Thích ứng

140

Thích ứng

1. Thích ứng là gì?

Thích ứng có nghĩa là chúng ta phải ứng biến để có thể thích hợp với mọi hoàn cảnh, tình huống. 

1.1. Ứng biến

Trong cuốn Hạc lâm ngọc lộ, Lâm Sự chi trí của La Đại Kinh thời Tống có viết: “Đại phàm khi làm việc lớn hay nhỏ đều phải có trí. Trí là gì? Tùy cơ ứng biến dùng để giải quyết sự kiện”. Về ý nghĩa nhất định nào đó, người có trí là người có thể tùy cơ ứng biến theo gió bẻ.

Mục đích cuối cùng của ứng biến là khiến cho ta luôn luôn ở vị trí chủ động nắm được động thái phát triển của sự việc để thực hiện được mục tiêu đã định. Cụ thể, ứng biến có hai công dụng: một là giữ được chủ động, hai là biến bị động thành chủ động.

Trong cuộc sống có thể chia thành 4 tình huống ứng biến:

1.1.1. Nghĩ xa. 

Người không nghĩ xa tất có họa gần. Nghĩ xa là một loại ứng biến có ý nghĩa chiến lược nhất. Một con người nhìn xa thấy rộng lấy được, bỏ được, co được, duỗi được mới tranh thủ chủ động được.

1.1.2. Lo gần 

Nghĩ không được xa tất sinh lo gần. Thậm chí có khi nghĩ xa mưu sâu nhưng do hoàn cảnh khách quan thay đổi bất trắc thì cũng khó tránh khỏi lo gần. Ví dụ do thiên chuyển công tác mà hoàn cảnh trở thành xa lạ.

1.1.3. Giải nguy

Không giải quyết được lo gần tất thành họa gấp, cho nên giải nguy là một loại ứng biến trong một cảnh ngộ nhất định. Ứng biến giải nguy bằng trương thanh thế, hoặc lấy công làm thủ, pháp cụ thể. Nói chung, ứng biến giải nguy phản ảnh rõ mưu trí và khả năng ứng biến của một con người

1.1.4.Tùy cơ 

Đây là trong một tình cảnh ôn hòa mà. tùy cơ hành sự, xử thế thông suốt biến hóa. Đó là biểu hiện chủ yếu của trình độ thao túng lòng người trong giao tế của một con người.

1.2. Thích hợp (thích nghi)

Chúng ta thường nghe đến thuật ngữ thích nghi ở trong lĩnh vực sinh học. Các động vật cần phải thích nghi với môi trường sống để có thể tồn tại được. Và để có thể thích hợp được với sự chuyển biến của môi trường đòi hỏi các loài sinh vật phải tiến hóa. 

Con người chúng ta cũng vì để thích nghi mà tiến hóa từ loài vượn cổ để trở thành hình hài như bây giờ. Nhưng chúng ta khác các loài sinh vật khác, chúng ta có bộ não phát triển, có trí tuệ cao cấp hơn những loài khác. Và hiện tại, chúng ta không chỉ đơn giản là tiến hóa để thích nghi với điều kiện tự nhiên. 

Trong cuộc sống, có rất nhiều trường hợp chúng ta nên thích nghi hoặc là buộc phải thay đổi để thích hợp. Có thể kể đến như là việc thay đổi nơi làm việc. thay đổi nơi sinh sống, thay đổi các mối quan hệ trong cuộc sống (hôn nhân, chia tay, tập thể…) và nhiều hơn nữa mà chúng ta cần phải thích nghi. 

Vậy thích nghi theo quan điểm của mình chính là sự thay đổi về mặt tâm lý, hình thái và năng lực để phù hợp với một môi trường khác biệt với môi trường hiện tại bạn đang sống, làm việc. 

2. Tác dụng của thích ứng

Thích ứng là để giải quyết vấn đề tốt hơn. 

Khả năng thích ứng là một kỹ năng mà mỗi người nên học tập và luyện tập. Bởi vì lợi ích mà nó mang lại nhiều hơn bạn nghĩ. 

2.1. Tồn tại 

Tại sao nói thích ứng là để tồn tại? Bởi vì trong cuộc sống của chúng ta tồn tại rất nhiều sự việc, hiện tượng và vấn đề. Chúng ta thích ứng để có thể giải quyết tốt được những vấn đề thuộc lĩnh vực mới mẻ đối với chúng ta. Những vấn đề đó có thể là sự cạnh tranh, chiến đấu… Là những vấn đề quan trọng quyết định sự tồn tại của chúng ta trong môi trường đó. 

Ví dụ như bạn đang thử việc tại 1 công ty đa quốc gia lớn mạnh và thời gian là 2 tháng. Bạn cùng những đồng sự thử việc khác đang tranh đấu cho một suất nhân viên chính thức. Tuy nhiên chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn không thể thích ứng được với môi trường làm việc ở đây so với đồng sự?

  • Lợi thế cạnh tranh thấp hơn
  • Xử lý công việc kém hơn
  • Khó hòa nhập được với nhân viên chính thức
  • Bạn sẽ mệt mỏi vì không theo kịp được tiến độ
  • Dễ bị stress

Vậy nên trong trường hợp này, nếu bạn không thích nghi. Bạn không nên hay đúng hơn là không thể tồn tại trong môi trường làm việc này. 

2.2. Sự thuận lợi

Đây là điều chắc hẳn sẽ đúng với nhiều trường hợp. Khi chúng ta có khả năng thích ứng tốt, chúng ta sẽ tiếp cận với những vấn đề với một tâm lý thoải mái hơn. Và đó là cơ sở để chúng ta có thể giải quyết những vấn đề một cách dễ dàng hơn. 

Sự thuận lợi cũng đến từ việc bạn đã chuẩn bị đủ năng lực để đối đầu với những vấn đề. 

2.3. Phát triển bản thân

Vốn dĩ để phát triển được bản thân để có thể thích ứng. Ngược lại chúng ta cũng phải thích ứng để có thể phát triển được thân. Đó là mối tương quan giữa hai khái niệm nay. Thích ứng tạo điều kiện tốt hơn để bạn có thể tiếp cận với những môi trường tốt hơn, thuận lợi để học tập và phát triển. Và phát triển bản thân lại giúp bạn có đủ năng lực để thích ứng như đã nói. 

3. Làm gì để thích ứng

Để thích ứng bạn phải thay đổi: từ kỹ năng, kiến thức thái độ và cả bên trong của con người bạn. 

Chúng ta có thể sống được là bởi vì chúng ta phát triển. Để có thể phát triển được chúng ta phải thay đổi.

3.1. Thay đổi và phát triển năng lực 

Thay đổi năng lực gồm có thay đổi kiến thức, kỹ năng và thái độ.

3.1.1. Kiến thức

Kiến thức chính là sự hiểu biết và am hiểu của bạn về vấn đề. Và để cải thiện kiến thức, cách duy nhất chính là bạn phải học. Bạn có thể học tập từ những người thầy, là người giảng dạy trực tiếp chúng ta. Hoặc có thể từ người bạn hay từ những cuốn sách. Học tập còn thông qua việc quan sát và rút kinh nghiệm từ những bài học thực tiễn. 

Tuy nhiên, bạn nên học tập đúng cách và phải thực hiện liên tục, áp dụng thực tiễn.

3.1.2. Kỹ năng

Kỹ năng chính là công cụ để thể hiện kiến thức của bạn. Việc phát triển kỹ năng giúp bạn có thể ứng dụng tốt được kiến thức của mình vào việc giải quyết vấn đề. Có rất nhiều kỹ năng cần phải học tập: kỹ năng giao tiếp, quản lý thời gian, viết lách, vi tính…. 

Để có thể phát triển kỹ năng bạn phải thực hành và vận dụng nhiều. 

3.1.3. Thái độ 

Thái độ chính là nhận thức của bạn. Nhận thức được bản thân cần phải thay đổi. Nhận thức bao gồm có việc duy trì tư duy tích cực, kiếm chế bản thân, ảnh hưởng tới người khác và sáng tạo.

Để có thể thích ứng được với mọi môi trường, thì thái độ đóng vai trò rất quan trọng. Thái độ giúp bạn có cái nhìn tích cực vào những vấn đề, giữ bạn bình tĩnh khi gặp những điều tiêu cực và hành động đúng. Trong cấp độ 4 là sáng tạo chính là khả năng ứng biến. Khi bạn phát triển thái độ của mình đến tầng này, chính là bạn đã có thể thực hiện được một phần của việc thích ứng. 

Vậy để thay đổi và phát triển nhận thức bạn cần phải thay đổi hệ tư tưởng và tư duy của mình theo hướng tích cực.  

3.2.  Thay đổi từ tâm hồn

Thích ứng là do sức ép của cuộc sống buộc chúng ta phải thay đổi để phù hợp với mọi hoàn cảnh. Tuy nhiên, chúng ta có thể rèn luyện khả năng thích ứng từ sớm để chuẩn bị cho những vấn đề đang và sắp xảy ra. 

Và để có thể thích ứng chúng ta phải thay đổi rất nhiều thứ, nhưng hệ tư tưởng và tư duy là những điều khó nhất mà chúng ta phải làm. 

3.2.1. Thay đổi hệ tư duy

Hệ tư duy được hình thành từ: kiến thức, thái độ và kỹ năng; 3 điều này được tác động mạnh mẽ bởi hệ tư tưởng. 

Cùng với hệ tư tưởng, hệ tư duy cũng chính là một quy trình chúng ta sử dụng để giải quyết vấn đề.

Và nó liên quan đến quy trình cải tiến liên tục PDCA, hệ tư duy được vận dụng trong bước Do và ở bước Action chúng ta thực hiện các cải tiến để có thể phát triển hệ tư duy. 

Nói như thế chính là khi muốn thay đổi hệ tư duy, hãy vận dụng nó vào việc giải quyết vấn đề, thực hiện theo quy trình cải tiến để tìm ra được những cái sai và khuyết điểm trong tư duy. Từ đó có những thay đổi và cải tiến để phát triển tốt hơn.  

3.2.2. Thay đổi hệ tư tưởng

Để có thể thích ứng được với mọi hoàn cảnh và sự việc. Chúng ta cần phải kiểm soát được chúng, hay chính là kiểm soát được bản thân khi đối mặt với những sự đột biến. 

Tức là chúng ta phải mở rộng được ngũ căn trong người chúng ta, để mở rộng khả năng mà chúng ta có thể thích ứng được với những vấn đề xảy ra.  Nói một cách dễ hiểu chính là để thích ứng được bằng những hành động,  biểu hiện có thể thấy được. Thì chúng ta phải thích ứng từ trong suy nghĩ và con người chúng ta trước. Tức là chúng ta phải thay đổi được lục căn của chúng ta. 

Vậy lục căn là gì? Cần phải làm gì để nới rộng được lục căn? 

3.2.3. Lục căn 

Căn chính là biên độ giới hạn của mỗi người. Tức là đứng trước mọi sự việc, mỗi người đều có một sức chịu đựng riêng. Khi vấn đề xảy ra nằm trong căn của bạn thì bạn vẫn đủ bình tĩnh để đối mặt và giải quyết. Tuy nhiên, đó là một điều quá sức chịu đựng thì bị nhẹ sẽ bị sốc và nặng hơn sẽ bị ảnh hưởng dẫn đến tụt dốc về tinh thần lẫn sức khỏe. 

Vậy nên luyện căn chính là để khi đối diện với mọi điều vô thường trên thế giới này chúng ta đều có thể đối mặt. Nó cũng giúp cho bạn dễ dàng thích ứng với những thay đổi quá khắc nghiệt. Và căn cũng chính là mấu chốt cho tính thích ứng của mỗi người. 

Lục căn chính là 6 căn của mỗi người: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý căn. Tương ứng với 6 trần: sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần. Để có thể mở rộng giới hạn của mình, mỗi người cần làm phải nới từng căn.

Tuy nhiên, trong lục căn thì ý căn là quan trọng nhất. Thật ra, khi mắt thấy sắc nhưng tâm không động, tai nghe lời ngon ngọt nhưng ý không hợp tác, vậy thì chẳng có gì xảy ra. Khi bạn làm chủ được “ý” chính là làm chủ được tâm của chính mình. Đến lúc đó, tự dưng việc nới rộng ngũ căn còn lại sẽ chẳng mấy khó khăn. 

Lương thiện vốn dĩ là sự lựa chọn, cũng giống như việc mỗi người lựa chọn đi con đường chánh hay tà. Vì vậy để thay đổi được, bạn cần giữ ý căn của mình không để nó chạy theo những pháp trần. Pháp trần chính là những sự kiện, hình bóng trong quá khứ. Mà mỗi khi không có gì để suy nghĩ, nó lại hiện lên khiến bạn bị chìm đắm và rong đuổi theo nó. Để giữ được ý, bạn phải khiến cho tâm mình thôi chạy loạn. Sắp xếp và dẫn dắt ý căn hướng về những điều tốt trong cuộc sống. 

Nói đơn giản, chính là khi bạn thất nghiệp, bạn tìm một công việc mới nhưng nó không mang lại thu nhập như ý muốn. Bạn nghĩ đến ngày mà mình còn làm nhân viên ở công ty cũ, có lương cao để tiêu xài, nhớ đến bản thân thoải mái ở chỗ cũ. Lúc đó tâm bạn đang loạn lên, bạn nhìn thấy một nhân viên mặc áo sơ mi, bạn phàn nàn công ty quá nghiêm khắc. Khi bạn thấy công việc mới quá nhiều quy trình, bạn chê bai sự làm việc quá rườm rà không ý nghĩa. Tâm của bạn lúc đó đang phản kháng với môi trường mà bạn đang công tác. Điều đó khiến bạn không thể nào thích ứng được. Tuy nhiên, bạn thử nghĩ đến chưa, trang phục thể hiện cho văn hóa của công ty, quy trình lại là công cụ của sự chuyên nghiệp. Và bạn là người tham gia vào một tổ chức có văn hóa và tác phong làm việc mới, bạn là người cần phải hòa nhập và cùng với doanh nghiệp tạo ra sản phẩm, dịch vụ tốt nhất để cung cấp cho khách hàng. Tâm của bạn chỉ vốn dĩ nằm ở mức lương và sự ích kỷ, khi bạn hướng tâm mình đến những điều tốt đẹp bạn mới nhận ra được những mặt tốt của sự việc đang diễn ra. Và điều tốt thì luôn dễ dàng để tiếp thu và áp dụng. Bạn sẽ dễ dàng thích ứng với mọi thứ hơn hết. 

Thích ứng quan trọng, nhưng tâm của bạn luôn thiện mới là điều quan trọng nhất. Không phải môi trường nào cũng tốt và cần bạn thích ứng. Bạn có thể thay đổi hành động, suy nghĩ để thích ứng. Nhưng tâm hướng thiện của bạn phải luôn vững, điều đó không chỉ tác động lên chính bạn mà còn ảnh hưởng tích cực đến những người xung quanh. 

4. Kế 25 – Kế Ứng Biến

Làm thế nào thích ứng khi quan hệ đột biến?

Trong cuốn Hạc lâm ngọc lộ, Lâm Sự chi trí của La Đại Kinh thời Tống có viết: “Đại phàm khi làm việc lớn hay nhỏ đều phải có trí. Trí là gì? Tùy cơ ứng biến dùng để giải quyết sự kiện”. Về ý nghĩa nhất định nào đó, người có trí là người có thể tùy cơ ứng biến theo gió bẻ.

Mục đích cuối cùng của ứng biến là khiến cho ta luôn luôn ở vị trí chủ động nắm được động thái phát triển của sự việc để thực hiện được mục tiêu đã định. Cụ thể, ứng biến có hai công dụng: một là giữ được chủ động, hai là biến bị động thành chủ động.

Trong cuộc sống có thể chia thành 4 tình huống ứng biến:

1 Nghĩ xa. Người không nghĩ xa tất có họa gần. Nghĩ xa là một loại ứng biến có ý nghĩa chiến lược nhất. Một con người nhìn xa thấy rộng lấy được, bỏ được, co được, duỗi được mới tranh thủ chủ động được.

2. Lo gần. Nghĩ không được xa tất sinh lo gần. Thậm chí có khi nghĩ xa mưu sâu nhưng do hoàn cảnh khách quan thay đổi bất trắc thì cũng khó tránh khỏi lo gần. Ví dụ do thiên chuyển công tác mà hoàn cảnh trở thành xa lạ.

3. Giải nguy. Không giải quyết được lo gần tất thành họa gấp, cho nên giải nguy là một loại ứng biến trong một cảnh ngộ nhất định. Ứng biến giải nguy bằng trương thanh thế, hoặc lấy công làm thủ, pháp cụ thể. Nói chung, ứng biến giải nguy phản ảnh rõ mưu trí và khả năng ứng biến của một con người

4.Tùy cơ. Đây là trong một tình cảnh ôn hòa mà. tùy cơ hành sự, xử thế thông suốt biến hóa. Đó là biểu hiện chủ yếu của trình độ thao túng lòng người trong giao tế của một con người. Bởi vậy loại ứng biến này sẽ là trọng điểm giới thiệu sau đây.

1. Khéo nói sửa sai

Đại thái giám Lý Liên Anh là người cơ trí khéo nói, giỏi làm đẹp lòng Từ Hi Thái hậu. Tài cơ trí của ông đã nhiều lần giải vây cho Từ Hi Thái hậu và thuộc hạ. Từ Hi thích xem Kinh kịch thường ban thưởng những ân huệ nho nhỏ cho kép hát. Một hôm sau khi xem kép hát nổi tiếng là Dương Tiểu Lâu biểu diễn, bà gọi kép hát này đến trước mặt chỉ mâm bánh sữa trên bàn bảo rằng: “Ta ban cho ngươi tất cả mang đi!”

Dương Tiểu Lâu khấu đầu tạ ơn nhưng không muốn bánh sữa bèn cả gan tâu rằng: “Khấu đầu tạ ơn thái hậu, nhưng những vật quí giá này nô tài không dám nhận, xin thái hậu rộng lòng ban cho một chữ. “

Từ Hi đang vui nên không giận, nói rằng: “Người muốn cái gì?”

Dương Tiểu tâu khấu đầu tâu rằng: “Lão Phật gia phúc lớn bằng trời, phải chăng có thể cho nô tài một chữ?”

Từ Hi cao hứng sai thái giám mang bút mực đến vẫy tay viết một chữ Phúc.

Tiểu Vương gia đứng bên cạnh thấy chữ của Từ Hi viết bèn nói nho nhỏ rằng: “Chữ Phúc bộ Thị chữ không phải bộ Y cơ.”

Dương Tiểu Lâu thấy Từ Hi viết sai, nếu nhận mang về e người khác đàm tiếu, há không phải mắc tội khi quân hay sao. Nếu không nhận lấy cũng không được vì Từ Hy sẽ nổi giận chém đầu ngay. Lấy cũng không được, không lấy cũng không được. Dương Tiểu Lâu tháo mồ hôi hột.

Không khí trở nên căng thẳng. Từ Hi cũng cảm thấy thẹn, vừa không muốn Dương Tiểu Lâu nhận lấy vừa không tiện giữ lại.

Lý Liên Anh đứng bên cạnh nhanh trí cười ha ha nói: “Phúc của Lão Phật gia đều hơn mọi người trên đời một “điểm”” (Chữ Phúc của Từ Hi viết bộ Y là so với bộ Thị thêm một chấm tức một điểm). Dương Tiểu Lâu vừa nghe nói thế thoắt nghĩ ra bèn vội vàng khấu đầu tâu rằng: ” Lão Phật gia phúc nhiều đây là phúc hơn người nô tài làm sao dám lĩnh”. Từ Hi đang sắp nổi giận, nghe nói thế bèn thuận gió bẻ lái cười nói rằng: “Được rồi, hôm sau sẽ ban cho ngươi”. Như vậy lời nói khảo của Lý Liên Anh đã giải vây cho hai người.

Lý Liên Anh ứng biến khéo ở chỗ: sửa sai thành không sai khiến cho chữ Phúc viết sai thành Từ Hi cố ý viết khác chứ không phải viết sai vì sơ suất, vừa gỡ thể diện vừa ninh Từ Hi mà lại vừa giúp Dương Tiểu Lâu thoát nạn. Lý Liên Anh ứng biến vừa nhanh vừa khéo. Dưới đây là một ví dụ khác.

1. Sửa sai bằng phát huy cái sai.

Trong khi diễn thuyết tất phải đạt được hiệu quả tại chỗ. Nhưng nếu đột nhiên xảy ra nhiễu loạn nào đó thì có thể khiến cho diễn giả nhất thời không khống chế được ngôn ngữ nói sai khiến cho lâm vào cảnh quẫn bách. Trong tình huống đó, diễn giả phải sử dụng phương pháp sửa sai bằng cách phát huy cái sai ra ý mới giải thoát khỏi bế tắc và đạt được hiệu quả tức thời tại chỗ. Ví dụ có một người dẫn chương trình tham gia lễ ra mắt của đoàn Kinh kịch Sư Tử Lâu đảo Hải Nam do sơ suất đã giới thiệu ông Nam Tân Yến, bí thư đảng ủy Hải Nam Sư phạm học viện thành “tiểu thư” làm cho cả hội trường náo loạn lên. Cô dẫn chương trình bèn chân thành xin lỗi Nam Tân Yến và nói rằng: “Tên của Thủ trưởng thật là đầy ý thơ làm tôi nhớ đến hai câu thơ: “Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến, phi nhập tầm thường bách tính gia”. (Chim yến ngày xưa trong dinh Vương Tạ nay bay vào nhà bá lính). Thật là một bức tranh tuyệt mỹ giống như quang cảnh hôm nay. Kinh kịch xưa nay vốn lưu hành ở phương bấc mà bây giờ Kinh kịch từ phương bắc xuống phương nam, vượt qua eo biển Quỳnh Châu bay đến Hải Nam và làm tổ ở đây. Há chẳng phải là một bức tranh tuyệt mỹ hay sao?”

Khả năng ứng biến của cô dẫn chương trình này quả khiến cho mọi người thán phục. Sau khi cô tỏ lời xin lỗi do thấy chữ Yến trong tên của thủ trưởng mà sinh ra y thơ đẹp rồi dẫn ra câu chuyện sinh động bắt nuồn từ sai sót của mình diễn đạt một cách đầy chất thơ. Phương thức sửa sai bằng phấp thay cái sai này được toàn bộ quan chúng vỗ tay rào rào, nhiệt tình tán thưởng là điều tất nhiên.

2. Lấy đúng sủa sai.

Trong khi diễn thuyết, diễn giả do quá căng thẳng hay kích động mà lỡ lời. Trong tình huống này, diễn giả chớ vì thể diện mà làm người ai cũng không tránh được sai sót. Tất nhiên là nói lại một lần bằng ngôn từ chính xác để cải chính chỗ lỡ lời nói sai. Nếu như trong tình hình cho phép mà biện luận sự khác biệt của lời nói sai với lời nói đúng thì có thể gây ấn tượng sâu sắc hơn nữa đối với thính giả. Ví dụ, một vị chủ nhiệm khoa của trường sư phạm nọ nới chuyện với học sinh mới vào khoa đã nói ràng: “Các bạn học sinh, chúc mọi người mọi sự tốt lành. Các bạn từ bốn phương về trường sư phạm bắt đầu cuộc sống học tập mới, nhất định sẽ chuyên cần học tập tiến bộ không ngừng. Tương lai hy vọng mỗi bạn sẽ trở thành giáo viên tiểu học mẫu mực. Không, phải nói hy vọng tương lai mỗi bạn đều thành giáo viên tiểu học mẫu mực bởi vì hy vọng đó là hiện thực. Điều tôi muốn diễn đạt là tấm chân tình của tôi lúc này đối với các bạn, chúc các bạn sau này sẽ bước lên bục giảng hoàn thành chức trách vinh quang nhất”.

Vị chủ nhiệm khoa này nhanh chóng nhận thấy đã nói nhầm “hy vọng tương lai” thành “tương lai hy vọng” nên kịp thời sửa đổi lại một cách khéo léo. Như vậy vừa thừa nhận lỡ lời nói sai, vừa giải thích lý do nhưng không những không gây ra khó chịu mà lại có tác dụng tốt. Thật là một phương pháp bổ cứu sáng suốt.

3. Biến sai thành đúng.

Khi tức thời phát biểu ý kiến thì một khi diễn giả phát hiện nói sai thường có tâm lý căng thẳng, cản trở dòng tư duy, thậm chí không thể tiếp tục nói nữa. Nếu rủi ro xảy ra tình huống này, diễn giả nên lập tức biện minh, khéo léo chữa sai thành đúng. Ví du trong một cuộc hôn lễ, người chủ trì nhiệt tình mời phát biểu ý kiến, một vị giáo viên trung học dạy nghề lập tức đứng lên phát biểu. Ông nói chiều nay là ngày tác thành tình duyên của thầy Hạ Minh trường trung học dạy nghề và tiểu thư Diệp Hồng công ty thương mại… Có lẽ có người cho tôi nói sai há không phải Hạ Minh và Diệp Hồng cùng công tác trong một công ty hay sao? Đúng vậy Hạ Minh đã theo thương nghiệp nhưng một tháng trước còn la một thầy giáo trẻ tuổi ưu tú trong nghề. Bây giờ trong mắt chúng tôi, anh vẫn luôn luôn là bạn đồng nghiệp tốt. Tôi xin nhân cơ hội này thay mặt toàn thể những người trong nghề thành tâm chúc đôi bạn đẹp duyên lành.

Rõ ràng ông này đã nhầm lẫn khi giới thiệu tân lang. Chữa trường dạy nghề chức nghiệp trung học thành thầy giáo trong nghề chức trung giáo sư. Vẫn giữ hai chữ “chức” và “trung” song ý nghĩa đã dược đính chính. Sau khi thấy mình nói sai đã khéo léo chữa “thầy giáo trung học dạy nghề” thành thầy giáo trong nghề (tức người giỏi trong nghề ở đây là nghề buôn bán). Không những đã đính chính sai lầm mà còn đề cao tân lang là bậc thầy trong nghề buôn bán, tất nhiên mọi người đều thán phục vui vẻ hưởng ứng, hôn lễ càng náo nhiệt.

2. Xem gió bẻ lái tùy cơ ứng biến

Năm 1966, Lâm Ngữ Đường nhà văn học hiện đại nổi tiếng từ Mỹ về Đài Loan định cư. Tháng 6 năm đó, một học viện ở Đai Bắc cử hành lễ tốt nghiệp trân trọng mời tâm Ngữ Đường tham gia và xin ông phát biểu ý kiến. Mấy vị tai to mặt lớn phát biểu trước Lâm Ngữ Đường. Họ nói dài dòng lê thê khiến cho thính giả đều ngủ gật. Đến khi tâm Ngữ Đường đăng đàn phát biểu, ông bèn giơ tay nhìn đồng hồ đã 11 giờ rưỡi rồi nên thay đổi cách nói, chỉ nói một câu: “Lời phát biểu của bậc thân sĩ nên giống như mini jup của phụ nữ, càng ngắn càng tốt” Thế thôi, không nói nữa. Ông vừa nói xong mọi người lặng ngắt, mấy giây sau cả hội trường òa cười và những tràng vỗ tay dài biểu lộ ủng hộ diễn giả ưu tú này. Hôm sau các báo lớn ở Đài Bắc đưa tin “Đại danh sư hài hước danh bất hư truyền”. Xem ra ngẫu hứng phát biểu phải có tài ăn nói và cơ trí thuận gió buông chèo! Không khí buổi diễn thuyết thường kích động diễn giả nhưng có nhiều vị không hiểu hoàn cảnh cụ thể đã thao thao bất tuyệt như sông Hoàng Hà vỡ đê không thể nào ngừng được. Tục ngữ đã dạy người thức thời là kẻ tuấn kiệt. Nếu diễn giả không biết theo gió buông chèo, tùy cơ ứng biến thì dù có tài ăn nói cũng vẫn làm người ta chán, khiến cho thính giả “buồn nôn”. Trong giao tế đối mặt với sự đố ky, công kích, vu cáo thì phải tùy cơ ứng biến. Đầu tiên gặp việc chớ hoảng phải giữ đẩu óc bình tĩnh mới có thể cùng tắc biến biến tắc thông đổi nguỵ thành yên. Thứ đến phải có lòng đại lượng khoan dung, trong lúc loạn không quên đại cục mở đường cho đối phương hạ đài.

Dưới đây giới thiệu mấy phương pháp tùy cơ ứng biến:

1. Lấy đúc trả oán chiếm được nhân tâm.

Có một đại gia đình người dâu út linh lợi khéo tay, tài trí hơn người, hiền thục đoan trang nên được mẹ chồng sủng ái. Vì vậy dâu cả, dâu thứ sinh lòng đố kỵ. Một hôm đến nàng dâu út làm cơm. Sau khi nấu nướng xong, nàng ra bờ ao giặt quần áo. Bấy giờ cô dâu cả và cô dâu thứ sinh ra một kế ác: cho thêm củi vào bếp lò để cho cơm khê cháy để làm mất thể diện cô dâu út khéo tay. Một chốc, nàng dâu út giặt xong quần áo trở về thấy củi còn đang cháy. Vốn thông minh cô hiểu ngay việc gì đã xảy ra, bèn nhanh trí biến cơm vừa sém thành cháo rồi làm thêm một ít bánh. Đợi khi mọi ngươi đều đã ngồi vào bàn ăn, cô bèn nói: “Mấy ngày nay trời nóng, mọi người ăn cơm chắc không ngon miệng, tôi nấu một ít cháo, làm một ít bánh để cả nhà thay khẩu vị cả nhà đều khen.

Hành động này của cô dâu út vừa làm vui lòng mọi người, vừa để cho hai chị dâu có đường hạ đài. Rõ ràng là một công đôi việc vừa được lòng cả nhà vừa khiến cho hai chị dâu vốn đố ky đa chuyển sang bái phục. Về sau, cô dâu út không hề chấp nhặt việc đó khiến cho hai chị dâu lại càng kính trọng. Cuộc sống gia đình vì vậy yên ấm vô cùng.

2. Khéo so sánh.

Năm 1991, Lý Tuyết Kiện vai chính phim Tiêu Dụ Lục đoạt được cả hai giải Con Gà Vàng và Cành cọ vàng. Khi đáp từ, ông đã không dùng những sáo ngữ vô vị thường dùng. Ông chỉ nói một cánh thành thực: “Khổ và mệt thì nhiều người xem Tiêu Dụ Lục phải chịu, danh và lợi lại một mình chàng ngốc Lý Tuyết Kiện được.” Anh vừa dứt lời toàn hội trường vỗ tay như sấm dậy. Bài phát biểu của anh không những khiến cho mọi người thích thú mà còn kính phục nhân cách của anh. Lời phát biếu và hình tượng của anh để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người.

Người được khen thưởng rất khó phát biểu sao cho tốt bởi vì lòng cảm tạ thường khó diễn đạt. Muốn phát biểu thành công thì vừa phải ngắn gọn súc tích, thành khẩn hài hước vừa phải đưa ra so sánh tỉ dụ, sinh động lý thú.

3.Mượn việc phát huy điểm thạch thành kim.

Có một thầy giáo trong khi giảng bài văn học bỗng một con chim sẻ bay vào lớp kinh hãi vừa kêu vừa bay loạn xạ trong phòng học, học tro đều chú ý cả vào con chim nhỏ. Cửa sổ có lưới sắt, chú chim không bay ra được Thầy giáo thấy thế bỗng nảy sinh ý hay bèn nói rằng: “Ái dà, con chim này đẹp xiết bao. Các em hãy nhìn kỹ đi, tiết thứ hai các em làm một bài văn về nó nhé như vậy là diễn ra một bài học quan sát. Học sinh vừa quan sát vừa bàn bạc, thầy giáo thỉnh thoảng lại gợi ý. Gặp pahỉ quyấy nhiễu, thầy giáo vẫn bình tĩnh tuỳ cơ ứng biến, mượn việc phát huy từ con chim nhỏ mà chỉ dùng một câu nói dẫn dắt được học sinh quan sát học tập truy cầu tri thức. Con chim nhỏ chỉ như hòn đá mà thầy giáo đã điềm hóa thành vàng ròng.

4. Thừa thế dấn lên, biên quẫn bách thành thần kỳ.

Trong một buổi lên lớp chung, trước khi làm thí nghiệm thầy giáo hóa học nói: “Khi ta đưa thanh kim loại Natri đốt nóng này vào bình chứa khí Clo thì nó sẽ cháy bùng lên và có khói trắng”. Nhưng khi thực hiện thí nghiệm thì không phải là khói trắng mà là khói đen.

Cả lớp kinh hãi. Thầy giáo nhanh trí nghĩ ra ngay do chưa tẩy sạch tạp chất trên thanh Natri nên có kết quả như thế. Thầy giáo bèn tương kế tựu kế tiếp tục làm thí nghiệm. Thầy hỏi trò A: “xem thấy gì?” Trò A không nói, 11′ thầy giáo khuyến khích rằng: “Thực sự cầu thị, thấy gì nói nấy. Đó mới là thái độ khoa học”. Trò A bèn nói: “Thưa thầy em không thấy khói trắng mà thấy khói đen”. Thầy giáo bảo rằng em quan sát rất chính xác, như vậy vừa rồi không phải là kim loại Natri chăng? Nhưng đây thực là một thanh kim loại Natri mà. Thế tại sao vừa rồi lại bốc khói đen? Các em hãy nhớ lại tính chất vật lý và cách bảo quản kim loại Natri”. Lớp học bèn nhốn nháo lên, trò C bèn nói rằng: “Kim loại Natri không thể để ngoài không khí, phải ngâm trong dầu mỏ”. Thầy giáo đáp lại rằng: “Em nói đúng. Vừa rồi thầy sơ suất trước khi thí nghiệm chưa lau sạch dầu khí trên thanh Natri cho nên mới có sự cố thí nghiệm vừa rồi. Nếu thầy tiếp tục đốt thanh Natri thì việc gì sẽ xảy ra?” Học trò bèn trả lời: “Sau khói đen sẽ là khói trắng”. Thầy giáo tiếp tục đốt thanh Natri, trong bình chứa khí có tiếng nổ lép bép và bốc khói trắng. Thầy bảo học trò rằng: “Dự đoán của các em đã thực hiện”. Học trò vỗ tay hoan hô.

Trong trường hợp này, thầy giáo đã sai sót mà nhân thể dẫn lên đạt được kết quả thần kỳ, thoát ra khỏi tình thế quẫn bách. Việc này chứng tỏ sức mạnh của thuật tương kế tựu kế diệu kỳ xiết bao.

5. Thuận tay dắt dê về chuồng.

Trong khi phát biểu ý kiến có thể dùng ngay ý kiến người phát biểu trước vào lời phát biểu của anh, múc nước trong ao người khác làm nên sóng trong hồ của anh vừa tiện lợi vừa thích thú. Chỉ cần sử dụng một cách tụ nhiên khéo léo thì có thể làm cho lời phát biểu của anh chói lọi hơn.

Năm 1948, Quách Mạt Nhược đã sử dụng chiêu này trong lần phát biểu ở trước mộ Tiêu Hồng. Sau năm phút phát biểu gian nan bèn chộp lấy lời của một vị phát biểu trước mà nói rằng: “Tôi vừa nghe lời phát biểu dài hai phút của Ngài thị trưởng, nói rất hay! ông nói: nữ sĩ Tiêu Hồng, nhà văn nhân dân suốt đời bôn ba vì sự nghiệp giải phóng nhân dân cuối cùng qua đời bên bờ biên phương Nam này, bạn bè chôn cất nữ sĩ bên vịnh nước nông này. Hôm nay vây quanh nữ sĩ đều là những người tuổi trẻ, chúng ta không bi thương, chúng ta không cảm khái, xin mọi người hãy vỗ tay chào nữ sĩ. Rất hay, năm phút phát biểu của tôi đành phải thay đổi kế hoạch, bây giờ tôi xin nói về tuổi trẻ của nữ sĩ vậy…”. Lời phát biểu của Quách Mạt Nhược đã làm cho không khí thoải mái náo nhiệt hẳn lên. Vốn ông lặp lại lời nói của người khác mà lại nói lên ý của mình. Vốn là đầu cơ người khác mà lại rất có trí tuệ phong độ. Vừa tán dương người khác, vừa mượn lời nhời khác làm phong phú lời của ông. Đó chính là thuật thuận tay dắt dê về dùng.

3. Trong ứng biến đứng đầu là sự hóm hỉnh hài hước

Lời nói và hành vi hóm hỉnh là biểu hiện của trí tuệ, trình độ ứng biến nhanh trí thể hiện rõ ràng nhất trong sự hài hước hóm hỉnh. Xin kể vài ví dụ ứng biến hóm hỉnh.

1. Trả lời khéo léo những câu hỏi hóc búa.

Một lần Càn Long đột nhiên hỏi Lưu Dung một câu hỏi hóc búa: “Kinh thành có bao nhiêu người?” Tuy bất ngờ song Lưu Dung rất bình tĩnh, lập tức tâu rằng: “Chỉ có hai người”. Càn Long nói: “ông nói cái gì đấy? Lưu Dung tâu lại rằng: “Có bao nhiêu người cũng chỉ có hai loại nam và nữ, há chẳng phải chỉ có hai người sao”.

Càn Long lại hỏi năm nay trong kinh thành có bao nhiêu người sinh ra, có bao nhiêu người chết đi?” Lưu Dung tâu rằng: “Chỉ có một người sinh ra, 12 người chết đi,, Càn Long hỏi: “Nói như vậy là nghĩa lý gì?” Lưu Dung tâu lại rằng: “Năm nay có sinh bao nhiêu người cũng đều thuộc một con giáp, thế chẳng phải chỉ là chỉ sinh có một người hay sao? Năm nay chết bao nhiêu người thì 12 con giáp đều có người chết, há chẳng phải chết 12 người hay sao?”

Càn Long nghe xong cả cười cho quả là như thế. Quả thật lưu Dung trả lời rất khéo. Vua hỏi không thể không trả lời, trong lòng không có con số chính xác mà lại không dám nói bừa cho nên nhanh trí trong nháy mày đã tìm ra câu trả lời xảo diệu làm cho vua thích thú.

Loại ví dụ như thế thường gặp trong hoạt động ngoại giao. Đầu thập kỷ 60, chúng ta đã bắn rơi một chiếc máy bay do thám U – 2. Trong một buổi họp báo có một ký giả hỏi bộ trưởng Trần Nghị rằng: “Thưa bộ trưởng, các ngài dã dùng loại vũ khí gì bắn rơi loại máy bay trinh sát tầm cao như thế? Rõ ràng đây là một bí mật quân sự không thể trả lời công khai nhưng nếu không trả lời thì người hỏi kho chịu. Trần Nghị bèn giơ cây gậy trong tay lên nói rằng: “Dùng vũ khí này móc nó xuống”. Tất nhiên được một tràng vỗ tay hoan hỉ.

Quả thực trong đời sống thiên biến vạn hóa có nhiều câu hỏi hóc búa. Đối phó với những câu hỏi hóc búa thì phương án tốt nhất là dùng ngôn ngữ đa nghĩa mà ứng phó, không được sa vào câu hỏi đích thực khiến cho bị động. Như thế sẽ giải tỏa khốn quẫn cho anh.

2. Làm cho người ta cao hứng.

Trong lễ mừng thọ 80 tuổi của nữ ký giả Mỹ Anna Luistrong người bạn cũ của nhân dân Trung Quốc, thủ tướng Chu ân Lai nắm vững đặc điểm phụ nữ phương Tây, thích người ta nói tuổi mình trẻ hơn, bèn liên hệ với hệ thống đo lường Trung Quốc một cân bằng nửa công cân (kilôgam) một lý bằng nửa công lý (kilômét) tươi cười yêu cầu mọi người nâng cốc chúc bà Strong 40 “công tuế”. Mọi người ôm bụng cười. Bà Strong cười chảy nước mắt. Thủ tướng Chu ân Lai khi bắt đầu diễn th uyết đều khiến cho người ta hưng phấn, vui vẻ cho nên rất thành công.

3. Dĩ hư đối thực.

Hài hước bao giờ cũng cơ trí nhẹ nhàng, có khi giả ngu giả dại không trực tiếp tổn thương đối phương. Thời Tống, Lã Mông Chính đã ba lần làm thừa tướng. Có người biếu ông chiếc gương cổ có thể soi 2000 lý. Lã Mông Chính nói một cách hóm hỉnh rằng: “Mật người chỉ lớn như cái đĩa, cần gì phải dùng chiếc gương soi 2000 lý”. Lại có người biếu ông một chiếc nghiên mực cổ giới thiệu rằng không cần dùng nước mà chỉ hà hơi là nghiên mực ướt có thể mài mực. Lã Mông Chính nửa đùa nửa thật nói rằng: “Nếu một ngày hà ra 10 gánh nước thì cũng chỉ đáng giá 10 đồng tiền mà thôi”.

Người ta biếu đồ cổ, Lã Mông Chính cố nhiên hiểu nhưng ông ta đã cố ý dùng lý lẽ không hiện thực, không quan hệ gì để đánh giá lễ vật. Người dâng lễ vật giới thiệu lễ vật có tính năng tốt, ông lại nói thành không tốt, không cần nhưng lại dùng ngôn ngữ hài hước nên hiệu quả rất lớn, tỏ ý ông không muốn nhận lễ vật khiến cho người dâng lễ vật biết dâng lễ vật không thỏa đáng, dở khóc dở cười, không dám dâng lễ vật nữa. Hài hước càng giỏi thì càng giống như ngu.

4. Thuận dòng buông chèo.

Chuyện Lưu Bang thời Tây Hán thuận dòng buông chèo phong Hàn Tín làm Tề vương là một ví dụ tuyệt diệu về chiêu này. Sau khi Hàn Tín đánh chiếm được đất Tề muốn tự phong Giả Tề Vương bèn sái sứ giả về tâu với lưu Bang. Lưu Bang nổi giận đùng đùng, sứ giả tái mặt. Các mưu sĩ cạnh lưu Bang khuyên Lưu Bang nên lợi dụng Hàn Tín. Lưu Bang tỉnh táo lại nhưng vẫn tiếp tục giả vờ nổi giận nói rằng: “Đại trượng phu đánh thành chiếm đất phải xưng vương sao lại xưng giả vương? Lập tức phong Hàn Tín làm Tề vương”. Lời nói chuyển hướng thành thuận dòng buông chèo, tình hình bèn khác hẳn.

4. Hư mà làm ra vẻ thực, nhược mà làm ra vẻ cường

Hư trương thanh thế là cố ý làm ra vẻ thanh thế hùng cường để dọa đối phương. Bách chiến kỳ pháp, Hư chiến viết: “Phàm đánh nhau mà thế lực của ta hư (kém, yếu) thì ngụy trang thành ra vẻ thực (mạnh, sung túc) khiến kẻ định không đánh giá được hư thực, không dám khinh suất tấn công ta, như vậy ta có thể bảo toàn quân được”. Cho nên sách lược hư trương thanh thế là thuật ứng biến lâm thời.

Để đánh chiếm Quan Trung, tháng 9 năm 207 Lưu Bang dẫn quân đến Nga Quan (đông nam Lam Dương tỉnh Thiểm Tây Nga Quan là cửa ải quan yếu án ngữ đường giao thông Lam Dương với Quan Trung. Địa thế cửa ải dễ thủ khó công, là cửa ngõ đông nam tiến vào Hàm Dương là đất các nhà cầm quân phải tranh chiếm: Vì vậy, quân trần sai quân binh nhuệ đóng giữ cửa ải này. Đương thời Lưu Bang chi có 2 vạn người, nếu không qua đượcc cửa ải này một cách thuận lợi thì có khả năng Hạng Vũ sẽ chiếm Quan Trung trước. Lưu Bang lòng như lửa đốt muốn tiến công. Sau khi nghiên cứu tình hình Trương Lương nhận thấy quân Tần hùng cường, nếu như manh động thì không những hao binh tổn tướng mà còn kéo dài thời gian vào Quan Trung. Trương Lương bèn đề nghị lưu Bang dùng mưu trí cướp thành. Một mặt hư trương thịnh thế cắm cờ trên khắp những núi non xung quanh Nga Quan để làm cho quân Tần không rõ hư thực lòng quân rối loạn. Một mặt nhằm vào nhược điểm thích cái lợi nhỏ của tướng trấn giữ ải đem vàng bạc đút lót. Quả nhiên, quan trấn thủ Nga Quan thấy thanh thế quân Hán quá lớn, trong lòng hoảng hốt, đồng thời tham vàng bạc bèn phản chiến đầu hàng. Lưu Bang thuận lợi dẫn quân qua cửa ải tiến thẳng vào Hàm Dương.

Một ví dụ khác: khi Đường Thái Tông Lý Thế Dân còn trẻ cũng đã từng dùng kế hư trương thanh thế dọa quân dịch phải bỏ chạy. Bấy giờ vào niên đại Đại Nghiệp, Tuỳ Dạng Đế đánh quân Đột Quyến thua trận bị vây khốn ở ngoài cửa ải Nhạn môn. Dạng Đế sai người buộc chiếu thư vào khúc gỗ thả vào dòng nước sông Phần cho trôi xuống các quận huyện kêu gọi họ đem quân ứng cứu. Bấy giờ chàng trai 16 tuổi Lý Thế Dân làm một chức quan dưới trướng tướng quân Vân Định Hưng. Sau khi tìm hiểu tình hình quân địch bèn nói với Vân Định Hướng rằng: “Quân địch cả gan vây hãm thiên tử là vì chúng đoán rằng quân chủ lực cứu viện không thể đến được kịp thời.

Vì vậy nếu tướng quân phân tán quân đội, kéo dài đội ngũ hành quân thành 10 lý, ban ngày phô trương cờ xí cho chúng thấy, ban đêm đánh trống hò la cho chúng nghe. Quân địch sẽ không biết hư thực nhất định cho rằng đại quân đã đến gần như vậy sẽ rut lui. Ta không đánh mà địch tự rút”. Vân Định Hưng nghe theo lời Lý Thế Dân làm đúng như kế đó: Quân trinh sát Đột Quyết từ xa nhìn thấy đại quân trùng trùng điệp điệp bèn lập tức phi báo vua Đột Quyết. Vua Đột Quyết qủa nhiên trúng kế vội vàng giải vây rút quân.

Lý Thế Dân vừa vào quân ngũ mà đã biết dùng kế hư trương thanh thế không tốn một mũi tên mà quân địch đã rút chạy giải cứu vua Tùy. Vì vậy ông nổi tiếng. Hư trương thanh thế cốt ở Hư mà làm ra vẻ Thực Nhược mà làm ra vẻ Cường. Bách chiến kỳ pháp, Nhược chiến viết: “Phàm đánh nhau nếu địch đông ta ít, địch cường ta thực thì ta phải cắm nhiều cờ xí, tăng số bếp tỏ ra vẻ cường hơn địch, khiến cho địch không biết được nhiều hay ít, cường hay nhược thì địch sẽ không khinh suất đánh ta, ta có thể đánh nhanh chóng toàn quân không bị hại. Kế này dùng vào ứng biến trong thương trường cũng rất công hiệu. Vua giá đậu cả nước Mỹ là Puraxi nghe nói sản xuất thức ăn đậu Trung Quốc rất phát tài. Ông bèn mời mấy cố vấn Nhật Bản bắt đầu sản xuất thực phẩm đậu và mua rất nhiều đậu từ Mexico. Ông lại mời ngươi viết bài đăng tạp chí nói về lịch sử đậu đưa ra thực đơn các giá đậu. Ông rao bán thực phẩm đậu khắp nơi và đại phát tài. Rồi ông nghĩ ra một cách nữa là làm đồ hộp đậu. Ông liên hệ với một xí nghiệp bao bì. Xí nghiệp này đồng ý sản xuất đồ hộp đậu với điều kiện có hộp đựng, lúc bấy giờ có đại chiến thế giới thứ hai, tất cả kim loại đều ưu tiên cho quân đội. Puraxi bèn đến Washington gặp bộ phận sản xuất đồ quân dụng. Ông hư trương thanh thế là thủ công ty “Công đoàn thực phẩm đậu”, ky thực chỉ có ông và một người nữa chứ không có công ty nào cả. Các quan chức quân sự nghe tên công ty tưởng là công ty nông nghiệp nào đó rất lớn bèn cung cấp cho ông mấy trăm vạn vỏ đồ hộp thứ phẩm. Ông bèn mua một xưởng bao bì nhỏ, tự mình sản xuất đồ hộp đậu. Ông phối hợp đậu với các loại rau khác làm thành một món thức ăn mà người Mỹ ưa thích gọi là rau Trung Quốc. Puraxi lại phát huy tài năng hư trương thanh thế của ông dán nhãn đồ hộp hiệu Phù Dung. Có thương hiệu Phương Đông này rồi, Puraxi lại cố ý làm bẹp một phút các hộp đậu để đánh lừa người Mỹ là vận chuyển từ Trung Quốc đến. Như thế hàng bán chạy đến mục cung không kịp cầu.

Về sau Puraxi một mặt mở rộng sản xuất, một mặt đổi tên công ty thành Trùng Khánh và lấy danh nghĩa liên đoàn thực phẩm tổ chức thị trường trong toàn nước Mỹ tiêu thụ đồ hộp Trùng Khánh. Người ta lầm tưởng Trùng Khánh là một công ty lớn tư bản hùng hậu. Như vậy Puraxi nhờ hư trương thanh thế mà dựng nên xí nghiệp, nhanh chóng kiếm được một triệu đô la.

5. Cầm lên được bỏ xuống được

Tục ngữ có câu “Cầm lên được bỏ xuống được” rất có mùi vị biện chứng có nhiều gợi ý cho chúng ta. Cái gọi là, “cầm lên được” là thái độ bất đắc dĩ của người lúc gặp khó khán hay không làm được việc. Mỗi con người sinh ra ở đời đều gặp phải thuận cảnh và nghịch cảnh, những cao ngộ bất ngờ thường đủ các loại biến cố. Gớt nói rất đúng: ” Một con người không thể vĩnh viễn làm người anh hùng hay người chiến thắng, nhưng một con người vĩnh viễn là làm một con người”. Trong câu này “làm người anh hùng hay người chiến thắng” là chỉ trạng thái ” bỏ xuống được”. Nói cho cùng phải ” bỏ xuống được” mới là thước đo chính xác khí phách một con người là người anh hùng, người chiến thắng. Phạm Trọng Yêm nói ” bất dĩ vật hỉ kỷ bi” (không nên mừng vì được, không nên buồn vì ta). Có tâm hồn như thế thì xem nhẹ đại bi đại hỉ, đại danh đại lợi sẽ dễ (lành “bỏ xuống được”. Vương An Thạch có hai câu thơ: Mạc tương hí sự nhiễu chân tình, thả khả tùy duyên đạo ngã doanh” (Chớ đem trò đùa nhiễu loại chân bình, cứ tùy duyên đó là đạo của ta). Vương An Thạch đã phân biệt rất rõ ràng “hí sự” với “chân tình, Theo lý giải của chúng tôi, cái gọi là “hí sự” là chỉ những cái có thể cầm lên được” mà cũng nên “bỏ xuống được” nghĩa là coi mọi việc như trò đùa, như tấn tuồng. Có thể làm được như thế mà tùy duyên đối đãi moi lợi hại đắc thất, họa phúc biến đổi vô cùng trong đời người thì há không phải là đã nói được đạo ly thắng lợi của ta?

Nhìn chung đường đời thường như làn sóng lúc cao lúc thấp cho nên người xưa đã than thở biến cố trong giây lát ai nắm được trăm năm trường thọ”. Nhưng khi một con người đạt đến vinh hoa phú quý, liệu có nghĩ đến lúc cơ hàn, Trường Giang sóng sau đè sóng trước lâm vào cảnh quẫn bách hay không? Tốt nhất trót tham phú quí vinh hoa mà khi đang đạt đến đỉnh cao cực lạc thì nên nhân lúc núi chưa lở, sông chưa tràn hãy thong dong xuống núi. Có một nhà nhu đạo đoạt huy chương vàng Olympic tên là Taydu đã chiến thắng liên tiếp 203 trận đột nhiên tuyên bố rút lui vào lúc 28 tuổi. Nhiều người suy đoán là anh đã gặp vấn đề gì đó. Kỳ thực Taydu sáng suốt biết rằng, đỉnh cao chiến thắng chỉ là một đóa hoa vàng, hôm sau sẽ tàn tạ nên chủ động lui về làm một huấn luyện viên. Nên nói dù rằng chọn lựa của Taydu có chỗ chưa hoàn mỹ, mang ít nhiều bất đắc dĩ đi nữa nhưng về lâu về dài thì là một loại từ quan qui ẩn sống thanh bình và như vậy cũng là một loại anh hùng trong các loại hảo hán. Anh là anh hùng bởi vì anh biến khỏi vầng hào quang sáng chói, để lại trong lòng người đời một nụ cười ấm áp. Người xưa nói: “Tối đại nhất bộ thị tại môn ngoại” (Bước lớn nhất là bước ngoài cửa) cho nên đằng sau sự rút lui này không phải không có ý nghĩa. Vua thể thao Lý Ninh lựa chọn con đường rút lui ra khỏi hoạt động thể thao, lui về theo công đường doanh nghiệp cũng khiến cho mọi người hâm mộ. Giống như một mốt thời trang tất có ngày lỗi thời, mọi đỉnh cao vinh quang rồi cũng có ngày tan biến như mây khói. Cho nên một người sáng suốt thì nên “cầm lên được bỏ xuống được” cho đúng lúc. Như vậy chúng ta làm sao lại phải lưu luyến, hối tiếc gì?

Trên đường đời tất gặp một số tình huống khiến chúng ta không thể không “bỏ xuống”. Ví dụ một con người đến khi lớn tuổi tất bị “tước” khả năng vinh quang. Lúc bấy giờ là lúc thử thách thái độ “cầm”, “bỏ” của họ. Vị tổng thống Mỹ đầu tiên Washington sau khi làm một nhiệm kỳ không ra ứng cử nhiệm kỳ hai. Khi rời ghế tổng thống, ông tổ chức tiệc cáo biệt, thản nhiên nâng cốc chúc phúc mọi người. Hôm sau, ông cũng thản nhiên tham gia lễ nhận chức của tân tổng thống. Rồi ông vẫy mũ chào trở về trang trại quê hương. Giây phút đó đã lưu lại một vầng hào quang vĩnh hằng. Nhà khoa học Anh Hekinri đạt nhiều thành tích danh vọng cực cao. Đến năm 80 tuổi, ông không thể không từ chức giáo sư khoa giải phẫu, chức giám sát bộ ngư nghiệp và cả chức cao quí nhất – Chủ tịch Hội khoa học hoàng gia Anh. Tâm tư của ông nặng nề, mất thăng bằng tâm lý. Thậm chí sau khi ông phát biểu từ chức rồi thì ông đã nói với một người bạn rằng: “Tôi vừa đọc cáo phó của tôi”. Nhưng dù sao ông cũng đã “bỏ xuống” trong hoàn cảnh không ai bắt buộc, ngoài sự bắt buộc của tuổi tác bản thân ông.

Một chức vụ, một danh hiệu đương nhiên mang ý nghĩa thành tựu và địa vị của một con người trong xã hội. Washington và Hekinri đã “cầm” lấy vòng nguyệt quế tối cao của họ nhưng họ đều đã chủ động “bỏ” xuống. Một danh nhân nói: “Cái quan trọng không phải là cái anh có mà là cái anh chịu đựng là cái gì”. Với thái độ thản nhiên và tự kiềm chế “bỏ” chức vụ xuống thì người đó càng thêm quang vinh.

Tục ngữ có câu Thiên hữu bất trắc phong vân (Trời có mây gió bất ngờ) cho nên một con người có thể gặp tình huống sau: Con người chưa đạt đến tột đỉnh công kích hay chức tước, trái lại thường gặp lúc quẫn bách buộc phải “bỏ xuống”. Lúc bấy giờ quan trọng nhất là học được cách “bò dậy”. Tục ngữ có câu “Ngã không đau, bò dậy nghĩ lại mới thấy đau”. Nghĩ lại là cần thiết, nhưng cứ chăm chăm nghĩ lại cái “đau” thì tự trói chân, trói tay.

Thời kỳ chiến tranh nam bắc ở Mỹ, sau khi ký hiệp nghị đầu hàng, chủ tướng Robert có tâm tư rất nặng nề. Ông trở về quê, tránh tất cả các cuộc tập hợp quần chúng và không tiếp ai cả. về sau, ông nhận lời mời của chính phủ ra làm chức viện trưởng Học viện Washington. Ông không đau buồn hối hận lâu dài, mà thầm lặng tham gia cái chiến dịch phục hưng quốc gia. Phải công nhận Robert là ngươi sáng suốt hiểu rằng: sứ mệnh của tướng quân không chỉ là đưa thanh niên ra chiến trường, hy sinh thân mình trong chiến đấu, mà quan trọng hơn nữa là dạy cho họ biết thực hiện giá trị nhân sinh như thế nào. Robert là người biết bỏ xuống mà thực hiện được giá trị bản thân. Sau khi vấp ngã ông biết bò dậy. Robert là người biết “cầm lên”, biết !’bỏ xuống”, biết “bò dậy”, quả là dũng cảm đáng khâm phục.

Còn nhớ năm xảy ra nháy lớn ở Đại Hưng An Lĩnh đã khiến cho bí thư huyện ủy huyện Mạc Hà là Vương Chiêu Anh từ “cầm lên” chuyển sang “bỏ xuống”. Đang làm chức bí thư huyện ủy, bà bị cách chức, điều động đi nơi khác, bãi miễn cả tư cách đại biểu quốc hội khóa 13. Sóng gió cuộc đời đã đưa bà lên nhấn bà xuống, nhưng thái độ của bà thong dong tự tại nên cuối cùng bò dậy lên chức bí thư quận ủy thành phố Gia Cách Đạt Kỳ. Trong sóng gió cuộc đời, ai “cầm được bỏ xuống được” thì sẽ quang vinh.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây