vào năm 1890, nhưng quyền hạn của quốc hội sẽ do Thiên hoàng quyết định. Đồng thời ông cũng không quên đe dọa:

“Trẫm đã nói rõ kế hoạch như trên, nếu ai vẫn tỏ ra nôn nóng, vẫn sách động gây sự, làm nguy hại đến an ninh của quốc gia, thì sẽ bị dựa theo quốc pháp mà trừng trị.”

— Minh Trị Thiên hoàng

Do bị triều đình Thiên hoàng trấn áp và phân hóa, phong trào Tự do Dân quyền đã nhanh chóng suy yếu. Sau khi Thiên hoàng Minh Trị ngồi vững trên ngai vàng thống trị, ông đã bắt đầu tăng cường địa vị của mình.

1.4.4. Tăng cường thế lực, gia sản của Hoàng gia

Tháng 2 năm 1882, quan đại thần Iwakura Tomomi – vốn là một nhân vật chống lại phong trào Tự do Dân quyền – đề xuất rằng trước khi soạn thảo Hiến pháp (đề cập về HIến Pháp phần 1.4.7) thì cần phải mở rộng tài sản của Hoàng gia. Việc này nhằm đề phòng trường hợp dự toán ngân sách của Triều đình bị Quốc hội phủ quyết thì Thiên hoàng có thể sử dụng số tài sản khổng lồ của mình để trang trải kinh phí, trả lương cho quan lại, đảm bảo quân quyền sẽ áp chế dân quyền. Kiến nghị này được Thiên hoàng Minh Trị đồng ý ngay.

Để nhanh chóng tăng cường tài sản cho Hoàng gia, Thiên hoàng đã học theo cách vơ vét tài chính của Mạc phủ trước kia. Trước hết, ông ra tay thu gom một số lớn ruộng đất vào tay mình: từ 1100 đinh ruộng (1 đinh bằng 15 mẫu) sở hữu vào năm 1882, cho đến năm 1886 Hoàng gia đã sở hữu một số ruộng gấp 30 lần như vậy. 

Thiên hoàng Minh Trị
Thiên hoàng Minh Trị (1868-1912)

Khi ban bố Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản (1889), con số này lên tới 1.121.048 đinh, qua năm sau (1890) tăng gần 3 lần, lên đến 3.069.533 đinh. Hầu hết số ruộng này nằm ở các vùng như Phú Sĩ, Mộc Tăng, Thiên Thành – đây là những nơi có ruộng đất và bãi chăn nuôi tốt nhất Nhật Bản. Nội sảnh đã phải mở thêm một Cục Ngự dụng để quản lý số ruộng đất khổng lồ đó. Đồng thời, kể từ năm 1882, Thiên hoàng cũng sở hữu một lượng lớn chứng khoán, giá trị lên tới 5 triệu Yên trong cổ phần Ngân hàng Nhà nước Nhật Bản, 1 triệu Yên trong Ngân hàng Yokohama, 2,06 triệu Yên trong cổ phần công ty du thuyền Nhật Bản. Đây là một con số cực kỳ lớn so với 1 vạn Yên mà Thiên hoàng Minh Trị thừa hưởng từ vua cha Kōmei.

Như vậy Thiên hoàng Minh Trị đã trở thành một địa chủ và tài phiệt lớn nhất của Nhật Bản, điều này đã xác lập nền tảng tài chính vững chắc cho sự thống trị của Thiên hoàng.

1.4.5. Khôi phục, củng cố hình ảnh Thiên hoàng

Ngoài ra, một biện pháp khác trong việc củng cố uy quyền của Thiên hoàng chính là nâng cao uy tín và ảnh hưởng của mình trong dân chúng. 

Trước đây, do chính sách cô lập và cách ly của chính quyền Mạc phủ suốt nhiều thế kỷ, hình ảnh của Thiên hoàng rất ít được phổ biến trong dân chúng. Nhiều câu ca dao đã ví Thiên hoàng như “con chim phượng hoàng bị sa cơ, con chim trĩ chạy lửa rừng đang thiêu đốt”. Trong thời kỳ đó, các Thiên hoàng gần như không bao giờ rời khỏi Hoàng cung tại Kyōto, chỉ rời Hoàng cung nếu Thiên hoàng thoái vị hoặc để trốn vào một ngôi miếu nếu Hoàng cung bị cháy. Một số Thiên hoàng sống đủ lâu để trở thành Thái thượng hoàng; trong 5 vị tiên đế của Thiên hoàng Minh Trị, chỉ có ông nội của ông sống qua tuổi 40 và mất ở tuổi 46.

Nay, chính quyền Mạc phủ không còn, Thiên hoàng Minh Trị và triều đình Nhật không để cho hình ảnh của Thiên hoàng bị mờ nhạt như xưa nữa. Chính vì vậy, họ dùng đủ mọi biện pháp tuyên truyền để nâng cao uy tín Thiên hoàng.

Triều đình Nhật Bản lúc này đã phát động một phong trào Thần thánh hóa Thiên hoàng khắp trong cả nước. Họ tuyên truyền rằng Thiên hoàng là một vị Thần, thậm chí còn có địa vị cao hơn hẳn các vị thần khác vì theo truyền thống của Nhật Bản, Thiên hoàng là hậu duệ trực tiếp của Ninigi, cháu nội của Thiên Chiếu Ngự Đại Thần Amaterasu-ōmikami. 

Một điện thờ được xây trong Hoàng cung, và một hệ thống miếu thờ được xây dựng ở các địa phương trên phạm vi toàn quốc. Vào tháng 6 năm 1869, theo yêu cầu của Thiên hoàng, một ngôi miếu mang tên “Tōkyō Shōkonsha” (Đông Kinh Chiêu Hồn xã) được xây dựng trên đường Cửu Đoạn Bản ở kinh thành Tōkyō, nhằm vinh danh các chí sĩ đã chiến đấu và hy sinh cho công cuộc cải cách Duy Tân và sự nghiệp lật đổ Mạc phủ Tokugawa. Năm 1879, triều đình đổi tên ngôi miếu thờ cô hồn này thành Đền Yasukuni (Yasukuni Jinja), tức là “Tĩnh Quốc Thần xã”. Về sau, theo đà phát triển của chủ nghĩa quân quốc Nhật Bản, tất cả những ai chết vì Thiên hoàng – kể cả những tướng sĩ chết trong các cuộc chiến tranh xâm lược, trong đó có những tội phạm chiến tranh – đều được thờ trong ngôi đền Yasukani này.

Một tờ cáo thị thời đó đã viết:

“Suy nghĩ kỹ đi nào ! Nước Nhật Bản là do tổ tiên của Thiên hoàng khai sáng. Tất cả những gì trên đất nước Nhật Bản đều là của Thiên hoàng. Khi các ngươi vừa sinh ra thì phải dùng nước của Thiên hoàng để tắm, và khi chết đi thì phải chôn xuống đất của Thiên hoàng.”

— Cáo thị

Đồng thời, ngay từ cuối năm 1873, ảnh của ông đã được phân phối đến các huyện để treo ở gian phòng chính, và kể từ tháng 1 năm 1874, triều đình cho phép người dân tới đây để quỳ lạy trước ảnh Thiên hoàng. Việc quỳ lạy ảnh chân dung Thiên hoàng được xem là một nghi thức thiêng liêng thần thánh, trước giờ chưa từng xảy ra. Vì vậy, phàm ai quỳ lạy ảnh Thiên hoàng phải ăn mặc chỉnh tề, sạch sẽ theo lễ phục Nhật Bản; việc nói chuyện ồn ào bị cấm đoán nghiêm khắc. Việc cất giữ ảnh Thiên hoàng trong nhân dân cũng bị nghiêm cấm, ai vi phạm sẽ bị trừng trị theo quốc pháp. Đồng thời, đối với học sinh, chỉ những ai theo học ở các trường lớn, có tiếng tăm mới có “diễm phúc” được quỳ lạy ảnh Thiên hoàng treo trong trường học. Ảnh của Thiên hoàng không được phân phát đến các trường học nhỏ, các trường tư; họ chỉ có thể tổ chức cho học sinh đến các trụ sở huyện hoặc đến các trường học lớn để lạy ảnh Thiên hoàng.

Thiên hoàng Minh Trị cũng liên tục tổ chức nhiều chuyến đi thị sát tại các địa phương. Trong suốt 45 năm làm vua, ông đã tổ chức đi thị sát cả thảy 96 lần. Mục đích thực chất của các chuyến “vi hành” này chỉ nhằm nâng cao uy thế và gieo vào lòng quần chúng nhân dân hình ảnh “nhân từ” của Thiên hoàng. Chính vì vậy các chuyến vi hành được tổ chức hết sức rầm rộ theo hình thức tiền hô hậu ủng. Phàm ai nhìn thấy lá cờ Thiên hoàng của đoàn vi hành đều phải đứng dạt ra bên vệ đường và ngả mũ cung kính chào. Trong các chuyến “thị sát” kiểu như thế này, Thiên hoàng thường ban phát ân huệ cho những người con hiếu thảo, những tiết phụ, những người già, người nghèo neo đơn không nơi nương tựa, hoặc đến bên bờ ruộng xem nông dân cày cấy, tỏ ra quan tâm đến cuộc sống của người bình dân lao khổ.

Về mặt quân sự, ngày 4 tháng 1 năm 1882 ông ban bố “Quân nhân Sắc luận”, ghi rõ: “Trẫm là Đại nguyên soái của quân nhân các ngươi… là hai cánh tay của các ngươi.”, đồng thời quy định rằng các quân nhân phải làm tròn “năm điều quy định của võ sĩ đạo”: tận trung, lễ nghĩa, tín nghĩa, trọng võ dũng, tiết kiệm giản dị; đặc biệt “tận trung” được ưu tiên số một. 

Cụ thể, theo nhận định của tác giả người Trung Quốc Thẩm Kiên thì người quân nhân Nhật Bản phải “trung quân ái quốc”, phải sùng bái Thiên hoàng như một vị Thần. Tinh thần võ sĩ đạo do Thiên hoàng đề xướng nhằm giáo dục quân nhân, biến người lính Nhật Bản thành quân cầm súng cho Thiên hoàng, trở thành công cụ cho mục tiêu bành trướng xâm lược của Nhật Bản.

1.4.6. Cải cách về việc thiết trí cơ cấu và nhân sự

Sau khi Thiên hoàng Minh Trị đích thân chấp chính, ông đã tạo ra nhiều thay đổi trong việc bãi miễn, bổ nhiệm nhân sự và thiết trí cơ cấu. 

Tháng 7 năm 1884, triều đình soạn thảo “Hoa tộc lệnh”, gộp chung các công khanh, các lãnh chúa đại danh cũ và các công thần Duy Tân xuất thân từ sĩ tộc thành Kazoku (Hoa tộc). Những người này sẽ được Thiên hoàng đích thân phong tước vị cho họ, các tước vị này được chia làm năm bậc: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam như các nước phương Tây. Những người này trở thành vây cánh của Hoàng gia và củng cố sự thống trị của Thiên hoàng. Như vậy là một chế độ quý tộc mới đã được nhà vua hình thành tại đế quốc Nhật Bản.

Đến cuối năm 1885, ông hoàn toàn bãi bỏ chế độ Thái Chính Quan cũ, xây dựng chế độ Nội các dập khuôn theo hình mẫu phương Tây. Giống như mô hình các nước phương Tây, đứng đầu Nội các là Tổng lý Đại thần – và Quốc vụ đại thần. Nội các này sẽ là một tổ chức trực thuộc vào Thiên hoàng. Năm 1885, Itō Hirobumi – một người Chōshū – trở thành Tổng lý Đại thần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản.

Không những thế, một cải cách khác về mặt nội chính của Thiên hoàng Minh Trị là ban bố Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, còn gọi là Hiến pháp Minh Trị.

1.4.7. Ban bố Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản (1889)

Thời điểm Minh Trị Thiên hoàng lên ngôi, hầu hết các quốc gia châu Á đều dưới chế độ quân chủ chuyên chế. Quyền hạn của các vị vua được coi là tuyệt đối, bất khả xâm phạm.

Nhưng trong khoảng 15 năm đầu lên ngôi, cuộc cải cách Duy Tân đã đem xã hội cũng như thần dân Nhật Bản vào những chương trình cải cách toàn diện. Dân trí Nhật Bản dần dần tăng lên. Nhiều người được du học nước ngoài từ các nền văn minh Tây phương. Chính vì vậy, khi về nước họ phát động phong trào đòi hỏi triều đình phải có một bản hiến pháp để làm căn bản trong điều hành đất nước.

Trước sức ép của người dân, triều đình Thiên hoàng đã hứa hẹn sẽ thành lập quốc hội soạn thảo một bản Hiến pháp mới cho đất nước. Để soạn thảo bản Hiến pháp này, năm 1882 Thiên hoàng Minh Trị đã gửi một phái đoàn do Itō Hirobumi đến các quốc gia ở châu Âu để tham khảo pháp luật của các quốc gia này. Cuối cùng nhóm khảo sát quyết định chọn hiến pháp của nước Phổ để làm khuôn mẫu cho hiến pháp tương lai của Nhật Bản. Tiếp đó, ông tổ chức một nhóm người bí mật tiến hành việc soạn thảo hiến pháp. Khi thẩm nghị cuối cùng, ông đã cùng với nhóm này tổ chức nhiều cuộc họp kín suốt mấy tháng liền, trong đó mọi người đem bản Hiến pháp ra mổ xẻ kỹ lưỡng, canh từng câu từng chữ, thảo luận, bàn cãi về từng điều khoản một trong đó. Thậm chí khi được tin con gái là Du Nhân bị bệnh mất, Thiên hoàng cũng không rời khỏi cuộc họp mà vẫn tiếp tục bàn luận với triều thần.

Thiên hoàng Minh Trị
Ban bố Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản (1889)

Cuối cùng, bản Hiến pháp đầu tiên của đất nước Nhật Bản đã được công bố ngày 11 tháng 2 năm 1889 (niên hiệu Minh Trị thứ 22), đúng vào ngày kỷ niệm việc lên ngôi của Thiên hoàng Jimmu (Thần Vũ). Hôm đó, ông cùng bá quan văn võ và các sứ thần ngoại quốc đến điện Ô Minh trong Hoàng cung để làm lễ triều bái trước Gương thần Ngự Linh – đại biểu cho Thiên Chiếu Ngự Đại Thần Amaterasu-ōmikami – rồi sau đó mọi người lại tới điện Hoàng Linh để đọc bản Thần Văn bố cáo lên chư thần cùng hồn thiêng của các đời liệt tổ liệt tông:

“Theo đà phát triển của thời đại, cần phải viết ra thành văn bản những lời di huấn của tổ tiên các thời đại, lấy đó làm căn cứ cho con cháu của Thiên hoàng tuân theo, đồng thời, qua sự phụ tá của thần dân mở rộng bước đường của Thiên hoàng để cho tất cả sẽ tuân thủ vĩnh viễn. Cho nên nay mới soạn thảo ra Điển phạm và Hiến pháp của Hoàng gia, kính thỉnh chư thần khen ngợi.”

Sau đó, sắc chỉ ban hành hiến pháp được chính thức tuyên bố. 

Theo Hiến pháp 1889, Thiên hoàng có quyền hành “thiêng liêng bất khả xâm phạm”, là Nguyên thủ quốc gia, nắm trọn quyền thống trị. Về mặt đối nội, Thiên hoàng có thể dựa vào Hiến pháp để triệu tập hoặc giải tán nghị hội, bổ nhiệm hoặc bãi miễn quan lại và chỉ huy Lục quân, Hải quân và Không quân của Đế quốc Nhật Bản. Về mặt đối ngoại, Thiên hoàng có quyền tuyên chiến, giảng hòa, ký kết hòa ước. Các cơ cấu của quốc gia được hành xử chức năng và quyền hạn bên dưới Thiên hoàng: nghị hội trợ giúp Thiên hoàng thẩm nghị chính vụ của quốc gia, tòa án lấy danh nghĩa của Thiên hoàng để xét xử, Viện khu mật là cơ quan tư vấn của Thiên hoàng. Đồng thời, theo Hiến pháp, người dân Nhật Bản là “thần dân” của Thiên hoàng, có quyền tự do ngôn luận, nhóm họp và tổ chức hội đoàn, v.v… Tuy nhiên các quyền tự do này bị hạn chế bởi những câu trong hiến pháp như “ngoại trừ những trường hợp đã quy định theo pháp luật…”

Nói tóm lại, hiến pháp Minh Trị, bản hiến pháp đầu tiên ở Nhật Bản và cũng là ở châu Á, trên thực chất là tổng hợp của hai yếu tố “cận đại” và “truyền thống”, vừa công nhận một số quyền tự do của dân chúng, vừa tập trung quyền lực vào Thiên hoàng. Nói một cách dễ hiểu, bản hiến pháp đầu tiên của Nhật Bản đã thay đổi chế độ quân chủ chuyên chế thành chế độ quân chủ lập hiến mà nhiều nước phương Tây đang thực hiện. Nhờ có bản hiến pháp văn minh và thức thời này mà Thiên hoàng đã có thêm quyền lực và tự tin trong các cuộc canh tân. 

Trên thực tế những chính trị gia gốc Satsuma – Choshu đã sử dụng taiken dưới danh nghĩa của Thiên hoàng. Tuy không chính thức, họ lập thành lập một nhóm gọi là genro (nguyên-lão), có quyền quyết định những công việc quan trọng như “góp ý kiến” với Thiên hoàng về việc bổ nhiệm Thủ tướng,…

1.4.8. Cải cách về lĩnh vực giáo dục dưới thời Minh Trị

Bản thân Minh Trị Thiên hoàng cũng phải trải qua quá trình giáo dục rất khắt khe để đào tạo ra một vị vua có đầy đủ kiến thức về mọi lĩnh vực, kể cả những kiến thức liên quan đến sự phát triển của nền văn minh phương Tây. Vì thế mà cải tổ nền giáo dục là một lĩnh vực mà Thiên hoàng đặc biệt chú trọng. Ông cho rằng, việc làm đầu tiên để cuộc cải cách đạt được hiệu quả là phải giáo dục cho nhân dân, họ sẽ thức thời mà giúp vua giúp nước trong công cuộc đưa Nhật Bản trở thành một đất nước giàu mạnh. Nền giáo dục cổ truyền Nhật có những yếu tố tích cực, nhưng cũng có những hạn chế và sai lầm khiến cho Nhật Bản bị đình trệ, mà ông quyết tâm xóa bỏ.

Năm 1871, khi Thiên hoàng còn chưa đích thân chấp chính, Bộ giáo dục được thiết lập, nhiệm vụ là phụ trách, trông coi những hoạt động giáo dục và đưa ra quyết định về chương trình giáo dục. Sang năm sau (1872), học chế được Bộ Giáo dục ban bố, bắt đầu một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử nền giáo dục Nhật. Triều đình cũng cho du học sinh sang các nước phương Tây (phần lớn là Anh, Đức, Mỹ), học về hệ thống chính trị, quân sự và kinh tế ở những nước này. Sau khi về cố quốc, những học sinh giỏi nhất trong số đó sẽ tham gia vào việc giúp vua dựng nước.Những điều mới lạ mà các du học sinh được từ nước ngoài sẽ được Thiên hoàng và các cố vấn phân tích, chọn lọc, áp dụng trong nhiều lĩnh vực.

Năm 1889, triều đình Minh Trị ban bố sắc lệnh giáo dục. Theo sắc lệnh giáo dục, nền giáo dục mới nhằm mục đích đem lại những giá trị tinh thần tiến bộ. Bên cạnh đó, cũng trong sắc lệnh này, triều đình khuyến khích nhân dân không được quên nền tảng Nho giáo xưa, tuyên dương tinh thần thượng võ cổ truyền vốn có của người Nhật, nhưng cũng học hỏi văn hoá các nước phương Tây. Dưới thời Minh Trị, có lẽ không có một tầng lớp nhân dân nào, thậm chí phụ nữ, không được học hành. Không những giáo dục lý luận, triều đình còn chú trọng tới giáo dục kỹ thuật thực nghiệm, giáo dục về cả dân sự lẫn quân sự.

Nhờ có những chính sách đúng đắn của Thiên hoàng Minh Trị, Nhật Bản trở thành một xã hội có nền giáo dục tốt, với ý muốn đầy tham vọng: “học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt phương Tây”. Dưới triều vua Minh Trị, người ta thực hiện việc giáo dục trên khắp Nhật Bản, ở mọi nơi có những trường mẫu giáo, tiểu học, trung học, đại học, hay những cơ sở phục vụ việc giáo dục được khai trương. Thiếu nhi – chủ yếu là những đứa bé từ 6 đến 14 tuổi – đều bị bắt buộc phải học tập. Đối với cấp học của họ, triều đình không ngần ngại chịu trách nhiệm chi trả các khoản chi phí.

Thời bấy giờ, việc dạy học học mỗi lứa tuổi không giống nhau về giờ giấc cũng như độ khó hay dễ. Trong việc giáo dục, học sinh được học các môn theo một thứ tự hợp lý. Đối với các nhà giáo, triều đình cũng đề cao vai trò của họ và chú ý chặt chẽ đến họ. Để đào tạo những nhân tài cho đất nước, chính quyền mời người ngoại quốc đến làm giảng viên, nhưng điều này không có nghĩa là người Nhật không được làm nhà giáo: Nhật tích cực thực hiện những việc làm có ích lợi cho việc xây dựng đội ngũ các nhà giáo người Nhật vừa đông đúc vừa dạy giỏi.

Trong việc giáo dục, triều đình Thiên hoàng yêu cầu phải tập trung phổ biến, truyền bá tư tưởng “trung quân ái quốc” cho các học sinh. Sắc lệnh giáo dục năm 1880 quy định nhà trường đối với môn lịch sử phải đặt trọng tâm vào thể chế kiến quốc. Như đã đề cập, năm 1890, Thiên hoàng Minh Trị đích thân ban bố Giáo dục sắc ngữ, lấy việc “phụ tá hoàng vận”, “chí trung chí hiếu” làm căn bản, bắt buộc mỗi học sinh hàng ngày phải quỳ lạy trước ảnh Thiên hoàng, phải nhớ nằm lòng “Sắc ngữ” của Thiên hoàng và “Di huấn của Hoàng tổ Hoàng tông”.Một đoạn trong “Giáo viên Tiểu học cần biết” soạn thảo năm 1881 có ghi:

“…phàm dạy môn lịch sử trước tiên là phải bồi dưỡng chí khí tôn vương ái quốc… Trách nhiệm của giáo viên là phải dạy cho học sinh hiểu rõ việc trung thành với hoàng gia, yêu quốc gia…”

Công cuộc cải tổ về việc giáo dục của Thiên hoàng Minh Trị đã đạt được những thành tựu đáng kể. Với cuộc cải tổ này, nhân dân Nhật nhận lấy một nền giáo dục có xu hướng mới, nhưng không đồng nghĩa với việc họ quên đi nền văn hóa cổ truyền của đất nước Mặt trời mọc, mà đề cao tinh thần dân tộc chủ nghĩa của người Nhật Bản. Nhờ cải cách giáo dục mà Nhật Bản đã vươn lên sánh vai với đế quốc Mỹ và châu Âu, đứng trong hàng ngũ những cường quốc thời bấy giờ. 

2. Lời bình

Sách báo cũng như tài liệu của Nhật Bản viết rất nhiều về Minh Trị Thiên hoàng, coi ông là vị vua tài ba, lỗi lạc, thậm chí là coi như thần thánh. 

2.1. Phụ lục cuộc đời của Thiên hoàng

Không có nhiều thông tin về thời trẻ của ông, và cũng có nhiều lịch sử mâu thuẫn về thời thơ ấu này. Một số nói rằng ông là kẻ hay bắt nạt người khác, một số khác lại nói rằng ông khi còn bé là một đứa trẻ tinh vi và ốm yếu. Nhưng việc chúng ta biết là lúc nhỏ đã có lúc ông không coi trọng việc học hành, bởi vì ông ấy đã thừa nhận rất nhiều: một trong những chủ đề chính trong thơ tanka của ông là sự hối tiếc về việc học tập không đủ. 

Có một sự thật là ở Nhật Bản ngày trước, hành động sinh con được coi là một hành động xấu xa và bẩn thỉu, và ngay cả việc sinh ra một hoàng tử cũng không ngoại lệ. Hoàng cung được hiểu là nơi cao quý, tôn nghiêm không phải nơi để sinh nở, và Thiên hoàng Minh Trị đã được sinh ra trong một ngôi nhà nhỏ xa trung tâm hoàng gia.

Năm 14 tuổi, Thiên hoàng Minh Trị được lên ngôi là hoàng đế. Ông kết hôn với Masako Ichijō nhưng vào thời điểm họ gặp nhau, ông đã không thể chính thức kết hôn vì chưa đủ tuổi. Mặc dù cuộc hôn nhân của hoàng đế và hoàng hậu rất hạnh phúc, nhưng họ đã sớm nhận ra rằng hoàng hậu hiếm muộn. Hoàng đế lúc này phải miễn cưỡng với người phụ nữ khác vì ông có nghĩa vụ tạo ra người thừa kế ngai vàng. Những phụ nữ này được lựa chọn cẩn thận thuộc giới quý tộc và chủ yếu trong độ tuổi thiếu niên. Tuy nhiên, ngay cả khi một người phụ nữ đủ may mắn sinh con của hoàng đế, cô ấy cũng chưa chắc đã biết được niềm vui của việc làm mẹ, vì đứa bé sẽ được mang đi và chính thức được coi là con của hoàng hậu. Tất cả những đứa con của hoàng đế đều giống nhau, như chúng ta đã biết từ tấm gương của Nakayama Yoshiko – mẹ của Minh Trị. 

Thiên hoàng Minh Trị
Gia đình Thiên hoàng

Minh Trị có 15 người con với 5 người phụ nữ. Từ lâu đã có những lời đồn thổi về cuộc sống tình ái của ông, và thậm chí ngày nay một số người còn tự hào khẳng định rằng họ là con cháu ngoài giá thú. Nhưng rất ít bằng chứng hỗ trợ những tuyên bố như vậy.

Có thể dễ dàng hình dung rằng một thanh niên đang độ đôi mươi lại chịu áp lực sinh con càng sớm càng tốt, có thể lao mình vào những thú vui thể xác làm tổn hại đến việc học của mình. Nhật ký của Kido, đặc biệt là từ năm 1874, thường xuyên đề cập đến việc học hành của hoàng đế đang đi vào bế tắc, ngụ ý rằng tâm trí của ông đang dành cho những vấn đề khác. Năm đó, theo yêu cầu của các gia sư hoàng gia, Kido thúc giục hoàng đế tận tâm trong việc học của mình để chứng minh rằng ông xứng đáng với dòng dõi thần thánh. Có lẽ đây là một cách gián tiếp để khuyên ông không nên dành quá nhiều thời gian cho phụ nữ.

Một việc đáng quan tâm khác là việc hoàng đế thích uống rượu. Nhiều người trong số những người từng phục vụ hoàng đế, bao gồm cả hầu phòng Takashima Tomonosuke (1844-1916), đã chứng thực khả năng uống rượu của ông. Takashima kể lại rằng dù hoàng đế có uống rượu vào đêm hôm trước đến mức nào, thì sáng hôm sau, ông vẫn chưa bao giờ có dấu hiệu nôn nao dù là nhỏ nhất. Ông có thể ngủ ít hơn một người đàn ông bình thường. Khi thức dậy, thậm chí chỉ sau 4 hoặc 5 giờ ngủ, ông ấy vẫn sẽ nhanh chóng đến văn phòng của mình, sẵn sàng làm việc.

2.2. Những phẩm chất của Thiên hoàng Minh Trị

Mặc dù nhút nhát khi còn nhỏ, nhưng khi lên ngôi năm 14 tuổi, với sự trợ giúp và dạy bảo của triều thần, ông đã thay đổi hoàn toàn. Năm 1878, khi 25 tuổi, ông thực sự chấp chính và rất tự tin vào kiến thức cũng như tài năng lãnh đạo của mình. 

Siêng năng, ham học. Mặc dù không có gia sư nào mô tả Minh Trị là bác học, nhưng Takatsuji Osanaga (1840-1921) kể lại rằng ông đã lắng nghe các bài giảng với sự chú ý thích thú và bất cứ khi nào ông không hiểu điều gì đó, ông sẽ đặt câu hỏi cho đến khi ý nghĩa hoàn toàn rõ ràng. 

Katō Hiroyuki thuyết giảng về hiến pháp và luật quốc tế mỗi tuần cho ông, nhưng thật không may, nghĩa vụ của hoàng đế được ưu tiên hơn các bài học và ông đã bị chậm tiến độ mà Katō đã đặt ra. Sau đó, thời gian học của ông đã được sắp xếp tăng thêm một giờ mỗi ngày, hoàng đế có mặt tại văn phòng mỗi ngày lúc 7h sáng vào mùa hè và 8h30 vào mùa đông. Nhưng sự siêng năng của hoàng đế chính là ông dậy lúc 5 giờ sáng hàng ngày và đợi trong văn phòng khi các gia sư đến.

Kato nhận định: 

“Bản chất của Hoàng đế là người cực kỳ kỹ lưỡng và kiên định. Ngài dường như không muốn dừng lại giữa chừng; ngài không dừng lại cho đến khi hiểu được những điều cơ bản đối với bản thân mình. Ví dụ, nếu một ngày nào đó tôi nói điều gì đó mà ngài  không hiểu, ngài sẽ đặt câu hỏi vào ngày hôm sau cho đến khi hoàn toàn hiểu. Tiến độ tuy chậm, nhưng khi đã nắm bắt được điều gì đó, ngài sẽ không bao giờ quên nó và sẽ luôn tận dụng nó. Khả năng này luôn khiến tôi kinh ngạc. Là một nhà giáo dục, tôi đã tiếp xúc với nhiều học sinh trong nhiều năm qua, nhưng tôi chưa bao giờ gặp ai như Bệ hạ, người dù chưa bao giờ kiểm tra nhưng lại áp dụng bản thân vào việc học của mình theo cách này hoàn toàn để rèn luyện tinh thần.”

Ông còn là một người có tinh thần trách nhiệm từ khi còn nhỏ. Mặc dù đôi khi ông đã bỏ bê việc học của mình, trước sự thất vọng của Kido và những người cố vấn khác, nhưng ý thức trách nhiệm mạnh mẽ không bao giờ cho phép ông bỏ bê công việc nhà nước (như uống rượu, ngủ ít nhưng hoàng đế vẫn đến làm việc đúng giờ vào sáng sớm hôm sau. Nhận thức sâu sắc của ông về ý nghĩa của việc trở thành hoàng đế của Nhật Bản đã gây ấn tượng sâu sắc với các nhà bình luận nước ngoài. Nhiều người đã so sánh ông với các vị vua trị vì của châu Âu. Charles Lanman, viết năm 1882, là điển hình trong lời ca ngợi của ông:

“Không giống như nhiều hoàng tử và nhân vật hoàng gia của châu Âu, ông không nghiện tự mãn, mà rất thích tu luyện tâm trí của mình; không có đau đớn cũng như bất tiện cá nhân để tiếp thu kiến ​​thức. Mặc dù còn trẻ nhưng ông thường chủ trì các cuộc họp của các Ủy viên Cơ mật của mình, … Ông thường đến thăm các bộ phận điều hành của mình và tham dự tất cả các dịch vụ công cộng mà cần sự hiện diện của Hoàng gia. Trong khi theo đuổi mục tiêu văn học cũng như khoa học của mình, ông tuân thủ các quy tắc nghiêm ngặt nhất và có một số giờ nhất định cho các nghiên cứu đặc biệt. Trong tính cách của mình, ông được cho là hiền lành, cương quyết, cầu tiến và đầy khát vọng”.

Không những với bản thân, Thiên hoàng còn hiểu rõ tầm quan trọng của sự học mà từ đó ông yêu cầu Hoàng hậu và tất cả cung nữ phải học để mở mang kiến thức… Đất nước Nhật đã gửi hàng loạt sinh viên đi du học tại châu Âu và Hoa Kỳ. Giữa 1868 – 1902, nghĩa là 34 năm, Nhật Bản đã cấp 11.248 hộ chiếu du học nước ngoài, cho thấy đợt du học lớn nhất đầu tiên thời hiện đại. 

Bao dung. Sử sách còn ghi lại, Minh Trị là vị vua bao dung. Năm 1903, tướng quân Tokugawa Keiki của Mạc Phủ, dòng họ đã tiếm quyền nhiều đời của tổ tiên ông, xin đầu hàng và sẵn sàng phục vụ đất nước khi ông giành lại được quyền lực, ông đã tha thứ và phong cho tước công. Ông cũng sẵn sàng phục chức hay trả ơn cho những công thần đã vì xã tắc và hoàng gia mà bị oan khiên, hãm hại. 

Vị vua lý tưởng. Minh Trị Thiên hoàng được coi là một vị vua biết dùng người. Ông nhìn rất rõ tài năng, đức độ của tất cả quan lại, nhân sĩ chung quanh ông và cất nhắc, sử dụng.

Hoàng đế Minh Trị thích ăn mặc các bộ quân phục châu Âu sang trọng, có lẽ phù hợp với tinh thần võ sĩ đạo của quốc gia đã được đổi mới, nhưng ông lại là người của hòa bình, từ chối việc tuyên chiến với Trung Hoa năm 1894, và không lấy gì làm vui trước tin chiến thắng Nga năm 1905. 

Đặc biệt, Minh Trị đạt tới độ ngưỡng mộ chưa từng thấy trong nhân dân. Ông là một vị vua chăm chỉ và lý tưởng. Ông năng nổ, chịu học hỏi, biết lo lắng cho dân và phát triển đất nước với khẩu hiệu: “Phú quốc, Cường binh”. Khi ông mất, Nogi Maresuke, vị tướng chiến trường năm xưa trong hai cuộc chiến tranh Trung-Nhật và Nga-Nhật và được xem là một vị anh hùng của Nhật Bản, vốn chịu ơn Minh Trị nhiều lần, đã cùng với vợ tự tay thực hiện junshi là nghi thức chết theo chúa sau khi ông để lại một bài thơ vĩnh biệt.

Tấm gương tiết kiệm. Ông làm gương tiết kiệm và dâng hiến tài sản của Hoàng gia cho việc xây dựng cơ sở đóng tàu chiến, chế tạo vũ khí, khai thác hầm mỏ… Ông đã giảm hơn 2/3 số lượng cung nữ để làm gương và tránh tổn phí. Người Nhật tìm thấy câu chuyện xoay quanh ông để ca ngợi. Một người hầu phòng kể lại rằng chiếc bút lông viết mà ông sử dụng đã bị mòn ở phần cuối và ông đã dùng que chấm mực vào mảnh cuối cùng, tự mài mực. Năm này qua năm khác, ông ấy vẫn mặc cùng một bộ y phục kiểu cũ. Y phục thường được sửa lại, khi đôi giày của ông trở nên cũ và lỏng lẻo, các quan hầu phòng đã mua cho ông những đôi giày mới. Ông luôn tuân theo nguyên tắc: “Nếu cái gì có thể sửa chữa và sử dụng lại được, thì nó nên được sửa chữa.” 

2.3. Thiên hoàng – cận thần và người dân Nhật

Thực tế, tất cả những thăng hoa trong cuộc đời Thiên hoàng Minh Trị dĩ nhiên có yếu tố của cá nhân nhưng không thể phủ nhận một điều tất yếu là ông phải có những ban tham mưu tài năng, đức độ, trung thành quanh ông. Chẳng hạn như ông Motoda Eifu tinh thông Nho giáo là thầy dạy đầu tiên của Minh Trị Thiên hoàng. Vị này đã dạy ông tinh tuý của Nho giáo, thi ca và đạo đức của một minh quân, lấy sự vinh hiển của quốc gia và hạnh phúc của thần dân làm trách nhiệm. Ông Yoshi Tomo giúp đỡ Thiên hoàng xoá sổ các lãnh chúa và rời xa hậu cung để dành thời gian cho việc nước… Và còn biết bao nhiêu những người tài năng khác bao quanh ông với một tinh thần phục vụ đất nước và trung thành với Thiên hoàng.

Có lẽ một yếu tố không kém phần quan trọng đã đóng góp vào thành quả vĩ đại của những chương trình canh tân của Minh Trị Thiên hoàng là phẩm chất của người dân Nhật Bản. Người ta có thể dễ dàng nhìn thấy những đức tính của Thiên hoàng thể hiện rất rõ ràng ở hầu hết công dân Nhật. Đó là tính đoàn kết, có thứ tự trên dưới, trọng luật pháp, tự trọng, trách nhiệm với công việc, chăm chỉ và tài sáng tạo. Chỉ trong khoảng 20 năm Thiên hoàng gửi người đi học kỹ thuật phương Tây mà Nhật đã có một nền công nghệ vượt trội. Có đội chiến thuyền, khí tài tân tiến, hùng mạnh… 

Xét cho cùng, Thiên hoàng hay cận thần cũng là người dân Nhật, và cuộc Duy Tân Minh Trị diễn ra để đưa đất nước mạnh giàu đến vậy không gì khác hơn là nhờ vào tinh thần võ sĩ đạo của dân tộc Nhật. Lòng tự trọng và danh dự không muốn để bị nhìn là kẻ thấp kém, đó chính là động cơ mạnh mẽ nhất của cuộc canh tân.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây