Ronald Reagan

87
Ronald Reagan

Ronald Reagan là một trong những vị tổng thống có xuất thân kỳ lạ nhất nước Mỹ, Ronald Reagan từng là một diễn viên điện ảnh tại Hollywood. Con đường đến với chính trị của ông đến thật tình cờ nhưng có lẽ số phận đã định sẵn những tố chất để ông gánh vác trọng trách này. Trước khi từ giã cõi đời, Ronald Reagan chính là một trong những vị tổng thống sống thọ nhất nước Mỹ và cũng là người duy nhất thoát chết sau khi bị ám sát.

Tố chất lãnh đạo khi còn đi học

Ronald Wilson Reagan sinh ngày 6 tháng 2 năm 1911 trong căn hộ tầng hai của một tòa nhà thương mại ở Tampico, Illinois; ông là con của Jack Reagan và Nellie (Wilson) Reagan.Cha ông làm nghề bán hàng và viết truyện; là hậu duệ của những người nhập cư Công giáo đến từ Tỉnh Tipperary, Ireland còn mẹ ông gốc Scotland và Anh.

Reagan có một người anh tên là Neil (1908–1996), một nhân viên hành chính của một hãng quảng cáo. Khi còn nhỏ, cha Reagan đặt cho ông biệt danh là “Dutch” (người Hà Lan) vì vẻ ngoài của ông giống như “một thằng nhỏ mập Hà Lan” và kiểu tóc cắt “cậu bé Hà Lan” của ông. Cái biệt danh này bám theo Ronald trong suốt quãng đời trẻ.

Gia đình Reagan sống một thời gian ngắn tại vài thành phố của tiểu bang Illinois, trong đó có Monmouth, Galesburg và Chicago. Năm 1919, họ quay trở lại Tampico và sống bên trên cửa hàng H. C. Pitney Variety. Sau khi trở thành tổng thống, nghỉ ngơi tại tầng trên của khu cá nhân trong Tòa Bạch Ốc, Reagan đùa rằng ông đang “sống phía trên cửa hàng lần nữa”.

Ronald Reagan
Ronald Reagan khi là một thiếu niên tại Dixon, Illinois năm 1922 khi 11 tuổi

Theo Paul Kengor, tác giả sách God and Ronald Reagan (Thượng đế và Ronald Reagan (tạm dịch)), Reagan có một niềm tin đặc biệt mạnh mẽ về cái thiện của con người, xuất phát từ niềm tin lạc quan của mẹ ông, bà Nelle, và niềm tin của một tín đồ Tin lành, mà ông đã được thanh tẩy vào năm 1922. Reagan chống đối mạnh mẽ tư tưởng kỳ thị chủng tộc. Ông nhớ lại có lần tại Dixon, lữ quán địa phương không cho phép người da đen nghỉ ở đó. Ông đã đưa họ về nhà của mình và mẹ ông mời họ nghỉ qua đêm rồi dùng điểm tâm vào sáng hôm sau.

Sau khi cửa hàng Pitney đóng cửa cuối năm 1920, gia đình Reagan chuyển đến Dixon, thị trấn “tiểu hoàn vũ” miền Trung Tây này có ấn tượng sâu sắc lâu dài đối với Reagan. Ronald học tại Trường Trung học Dixon, là nơi ông phát triển sở thích về kịch nghệ, thể thao, và kể chuyện. Công việc đầu tiên của ông là nhân viên cứu hộ ở sông Rock tại Lowell Park, gần Dixon, vào năm 1927. Reagan đã thực hiện 77 vụ cứu người khi làm tại đây. Mỗi khi cứu được một người, ông lại khắc một dấu vào khúc gỗ. Reagan theo học tại Đại học Eureka là nơi ông trở thành một thành viên của hội sinh viên Tau Kappa Epsilon, một cổ vũ viên, với bằng chính là kinh tế học và xã hội học. Thanh danh của Reagan được phát triển khi ông trong vai trò một người biết đủ mọi thứ ngành nghề, xuất sắc về chính trị tại trường, các môn thể thao và sân khấu. Ông tham gia đội bóng bầu dục, là đội trưởng đội bơi lội và được bầu làm chủ tịch hội sinh viên. Trong vai trò chủ tịch hội sinh viên, Reagan lãnh đạo một cuộc biểu tình của sinh viên chống lại chủ tịch trường đại học sau khi ông này tìm cách cắt giảm nhân sự trong ban giám hiệu.

Phát thanh viên và diễn viên điện ảnh

Sau khi tốt nghiệp Đại học Eureka năm 1932, Reagan lái xe đến tiểu bang Iowa để dự tuyển việc làm tại nhiều đài phát thanh ở các thị trấn nhỏ. Đại học Iowa thuê mướn ông làm bình luận viên các trận đấu của đội bóng bầu dục Hawkeyes của trường. Trường trả cho ông $10 cho mỗi trận. Chẳng bao lâu sau đó, đài phát thanh WOC tại Davenport thuê Reagan với tiền lương là $100 một tháng. Nhờ có giọng nói hấp dẫn người nghe, ông chuyển đến đài phát thanh WHO tại Des Moines để tường thuật các trận đấu bóng chày của đội Chicago Cubs. Ông chuyên về tường thuật chi tiết các trận đấu mà đài phát thanh nhận được qua điện tín.

Trong lúc đi cùng với đội bóng Cubs tại California, Reagan dự tuyển diễn viên điện ảnh năm 1937 với kết quả là công ty điện ảnh Warner Brothers ký hợp đồng 7 năm với ông. Trong mấy năm đầu tiên của sự nghiệp điện ảnh Hollywood, Reagan đóng phim với một nhóm làm phim có ngân sách hạn chế. Reagan nói đùa rằng các nhà sản xuất phim tại đây “không muốn chúng có chất lượng mà họ chỉ muốn chúng hoàn thành ngày Thứ năm (ý nói làm gấp rút để công chiếu vào tối thứ sáu cuối tuần)”. Mặc dù chưa nổi tiếng so với các diễn viên khác, hoạt động điện ảnh của Reagan lúc đó cũng nhận được nhiều đánh giá tốt. 

Reagan trong phim Kings Row, phim đã tạo nên danh tiếng cho sự nghiệp điện ảnh của ông năm 1942.

Vai diễn điện ảnh đầu tiên của ông là trong phim Love Is on the Air năm 1937, và đến cuối năm 1939 ông đã tham gia vào 19 bộ phim, trong đó có phim Dark Victory với Bette Davis và Humphrey Bogart. Trước bộ phim Santa Fe Trail, thủ diễn cùng với Errol Flynn năm 1940, ông đóng vai George “The Gipper” Gipp trong phim Knute Rockne, All American; từ đó, ông mang biệt danh trọn đời là “the Gipper”. Năm 1941, các chủ rạp phim đã bình chọn ông là ngôi sao điện ảnh được ưa chuộng đứng thứ năm thuộc thế hệ diễn viên trẻ tại Hollywood. 

Vai diễn ưa thích của Reagan là vai một người cụt mất hai chân trong phim Kings Row năm 1942, mà trong phim này ông có nói một câu thoại như sau: “Phần còn lại của tôi ở đâu?”, sau này trở thành tựa đề cho cuốn sách tự truyện của ông vào năm 1965. Nhiều nhà phê bình phim xem Kings Row là bộ phim hay nhất mà ông từng đóng, mặc dù bộ phim này bị nhà phê bình Bosley Crowther của tờ New York Times lên án. 

Tuy Reagan gọi Kings Row là bộ phim “đã làm cho tôi trở thành một ngôi sao”, nhưng ông đã không tận dụng được ưu thế thành công này vì ông phải phục vụ hiện dịch trong Lục quân Hoa Kỳ tại San Francisco hai tháng sau khi bộ phim trình chiếu, và không bao giờ lấy lại được vị thế “ngôi sao” trên màn bạc lần nữa. Thời hậu chiến tranh, sau khi phục vụ gần bốn năm suốt thời Chiến tranh thế giới thứ hai tại một đơn vị nội địa Hoa Kỳ, ông giải ngũ vào tháng 12 năm 1945. Reagan đóng vai trong các phim như The Voice of the Turtle, John Loves Mary, The Hasty Heart, Bedtime for Bonzo, Cattle Queen of Montana, Tennessee’s Partner, Hellcats of the Navy và The Killers (đây là phim cuối của ông và cũng là phim duy nhất mà ông đóng vai phản diện) là phiên bản làm lại vào năm 1964. Trong suốt sự nghiệp điện ảnh, mẹ ông thường trả lời phần lớn lượng thư tín đến từ những người hâm mộ ông.

Trở thành Thống đốc California

Reagan bắt đầu sự nghiệp chính trị với tư cách là đảng viên đảng Dân chủ, và vào tháng 12 năm 1945, công ty điện ảnh Warner Brothers đã gây áp lực để ngăn việc ông lãnh đạo một cuộc biểu tình chống vũ khí hạt nhân ở Hollywood.

Lần cuối cùng Reagan tích cực ủng hộ một ứng cử viên Dân chủ là vào năm 1950 khi ông giúp Helen Gahagan Douglas vận động tranh cử bất thành vào Thượng viện Hoa Kỳ trước đối thủ là Richard Nixon. Tuy nhiên, vào đầu thập niên 1950, khi bắt đầu mối quan hệ với nữ diễn viên Cộng hòa là Nancy Davis, ông chuyển đổi sang cánh hữu và trong khi vẫn còn là người thuộc đảng Dân chủ, ông công khai ủng hộ các ứng viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa là Dwight D. Eisenhower vào các năm 1952 và 1956 cũng như Richard Nixon năm 1960.

Sau khi trở thành người giới thiệu cho chương trình truyền hình General Electric Theater vào năm 1954, Reagan đã sớm đón nhận những quan điểm bảo thủ từ các viên chức tài trợ cho chương trình truyền hình này.  Vào tháng 8 năm đó, Reagan chính thức chuyển sang đảng Cộng hòa và nói rằng “Tôi đã không bỏ đảng Dân chủ. Đảng Dân chủ đã bỏ tôi”. 

Ronald Reagan
Ngôi sao truyền hình Ronald Reagan trong vai trò người giới thiệu chương trình General Electric Theater

Reagan ủng hộ cuộc vận động tranh cử của ứng cử viên tổng thống bảo thủ Barry Goldwater năm 1964. Phát ngôn thay cho Goldwater, Reagan nhấn mạnh niềm tin của ông về tầm quan trọng của chính phủ tinh gọn hơn. Ông tiết lộ động cơ tư tưởng của mình trong một bài diễn văn nổi tiếng, đọc vào ngày 27 tháng 10 năm 1964: “Những vị cha già lập quốc biết rằng một chính phủ không thể nào kiểm soát được nền kinh tế nếu như không kiểm soát được người dân. Và họ biết rằng khi một chính phủ khởi sự làm vậy thì chính phủ phải dùng vũ lực và ép buộc để đạt được mục đích của mình. Vì thế chúng ta đến lúc nào đó phải chọn lựa.” Ông cũng nói rằng, “Bạn và tôi được bảo rằng chúng ta phải chọn giữa phe tả hay phe hữu, nhưng tôi đề nghị rằng không có điều gì như thể là phe tả hay phe hữu. Chỉ có lên cao hay xuống thấp. Lên cao vì giấc mơ lâu dài của con người – sự tối đa tự do cá nhân phù hợp với trật tự – hay xuống thấp đến ổ kiến của chủ nghĩa toàn trị.” Bài diễn văn có tựa đề “A Time for Choosing” mà sau này gọi là “The Speech” đã quyên góp được $1 triệu đô la cho chiến dịch tranh cử tổng thống của ứng cử viên Goldwater và là sự kiện lớn khởi đầu cho sự nghiệp chính trị của Reagan.

Các đảng viên Cộng hòa của tiểu bang California rất đỗi ấn tượng với uy tín và quan điểm chính trị của Reagan sau bài diễn văn “Time for Choosing” (đến lúc chọn lựa) của ông, và đề cử ông tranh chức thống đốc California năm 1966. Ông đắc cử, đánh bại thống đốc hai nhiệm kỳ Edmund G. “Pat” Brown, và tuyên thệ nhậm chức ngày 2 tháng 1 năm 1967. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông đình chỉ thuê mướn thêm nhân viên chính quyền và chấp thuận tăng thuế để cân bằng ngân sách tiểu bang.

Mặt dù gặp phải một nỗ lực bất thành nhằm phế truất chức vụ thống đốc của ông năm 1968, nhưng Reagan đã tái đắc cử thống đốc năm 1970, đánh bại Jesse Unruh. Hai nhiệm kỳ Thống đốc của Reagan đã tạo tiền đề cho các chính sách mà ông theo đuổi sau này với tư cách Tổng thống.

Trở thành Tổng thống Mỹ

Cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 1980 giữa Reagan và đương kim tổng thống Jimmy Carter tiến hành trong lúc có những vấn đề quan tâm trong nước và cuộc khủng hoảng con tin tại Iran đang tiếp diễn. Chiến dịch vận động của ông nhấn mạnh một số nguyên tắc cơ bản của ông về thuế suất thấp để kích thích nền kinh tế, sự can thiệp ít hơn của chính phủ vào cuộc sống của nhân dân, giành nhiều quyền hơn cho các tiểu bang, tăng cường quốc phòng, và phục hồi đồng đô la Mỹ theo bản vị vàng.

Sự xuất hiện của ông trong cuộc tranh luận truyền hình vào tháng 10 đã làm tăng thêm vị thế tranh cử của ông. Reagan thắng cử, chiếm được 44 tiểu bang với 489 phiếu đại cử tri so với 49 phiếu đại cử tri cho Carter (đại diện cho sáu tiểu bang và thủ đô Washington, D.C.). Reagan chiếm được 50,7% số phiếu phổ thông trong khi Carter được 41%, và ứng cử viên độc lập John B. Anderson (đảng viên Cộng hòa cấp tiến) nhận được 6,7%. Đảng Cộng hòa chiếm đa số ghế tại Thượng viện Hoa Kỳ lần đầu tiên kể từ năm 1952, và chiếm được 34 ghế Hạ viện nhưng đảng Dân chủ vẫn chiếm đa số tại Hạ viện Hoa Kỳ.

Thời làm tổng thống của ông, được gọi là Cách mạng Reagan, đã tái tiếp sức tinh thần Mỹ và giảm thiểu sự phụ thuộc của người dân vào chính phủ. Với tư cách là tổng thống, Reagan giữ một bộ nhật ký mà trong đó ông ghi lại những sự việc xảy ra hàng ngày trong thời gian làm tổng thống cũng như những quan điểm của ông về các vấn đề hàng ngày. Bộ nhật ký này được xuất bản vào tháng 5 năm 2007 và trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất với tựa đề The Reagan Diaries.

Reagan là người già nhất đắc cử tổng thống (lúc 69 tuổi) cho đến khi Donald Trump (lúc 70 tuổi) vượt Reagan để trở thành người già nhất đắc cử tổng thống vào ngày 8 tháng 11 năm 2016. Trong bài diễn văn nhậm chức đầu tiên ngày 20 tháng 1 năm 1981, do chính Reagan viết, ông nói về căn bệnh kinh tế của quốc gia khi cho rằng: “Trong cuộc khủng hoảng hiện tại, chính phủ không phải là giải pháp cho những vấn đề của chúng ta; chính phủ là vấn đề.”

Vụ ám sát bất thành

Ngày 30 tháng 3 năm 1981, chỉ 69 ngày sau khi nhận chức tổng thống, Reagan, bộ trưởng báo chí James Brady, sĩ quan cảnh sát thành phố Washington Thomas Delahanty, và nhân viên đặc vụ Timothy McCarthy bị trúng đạn từ kẻ suýt trở thành sát nhân tên là John Hinckley, Jr. bên ngoài Khách sạn Washington Hilton. Mặc dù “suýt chết” lúc đưa đến Bệnh viện Đại học George Washington, Reagan được ổn định trong phòng cấp cứu, rồi trải qua một cuộc giải phẫu khẩn cấp. Ông hồi phục, rồi xuất viện vào ngày 11 tháng 4, và trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên thoát chết sau khi bị bắn trong một vụ mưu sát. Vụ mưu sát này có ảnh hưởng rất lớn đối với sự ủng hộ của dân chúng dành cho Reagan; các cuộc thăm dò cho thấy tỷ lệ chấp thuận dành cho ông là khoảng 73%. Reagan tin rằng Thượng đế đã giành lại cuộc sống cho ông để ông có thể tiếp tục hoàn thành một mục đích cao cả hơn. 

Cuộc sống sau khi kết thúc hai nhiệm kỳ Tổng thống

Sau khi rời nhiệm sở năm 1989, gia đình Reagan mua thêm một căn nhà tại Bel Air, Los Angeles tuy trước đó đã có Nông trại Reagan tại Santa Barbara. Năm 1992 Reagan lập Giải thưởng Tự do Ronald Reagan cùng với Quỹ Tổng thống Ronald Reagan vừa mới lập ra. 

Tháng 8 năm 1994, lúc 83 tuổi, Reagan được chẩn đoán bị bệnh mất trí nhớ, một loại bệnh rối loạn tâm thần không thể chữa trị. Bệnh này hủy hoại các tế bào não và sau cùng gây ra cái chết.

Ronald Reagan
Ronald và Nancy Reagan trên một chiếc thuyền tại California năm 1964

Khi năm tháng trôi qua, căn bệnh từ từ hủy hoại khả năng trí nhớ của Reagan. Ông chỉ có thể nhận ra một ít người trong đó có vợ của ông là bà Nancy. Tuy nhiên ông vẫn hoạt động: đi bộ qua các công viên gần nhà và trên bãi biển, chơi đánh golf đều đặn, và cho đến năm 1999 ông thường đến văn phòng của mình gần Century City.

Reagan bị té tại ngôi nhà của ông ở Bel Air ngày 13 tháng 1 năm 2001, khiến làm gãy xương mông. Ông được chỉnh xương ngày hôm sau và được trở về nhà một tuần sau đó tuy ông phải qua các buổi vật lý trị liệu khó khăn tại nhà. Ngày 6 tháng 2 năm 2001, Reagan bước sang tuổi 90, trở thành cựu tổng thống thứ ba sống thọ đến tuổi này (hai người kia là John Adams và Herbert Hoover và sau này Gerald Ford cũng sống đến 90 tuổi). Những lần xuất hiện trước công chúng của Reagan bắt đầu thưa dần khi bệnh tình tiến triển thêm. Cuối cùng gia đình quyết định đưa ông đến một nơi yên tĩnh hơn để sống cùng vợ của ông là bà Nancy.

Reagan qua đời vì viêm phổi (do bệnh mất trí nhớ gây ra) tại nhà của ông ở Bel Air, California vào trưa ngày 5 tháng 6 năm 2004. Ông là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên chết trong thế kỷ XXI, và lễ tang của ông là quốc tang đầu tiên tại Hoa Kỳ kể từ khi quốc tang tổng thống Lyndon B. Johnson năm 1973. Nơi chôn cất của ông có khắc dòng chữ mà ông đã đọc khi khai mạc Thư viện Tổng thống Ronald Reagan: “Trong tận trái tim, tôi biết rằng con người là tốt, rằng những gì đúng dần dần sẽ luôn chiến thắng và rằng có mục tiêu và giá trị với nhau và mọi cuộc đời.”

Reaganomics

Reaganomics là một thuật ngữ phổ biến đề cập đến các chính sách kinh tế của Ronald Reagan, tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981–1989). Các chính sách của ông kêu gọi cắt giảm thuế rộng rãi, giảm chi tiêu xã hội, tăng chi tiêu quân sự và bãi bỏ quy định thị trường trong nước. Các chính sách kinh tế này được đưa ra nhằm đối phó với thời kỳ lạm phát kinh tế đình trệ kéo dài bắt đầu dưới thời Tổng thống Gerald Ford vào năm 1976.

Thuật ngữ Reaganomics được sử dụng bởi cả những người ủng hộ và những người gièm pha các chính sách của Reagan. Reaganomics một phần dựa trên các nguyên tắc của kinh tế học trọng cung và lý thuyết nhỏ giọt . Các lý thuyết này cho rằng giảm thuế, đặc biệt là đối với các tập đoàn, là cách tốt nhất để kích thích tăng trưởng kinh tế. Ý tưởng là nếu chi phí của các tập đoàn được giảm bớt, thì khoản tiết kiệm sẽ “chảy xuống” phần còn lại của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Trước khi trở thành phó chủ tịch của Reagan, George H.W. Bush đã đặt ra thuật ngữ “kinh tế học voodoo” như một từ đồng nghĩa được đề xuất cho Reaganomics.

Ronald Reagan
Reagan diễn thuyết trên truyền hình từ Văn phòng Bầu dục, sơ lược kế hoạch của ông về luật giảm thuế vào tháng 7 năm 1981.

Bài học chính rút ra

  • Reaganomics đề cập đến các chính sách kinh tế do cựu Tổng thống Ronald Reagan đề ra.
  • Các chính sách phản động đã thực hiện cắt giảm thuế, giảm chi tiêu xã hội, tăng chi tiêu quân sự và bãi bỏ quy định thị trường.
  • Reaganomics bị ảnh hưởng bởi lý thuyết nhỏ giọt và kinh tế học trọng cung.
  • Dưới chính quyền của Tổng thống Reagan, thuế suất cận biên giảm, thu thuế tăng, lạm phát giảm và tỷ lệ thất nghiệp giảm.

Mục tiêu của Reaganomics

Khi Reagan bắt đầu nhiệm kỳ đầu tiên của mình, đất nước đã trải qua vài năm lạm phát đình trệ, trong đó lạm phát cao kèm theo tỷ lệ thất nghiệp cao. Để chống lại lạm phát cao, Cục Dự trữ Liên bang đã tăng lãi suất ngắn hạn, gần đạt mức cao nhất vào năm 1981. Reagan đề xuất một chính sách kinh tế gồm bốn mũi nhọn nhằm giảm lạm phát và kích thích tăng trưởng kinh tế và việc làm:

  • Giảm chi tiêu của chính phủ cho các chương trình trong nước
  • Giảm thuế cho cá nhân, doanh nghiệp và đầu tư
  • Giảm gánh nặng của các quy định về kinh doanh
  • Hỗ trợ tăng trưởng tiền chậm hơn trong nền kinh tế

Cách hoạt động của Reaganomics

Mặc dù Reagan giảm chi tiêu trong nước, nhưng con số đó không được bù đắp bằng việc tăng chi tiêu quân sự, tạo ra thâm hụt ròng trong suốt hai nhiệm kỳ của ông. Thuế suất cận biên cao nhất đối với thu nhập cá nhân đã giảm từ 70% xuống 28% và thuế suất thuế doanh nghiệp giảm từ 48% xuống 34%. Reagan tiếp tục với việc cắt giảm các quy định kinh tế bắt đầu dưới thời Tổng thống Jimmy Carter và loại bỏ các biện pháp kiểm soát giá dầu và khí đốt tự nhiên, dịch vụ điện thoại đường dài và truyền hình cáp. Trong nhiệm kỳ thứ hai, Reagan ủng hộ chính sách tiền tệ ổn định đồng đô la Mỹ so với ngoại tệ.

Gần cuối nhiệm kỳ thứ hai của Reagan, doanh thu từ thuế mà chính phủ Hoa Kỳ nhận được đã tăng lên 909 tỷ đô la năm 1988 từ 517 tỷ đô la năm 1980. Lạm phát giảm xuống còn 4%, và tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống dưới 6%. Mặc dù các nhà kinh tế và chính trị gia vẫn tiếp tục tranh cãi về tác động của Reaganomics, nhưng nó đã mở ra một trong những thời kỳ thịnh vượng dài nhất và mạnh nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Từ năm 1982 đến năm 2000, chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (DJIA) đã tăng gần 14 lần và nền kinh tế có thêm 40 triệu việc làm mới.

Khả năng tồn tại của Reaganomics ngày nay

Nhiều người tin rằng những chính sách tương tự do Reagan đưa ra vào những năm 1980 có thể giúp ích cho nền kinh tế Mỹ ngày nay. Nhưng các nhà phê bình phản đối, nói rằng chúng tôi không ở trong hoàn cảnh tương tự và bất kỳ ứng dụng nào thực sự có thể có tác dụng ngược lại. Reagan cắt giảm thuế cá nhân khi còn 70%, khác xa so với hiện nay. Và việc cắt giảm thuế hơn nữa có thể dẫn đến giảm doanh thu (thuế) cho chính phủ. 

Chính sách đối ngoại của Reagan và sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh

Xây dựng Phòng thủ và “Đế chế Ác ma”

Reagan bắt đầu xây dựng quân đội Mỹ với ý định đánh bại Liên Xô trong một cuộc chạy đua vũ trang.

Những điểm chính

  • Cùng với Thủ tướng Anh Margaret Thatcher, Reagan đã chỉ trích gay gắt Liên Xô về các mặt ý thức hệ và đạo đức.
  • Năm 1983, máy bay chiến đấu của Liên Xô đã bắn rơi một máy bay chở khách thương mại của Korean Air, giết chết toàn bộ 269 hành khách, trong đó có một nghị sĩ Mỹ. Điều này đã thúc đẩy một phản ứng ngoại giao và kinh tế gay gắt của Tổng thống Reagan.
  • Theo Học thuyết Reagan, Hoa Kỳ đã cung cấp vũ khí, đào tạo và viện trợ tài chính cho các phong trào chống cộng trên thế giới, bao gồm cả lực lượng Hồi giáo Mujahideen ở Afghanistan.
  • “Học thuyết Reagan” ủng hộ phe đối lập chống cộng sản ở Trung Âu và chống lại các chính phủ xã hội chủ nghĩa và cộng sản. Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, Reagan đã thực hiện Sáng kiến ​​Phòng thủ Chiến lược, nỗ lực tạo ra một hệ thống phòng thủ tên lửa. Các nhà phê bình thách thức điều này là không khả thi về mặt công nghệ.

Những từ quan trọng

  • Hệ thống định vị toàn cầu : Hệ thống định vị vệ tinh dựa trên không gian cung cấp thông tin vị trí và thời gian trong mọi thời tiết, ở bất kỳ đâu trên hoặc gần trái đất, nơi có đường ngắm không bị cản trở tới bốn vệ tinh trở lên; nó được duy trì bởi chính phủ Hoa Kỳ và có thể truy cập miễn phí cho bất kỳ ai có bộ thu.
  • Sáng kiến ​​Phòng thủ Chiến lược : Một hệ thống do Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đề xuất vào ngày 23 tháng 3 năm 1983, sử dụng các hệ thống trên mặt đất và không gian để bảo vệ Hoa Kỳ khỏi bị tấn công bằng tên lửa đạn đạo hạt nhân chiến lược.
  • Détente : Sự nới lỏng căng thẳng giữa các cường quốc, đặc biệt là sự tan băng đặc biệt của quan hệ giữa Liên Xô và Hoa Kỳ sau Chiến tranh Lạnh.

Tổng quan: Chính sách đối ngoại của Reagan

Chính sách đối ngoại của chính quyền Ronald Reagan từ năm 1981 đến năm 1989 được đặc trưng bởi chiến lược “hòa bình thông qua sức mạnh”. Các nhà phê bình cho rằng các chính sách của Reagan là hung hăng, chủ nghĩa đế quốc và “hâm nóng”; tuy nhiên, các chính sách này được ủng hộ bởi những người bảo thủ hàng đầu của Mỹ, những người cho rằng chúng cần thiết để bảo vệ các lợi ích an ninh của Mỹ. Trong khi Ronald Reagan làm việc để hạn chế ảnh hưởng của chính phủ liên bang đối với cuộc sống của người dân, ông đồng thời theo đuổi các chính sách can thiệp ở nước ngoài như một phần của chiến lược Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Mong muốn chữa khỏi “Hội chứng Việt Nam” cho Hoa Kỳ, ông đã tăng cường kho vũ khí của Mỹ và hỗ trợ các nhóm chống Cộng sản ở Caribe và Trung Mỹ. Là một phần của các chính sách được gọi là Học thuyết Reagan,

Chiến tranh lạnh leo thang

Reagan đã leo thang Chiến tranh Lạnh trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, đẩy nhanh sự đảo ngược chính sách hòa hoãn bắt đầu vào năm 1979, sau cuộc chiến của Liên Xô ở Afghanistan. Reagan đã ra lệnh xây dựng một lượng lớn Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ và thực hiện các chính sách mới đối với Liên Xô. Ông hồi sinh chương trình B-1 Lancer đã bị chính quyền Carter hủy bỏ và bắt đầu sản xuất tên lửa MX. Để đối phó với việc Liên Xô triển khai SS20, Reagan đã giám sát việc triển khai tên lửa Pershing của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) ở Tây Đức.

Cùng với Thủ tướng Vương quốc Anh, Margaret Thatcher, Reagan đã tố cáo Liên Xô về mặt ý thức hệ. Trong một bài diễn văn nổi tiếng vào ngày 8 tháng 6 năm 1982 trước Quốc hội Anh tại Phòng trưng bày Hoàng gia của Cung điện Westminster, Reagan nói, “cuộc tuần hành đòi tự do và dân chủ sẽ khiến chủ nghĩa Mác-Lênin bị bỏ quên trong đống tro tàn của lịch sử”. Vào ngày 3 tháng 3 năm 1983, ông dự đoán rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ sụp đổ, nói rằng, “Chủ nghĩa cộng sản là một chương kỳ lạ, đáng buồn khác trong lịch sử nhân loại, mà những trang cuối cùng thậm chí còn đang được viết.” Trong một bài phát biểu trước Hiệp hội Truyền giáo Quốc gia vào ngày 8 tháng 3 năm 1983, Reagan gọi Liên Xô là “một đế chế xấu xa”.

Vào ngày 1 tháng 9 năm 1983, các máy bay chiến đấu của Liên Xô đã đánh rơi Chuyến bay 007 của Korean Air Lines, chở 269 người, bao gồm cả nghị sĩ Georgia Larry McDonald, gần Đảo Moneron. Reagan cho rằng hành động này là “một vụ thảm sát”, và đáp lại vụ việc bằng cách đình chỉ tất cả các dịch vụ hàng không chở khách của Liên Xô đến Hoa Kỳ; ông cũng từ bỏ một số thỏa thuận đang đàm phán với Liên Xô, gây thiệt hại về tài chính cho họ. Kết quả của vụ bắn hạ,  nguyên nhân khiến KAL 007 đi chệch hướng được cho là do những bất cập liên quan đến hệ thống định vị của nó, và Reagan thông báo vào ngày 16 tháng 9 năm 1983 rằng Hệ thống Định vị Toàn cầu sẽ được cung cấp miễn phí cho mục đích dân sự , để tránh các lỗi điều hướng tương tự trong tương lai.

Học thuyết Reagan

Tận tâm ủng hộ ngay cả những chính phủ độc tài ở nước ngoài để giữ họ “an toàn” trước ảnh hưởng của Liên Xô, Reagan cũng tuyệt vọng muốn chấm dứt Hội chứng Việt Nam (sự miễn cưỡng sử dụng vũ lực ở nước ngoài vì sợ thất bại đáng xấu hổ), vốn đã ảnh hưởng đến Mỹ. chính sách đối ngoại từ giữa những năm 1970. Theo một chính sách được gọi là Học thuyết Reagan, Reagan và chính quyền của ông đã cung cấp viện trợ công khai và bí mật cho các phong trào kháng chiến chống cộng sản, với nỗ lực thao túng các chính phủ ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản và hướng tới chủ nghĩa tư bản. Reagan đã triển khai Bộ phận Hoạt động Đặc biệt của CIA tới Afghanistan và Pakistan, những bộ phận này có nhiệm vụ đào tạo, trang bị và lãnh đạo lực lượng Mujahideen chống lại Quân đội Liên Xô. Chương trình Hành động Đổi mới của Tổng thống Reagan đã được công nhận vì đã hỗ trợ chấm dứt sự chiếm đóng của Liên Xô ở Afghanistan, mặc dù vũ khí do Mỹ tài trợ đã được giới thiệu sau đó sẽ là mối đe dọa đối với quân đội Mỹ trong cuộc chiến ở Afghanistan vào những năm 2000. Tuy nhiên, trong bối cảnh chính sách Carter trang bị vũ khí cho Đài Loan theo Đạo luật Quan hệ Đài Loan, Reagan đã đồng ý với chính quyền cộng sản ở Trung Quốc để giảm việc bán vũ khí cho Đài Loan.

Sáng kiến ​​Phòng thủ Chiến lược

Vào tháng 3 năm 1983, Reagan giới thiệu Sáng kiến ​​Phòng thủ Chiến lược (SDI), một dự án quốc phòng sử dụng các hệ thống trên mặt đất và không gian để bảo vệ Hoa Kỳ khỏi bị tấn công bằng tên lửa đạn đạo hạt nhân chiến lược. Reagan tin rằng lá chắn phòng thủ này sẽ khiến chiến tranh hạt nhân không thể xảy ra. Tuy nhiên, sự hoài nghi rằng công nghệ này có thể hoạt động khiến các đối thủ đặt cho SDI là “Chiến tranh giữa các vì sao”, cho rằng mục tiêu công nghệ là không thể đạt được. Liên Xô trở nên lo ngại về những ảnh hưởng có thể mà SDI sẽ có; lãnh đạo Yuri Andropov nói rằng nó sẽ đặt “toàn bộ thế giới vào tình trạng nguy hiểm.”

Ronald Reagan
Tổng thống Reagan phát biểu trước Quốc hội Anh, London, ngày 8 tháng 6 năm 1982: Reagan, tổng thống Mỹ đầu tiên từng phát biểu trước Quốc hội Anh, dự đoán chủ nghĩa Mác-Lênin sẽ bị bỏ lại trên “đống tro tàn của lịch sử”.

Trung Đông

Sự can dự của Reagan ở Trung Đông được biết đến nhiều nhất với vụ đánh bom doanh trại Beirut, vụ đánh bom Libya năm 1986 và vụ Iran-Contra.

Những điểm chính

  • Lực lượng gìn giữ hòa bình của Mỹ ở Beirut đã bị tấn công vào ngày 23 tháng 10 năm 1983 bởi lực lượng Hezbollah, trong vụ đánh bom doanh trại Beirut. Vụ đánh bom khiến 241 quân nhân Mỹ thiệt mạng và hơn 60 người khác bị thương.
  • Một vụ đánh bom xe tải giết chết 80 thường dân ở Beirut được cho là một đòn trả đũa do Mỹ đứng đầu cho các vụ đánh bom doanh trại, mặc dù chưa có ai ở Mỹ xác nhận điều này. Quan hệ giữa Libya và Mỹ dưới thời Tổng thống Reagan liên tục gây tranh cãi; đến năm 1982, nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi được Mỹ (cùng với nhà lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev, và nhà lãnh đạo Cuba Fidel Castro) chỉ định là một phần của “bộ ba bất hảo”.
  • Reagan đã cho phép sử dụng vũ lực chống lại Libya vào ngày 15 tháng 4 năm 1986, để đáp lại cái gọi là “đánh bom khủng bố”. Vụ tấn công đã bị nhiều quốc gia, cũng như Liên hợp quốc lên án trong Nghị quyết 41/38.
  • Vụ Iran-Contra năm 1986 trở thành vụ bê bối chính trị lớn nhất ở Hoa Kỳ, trong đó tiền thu được từ việc bán vũ khí bí mật cho Iran được sử dụng để tài trợ cho Contra ở Nicaragua. Mặc dù Tổng thống Reagan tuyên bố không biết gì về sự tồn tại của cốt truyện, nhưng sự nổi tiếng của ông nhanh chóng giảm xuống.

Những từ quan trọng

  • Hezbollah : Một tổ chức Hồi giáo Shiite quân sự và chính trị cực đoan hình thành sau cuộc xâm lược của Israel vào Lebanon.
  • Đánh bom doanh trại Beirut : Một cuộc tấn công xảy ra trong Nội chiến Lebanon, khi hai quả bom xe tải tấn công các tòa nhà riêng biệt có quân đội Hoa Kỳ và Pháp (các thành viên của Lực lượng đa quốc gia ở Lebanon), giết chết 299 quân nhân Mỹ và Pháp.
  • Ngược lại : Một nhãn được gán cho các nhóm nổi dậy khác nhau, hoạt động từ năm 1979 đến đầu những năm 1990, phản đối chính phủ Sandinista Junta của Chính phủ Tái thiết Quốc gia ở Nicaragua.

Tổng quan: Reagan và Trung Đông

Chính quyền của Ronald Reagan can dự rất nhiều vào Trung Đông. Nhiệm kỳ đầu tiên của ông được đánh dấu bằng vụ đánh bom doanh trại Beirut, trong khi nhiệm kỳ thứ hai của ông được biết đến với vụ đánh bom Libya năm 1986, và tiết lộ về vụ Iran-Contra.

Vụ đánh bom doanh trại Beirut, 1983

Việc Reagan muốn chứng tỏ sự sẵn sàng của Mỹ trong việc sử dụng vũ lực quân sự ở nước ngoài đôi khi gây ra hậu quả bi thảm. Năm 1983, ông cử binh sĩ đến Lebanon như một phần của lực lượng đa quốc gia đang cố gắng lập lại trật tự sau cuộc xâm lược của Israel một năm trước đó. Lực lượng Mỹ ở Beirut bị tấn công vào ngày 23 tháng 10 năm 1983 trong vụ đánh bom doanh trại Beirut, dẫn đến cái chết của 241 quân nhân Mỹ và làm bị thương hơn 60 người khác bởi các chiến binh do Iran huấn luyện, được gọi là Hezbollah. Cuộc tấn công liều chết được thúc đẩy bởi sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đối với Israel trong cuộc chiến năm 1982 với Lebanon, một cuộc chiến mà nhiều dân thường Lebanon thiệt mạng, và Mỹ được coi là đứng về phía Công giáo Maronite trong các cuộc xung đột trong nước của Lebanon.

Vụ nổ tòa nhà của Thủy quân lục chiến ở Beirut, Lebanon vào ngày 23 tháng 10 năm 1983 đã tạo ra một đám khói lớn có thể nhìn thấy từ xa hàng km.

Ronald Reagan
Đánh bom doanh trại Beirut năm 1983 : Vụ đánh bom doanh trại Beirut dẫn đến cái chết của 241 quân nhân Mỹ và làm bị thương hơn 60 người khác bởi một kẻ đánh bom xe tải liều chết.

Reagan đã cử một nhóm của Nhà Trắng đến địa điểm này 4 ngày sau đó, do Phó Tổng thống George H.W. Bush dẫn đầu. Không có phản ứng đáng kể của quân đội Mỹ đối với vụ đánh bom doanh trại Beirut; một cuộc không kích chung của Mỹ-Pháp vào các vị trí của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo đã được thảo luận nhưng bị bác bỏ. Reagan cam kết giữ một lực lượng quân sự ở Lebanon, và lên kế hoạch nhắm vào doanh trại Sheik Abdullah ở Baalbek, Lebanon, nơi huấn luyện các chiến binh Hezbollah; tuy nhiên, nhiệm vụ sau đó đã bị hủy bỏ. Ngày 7 tháng 2 năm 1984, Tổng thống Reagan ra lệnh cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ bắt đầu rút quân khỏi Liban. Các cuộc tấn công liều chết đã nâng cao uy tín của tổ chức Shi’ite, Hezbollah; điều này được cho là đã góp phần vào sự phát triển của họ, mặc dù họ phủ nhận bất kỳ sự liên quan nào đến các cuộc tấn công.

Vào ngày 9 tháng 2 năm 1984, tàu USS New Jersey đã bắn gần 300 quả đạn vào các vị trí của Druze và Syria ở Thung lũng Bekaa, phía đông Beirut, góp phần làm cho những người Hồi giáo Lebanon nhận thức rằng Mỹ đã đứng về phía Cơ đốc giáo trong các cuộc xung đột nội bộ của Lebanon. Một vụ đánh bom xe tải giết chết 80 dân thường ở Beirut được cho là một đòn trả đũa do Mỹ đứng đầu cho các vụ đánh bom doanh trại, mặc dù không ai ở Mỹ xác nhận điều này.

Đánh bom Libya, 1986

Mối quan hệ giữa Libya và Mỹ dưới thời Tổng thống Reagan liên tục gây tranh cãi, bắt đầu từ sự cố Vịnh Sidra năm 1981. Đến năm 1982, nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi bị CIA coi là mối đe dọa đối với Mỹ. Để phản ánh những phán xét đạo đức vốn có trong các cuộc xung đột, Gaddafi, nhà lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev và nhà lãnh đạo Cuba Fidel Castro được mệnh danh là “bộ ba bất hảo”.

Những căng thẳng này sau đó được khơi lại vào đầu tháng 4 năm 1986, khi một quả bom phát nổ tại một vũ trường Berlin, dẫn đến việc 63 quân nhân Mỹ bị thương và một quân nhân thiệt mạng. Nói rằng có “bằng chứng không thể chối cãi” rằng Libya đã chỉ đạo “vụ đánh bom khủng bố”, Reagan cho phép sử dụng vũ lực chống lại đất nước. Vào tối muộn ngày 15/4/1986, Mỹ tiến hành một loạt cuộc không kích vào các mục tiêu mặt đất ở Libya. Cuộc tấn công được thiết kế để ngăn chặn “khả năng xuất khẩu khủng bố” của Gaddafi, mang lại cho ông ta “những động lực và lý do để thay đổi hành vi phạm tội của ông ta.” Tổng thống phát biểu trước toàn quốc từ Phòng Bầu dục sau khi các cuộc tấn công bắt đầu, nói rõ, “Khi công dân của chúng tôi bị tấn công hoặc lạm dụng ở bất kỳ đâu trên thế giới theo lệnh trực tiếp của các chế độ thù địch, chúng tôi sẽ phản ứng miễn là tôi ở trong văn phòng này. ”

Vụ tấn công bị nhiều nước lên án. Với 79 phiếu thuận, 28 phiếu chống, 33 phiếu trắng, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết 41/38, trong đó “lên án cuộc tấn công quân sự nhằm vào Cộng đồng Nhân dân Xã hội chủ nghĩa Arab Jamahiriya vào ngày 15 tháng 4 năm 1986, là hành vi vi phạm của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. ”

Iran-Contra Affair, 1986

Năm 1986, một vụ bê bối đã làm rung chuyển chính quyền Reagan bắt nguồn từ việc sử dụng tiền thu được từ việc bán vũ khí bí mật cho Iran để tài trợ cho Contra ở Nicaragua – hoạt động đặc biệt bị cấm bởi một đạo luật của Quốc hội. Vụ Iran-Contra đã trở thành vụ bê bối chính trị lớn nhất ở Hoa Kỳ trong suốt những năm 1980. Tòa án Công lý Quốc tế, nơi có thẩm quyền quyết định vụ việc do Mỹ tranh chấp, đã ra phán quyết rằng Mỹ đã vi phạm luật pháp quốc tế và vi phạm các hiệp ước ở Nicaragua theo nhiều cách khác nhau.

Bối cảnh

Vào đầu những năm 1980, Nicaragua được điều hành bởi một nhóm lấy cảm hứng từ chủ nghĩa Mác, Sandinistas. Tổ chức này, do Daniel Ortega lãnh đạo, đã lật đổ chế độ độc tài cánh hữu tàn bạo của Anastasio Somoza vào năm 1979. Tuy nhiên, Reagan đã bỏ qua các khiếu nại chính đáng của Sandinistas và tin rằng sự cai trị của họ đã mở ra khu vực cho ảnh hưởng của Cuba và Liên Xô. Một năm trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, cho rằng thật ngu ngốc khi cho phép mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô và Cộng sản ở Mỹ Latinh, ông đã ủy quyền cho CIA trang bị và đào tạo một nhóm những người Nicaragua chống Sandinista, được gọi là Contras (contra revolucionarios hoặc “những kẻ phản cách mạng ”) Để lật đổ Ortega khỏi quyền lực.

Mong muốn hỗ trợ Contras của Reagan, ngay cả sau khi Quốc hội chấm dứt ủng hộ, đã khiến ông ta đến Iran, một cách đáng ngạc nhiên. Vào tháng 9 năm 1980, Iraq đã xâm lược nước láng giềng Iran và đến năm 1982, đã bắt đầu chiếm được ưu thế. Người Iraq cần vũ khí, và chính quyền Reagan, với mong muốn hỗ trợ kẻ thù của kẻ thù của mình, đã đồng ý cung cấp cho Tổng thống Iraq Saddam Hussein tiền bạc, vũ khí và tình báo quân sự. Tuy nhiên, vào năm 1983, việc quân Hezbollah bắt giữ người Mỹ ở Lebanon đã làm thay đổi kế hoạch của tổng thống. Năm 1985, ông đã ủy quyền bán tên lửa chống tăng và phòng không cho Iran để đổi lấy việc giúp đỡ bắt ba con tin người Mỹ.

Bán vũ khí bí mật

Một năm sau, trợ lý Hội đồng An ninh Quốc gia của Reagan, Trung tá Oliver North, đã tìm ra cách bán vũ khí cho Iran và bí mật sử dụng số tiền thu được để hỗ trợ Nicaragua Contras, vi phạm trực tiếp lệnh cấm viện trợ quân sự của Quốc hội cho quân du kích chống Cộng. ở quốc gia Trung Mỹ đó. Cuối cùng thì Thượng viện cũng biết, North và những người khác bị truy tố với nhiều tội danh khác nhau. Tuy nhiên, tất cả các cáo buộc đều bị bác bỏ, được lật lại khi kháng cáo hoặc được tổng thống ân xá.

Reagan, được biết đến với việc giao nhiều quyền cho cấp dưới và không thể “nhớ” các sự kiện và cuộc họp quan trọng, đã thoát khỏi vụ bê bối mà không có gì khác hơn ngoài những lời chỉ trích vì sự giám sát lỏng lẻo của mình. Anh ta tuyên bố không biết gì về sự tồn tại của âm mưu và chỉ định hai đảng viên Cộng hòa và một đảng viên Dân chủ (John Tower, Brent Scowcroft, và Edmund Muskie, được gọi chung là “Ủy ban Tháp”) để điều tra vụ bê bối. Ủy ban không thể tìm thấy bằng chứng trực tiếp cho thấy Reagan đã biết trước về chương trình, nhưng chỉ trích ông nặng nề vì đã buông lỏng quản lý nhân viên của mình, khiến việc chuyển hướng quỹ có thể xảy ra. Quốc gia bị chia rẽ về mức độ mà tổng thống có thể “bảo vệ lợi ích quốc gia” và giới hạn thẩm quyền theo hiến pháp của Quốc hội trong việc giám sát các hoạt động của cơ quan hành pháp vẫn chưa được giải quyết.

Trung Mỹ

Các tài liệu được phân loại cho thấy chính quyền Reagan đã hỗ trợ các nhóm bán quân sự ở Trung Mỹ trong nhiều chiến dịch diệt chủng.

Những điểm chính

  • Trường học của Mỹ, do CIA và các cố vấn quân sự Mỹ điều hành, đã đào tạo các lực lượng vũ trang Mỹ Latinh về các kỹ thuật tra tấn và ám sát, bằng chứng là sổ tay đào tạo của họ, được giải mật vào năm 1996.
  • Chính quyền Reagan cũng hỗ trợ chính phủ cánh hữu El Salvador trong Nội chiến El Salvador, bất chấp việc chính phủ này vi phạm nhân quyền, cũng như các nhóm quân đội và bán quân sự cánh hữu ở Guatemala trong chiến dịch diệt chủng của họ.
  • Năm 1983, Hoa Kỳ xâm lược Granada, một động thái bị chỉ trích là mang tính đế quốc và bị Anh, Canada và Đại hội đồng Liên Hợp Quốc lên án.
  • Trong Hiệp ước Iran-Contra, Hoa Kỳ đã tài trợ cho Contras, một nhóm chiến binh chống cộng ở Nicaragua, trong cuộc chiến của họ với chính phủ Sandinista.
  • Chính phủ Sandinista đã được bầu cử dân chủ, cho phép đối lập chính trị tự do và thiết lập một nền kinh tế hỗn hợp.
  • Chính quyền Reagan coi chính phủ Sandinista là một mối đe dọa, vì nó là đồng minh với Cuba và Liên Xô; tuy nhiên, phân tích sau đó cho thấy những tuyên bố này đã khá phóng đại.

Những từ quan trọng

  • School of the Americas : Một cơ sở đào tạo của Quân đội Hoa Kỳ, sau đó chính thức được gọi là Viện Hợp tác An ninh Tây bán cầu.
  • Ngược lại : Một nhãn hiệu được gán cho các nhóm nổi dậy khác nhau, hoạt động từ năm 1979 đến đầu những năm 1990, chống lại Sandinista Junta của chính phủ Tái thiết Quốc gia ở Nicaragua.
  • Sandinista : Một đảng chính trị xã hội chủ nghĩa ở Nicaragua theo cộng sản vào những năm 1980.

Các sáng kiến ​​của Reagan ở Trung Mỹ

Tổng thống Reagan đã tăng cường viện trợ quân sự và tài chính cho nhiều bang Trung và Nam Mỹ trong suốt hai nhiệm kỳ của mình. Viện trợ tài chính cho quân đội và các nhóm bán quân sự cực hữu của Colombia đã tăng vọt trong những năm 1980, ngay cả khi Colombia lập một trong những hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhất ở bán cầu. Tình hình tương tự cũng tồn tại đối với El Salvador. Ngay cả khi hàng chục nghìn dân thường bị chính phủ và các lực lượng đồng minh với chính phủ tàn sát vào đầu những năm 1980, Reagan tuyên bố rằng El Salvador đang đạt được “tiến bộ”.

Trường học của Châu Mỹ

CIA, các cố vấn quân sự Hoa Kỳ và Trường Hoa Kỳ có trụ sở tại Hoa Kỳ đã huấn luyện Lực lượng Vũ trang Mỹ Latinh về các kỹ thuật tra tấn và ám sát, trong nỗ lực chống lại “chủ nghĩa dân túy cực đoan” – hoặc trên thực tế, nhằm ngăn chặn sự truyền bá của Chủ nghĩa Cộng sản. School of the Americas kể từ đó đã bị chỉ trích vì những vi phạm nhân quyền của một số sinh viên tốt nghiệp. Vào ngày 20 tháng 9 năm 1996, Lầu Năm Góc đã buộc phải phát hành sách hướng dẫn huấn luyện được sử dụng tại Trường Lục quân Hoa Kỳ ở châu Mỹ và phân phát cho hàng nghìn sĩ quan quân đội từ 11 quốc gia Nam và Trung Mỹ, bao gồm Guatemala, El Salvador, Honduras, và Panama, nơi quân đội Mỹ tham gia rất nhiều vào hoạt động chống nổi dậy. Các sách hướng dẫn này chủ trương nhắm mục tiêu vào dân thường, hành quyết ngoài tư pháp, tra tấn, bỏ tù giả và tống tiền.

Logo bao gồm hình ảnh chiếc khiên hiển thị bản đồ Bắc và Nam Mỹ, một thánh giá và một ngọn đuốc sáng được đặt chéo với một thanh kiếm.  Một dải băng có dòng chữ “Libertad Paz y Fraternidad,” xuất hiện bên dưới tấm chắn.  Lá chắn và ruy băng được bao quanh bởi tên của cơ quan, “Viện Hợp tác An ninh Tây bán cầu” và “Bộ Quốc phòng.”

Con dấu chính thức của Viện Hợp tác An ninh Tây bán cầu, còn được gọi là Trường học của Châu Mỹ : CIA, các cố vấn quân sự Hoa Kỳ và Trường Châu Mỹ có trụ sở tại Hoa Kỳ đã huấn luyện Lực lượng vũ trang Mỹ Latinh về các kỹ thuật tra tấn và ám sát nhằm chống lại “chủ nghĩa dân túy cấp tiến”.

Guatemala

Năm 1999, một báo cáo về Nội chiến Guatemala từ Ủy ban Làm rõ Lịch sử, được Liên Hợp Quốc bảo trợ, đã nêu rằng “Hoa Kỳ đã chứng tỏ rằng họ sẵn sàng hỗ trợ cho các chế độ quân sự mạnh ở sân sau chiến lược của mình. Trong trường hợp của Guatemala, hỗ trợ quân sự được hướng tới việc củng cố bộ máy tình báo quốc gia, và để đào tạo quân đoàn sĩ quan về các kỹ thuật chống nổi dậy, những yếu tố chính có ảnh hưởng đáng kể đến… [các] hành động diệt chủng. ” Theo Ủy ban, từ năm 1981 đến năm 1983, bộ máy an ninh Guatemala – được Hoa Kỳ cung cấp tài chính, vũ trang, huấn luyện và cố vấn – đã phá hủy 400 ngôi làng của người Maya và tàn sát 200.000 người. Đa số nạn nhân là các nhà hoạt động chính trị, sinh viên, công đoàn viên, linh mục, những người ủng hộ nhân quyền và nông dân nghèo.

Panama

Ở Panama, sự ủng hộ dành cho các chế độ chống Cộng còn bí mật hơn. Manuel Noriega, nhà độc tài của Panama, thuộc biên chế của CIA từ năm 1967. Đến năm 1971, việc tham gia buôn bán ma túy của ông ta đã được Cục Quản lý Thực thi Ma túy Hoa Kỳ (DEA) biết đến; tuy nhiên, anh ta là một tài sản quan trọng của CIA nên được bảo vệ cẩn mật. Giám đốc CIA George HW Bush đã sắp xếp để Noriega tăng lương vào năm 1976 với mức lương sáu con số. Chính quyền Carter đã loại bỏ nhà độc tài tương lai khỏi biên chế, nhưng ông đã được chính quyền Reagan phục hồi; mức lương của ông đạt đỉnh vào năm 1985 là 200.000 đô la. Noriega cho phép các trạm nghe lén của CIA ở đất nước của mình, cung cấp tài chính cho Contras ở Nicaragua, và bảo vệ các chuyến hàng tiếp tế bí mật của Hoa Kỳ và do Hoa Kỳ tài trợ cho Contras.

El Salvador

Reagan đã hỗ trợ gây tranh cãi cho chính phủ cánh hữu El Salvador và tất cả các nhánh của bộ máy an ninh trong suốt nhiệm kỳ của ông; ông sợ Mặt trận Giải phóng Quốc gia Farabundo Marti (FMLN) tiếp quản trong Nội chiến El Salvador, bắt đầu vào năm 1979. Cuộc chiến khiến 75.000 người chết, 8.000 người mất tích và một triệu người mất nhà cửa; khoảng một triệu người Salvador chạy trốn khỏi chiến tranh và các lực lượng vũ trang cánh hữu do Hoa Kỳ hậu thuẫn, đã nhập cư vào Hoa Kỳ nhưng bị từ chối tị nạn. Tương tự như Guatemala, phần lớn nạn nhân là nông dân, công đoàn viên, giáo viên, sinh viên, những người ủng hộ nhân quyền, nhà báo, linh mục, nữ tu và bất kỳ ai làm việc vì lợi ích của đa số người nghèo.

Granada

Cuộc xâm lược Grenada là một cuộc tấn công quân sự năm 1983 do Hoa Kỳ lãnh đạo nhằm vào đảo quốc Caribe. Năm năm sau khi Grenada giành được độc lập từ Vương quốc Anh, Phong trào Viên ngọc mới của cộng sản lên nắm quyền trong một cuộc đảo chính năm 1979, xử tử Thủ tướng được bầu và thành lập chính phủ quân sự do Hudson Austin lãnh đạo. Hoa Kỳ nêu ra một số lý do cho cuộc xâm lược: yêu cầu can thiệp của Tổ chức các quốc gia Đông Caribe, vụ giết hại Thủ tướng Bishop, mối đe dọa bất ổn chính trị gần biên giới Hoa Kỳ, và mối đe dọa lớn hơn của việc Quân sự hóa Xô-Cuba của Ca-ri-bê. Cuộc xâm lược, diễn ra vào ngày 25 tháng 10, dẫn đến chiến thắng của Hoa Kỳ trong vòng vài tuần.

Cuộc xâm lược của Mỹ vào Grenada bị Anh, Canada và Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) chỉ trích là mang tính đế quốc. Ở Mỹ, sự ủng hộ của công chúng đối với cuộc xâm lược là rất cao, mặc dù các nhà phê bình chỉ ra rằng không có người Mỹ nào chịu rủi ro.

Nicaragua

Vào ngày 1 tháng 5 năm 1985, Tổng thống Reagan tuyên bố rằng chính quyền của ông coi Nicaragua là “một mối đe dọa bất thường và bất thường đối với an ninh quốc gia và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ” và tuyên bố “tình trạng khẩn cấp quốc gia” và cấm vận thương mại đối với Nicaragua. Một trong những mục tiêu chính của Hoa Kỳ là làm suy yếu sự phát triển độc lập thành công và cải cách dân chủ của Nicaragua như một chiến lược quan trọng trong việc ngăn chặn sự lan rộng ảnh hưởng của Liên Xô.

Vụ bê bối Iran-Contra

Vụ Iran-Contra là một vụ bê bối chính trị ở Hoa Kỳ được đưa ra ánh sáng vào tháng 11 năm 1986. Trong chính quyền Reagan, các quan chức cấp cao của chính quyền Reagan đã bí mật tạo điều kiện thuận lợi cho việc bán vũ khí cho Iran, lúc đó là chủ đề của vũ khí cấm vận. Sau đó, Hoa Kỳ đã sử dụng số tiền thu được từ việc bán hàng để tài trợ cho các phiến quân chống Sandinista và chống cộng sản, hay Contras, ở Nicaragua.

Các chiến binh Contra có trụ sở tại Honduras đã tiến hành một cuộc chiến tranh du kích nhằm lật đổ chính phủ Nicaragua theo chủ nghĩa Marx. Việc tài trợ trực tiếp của Hoa Kỳ cho lực lượng nổi dậy Contras đã bị coi là bất hợp pháp thông qua Tu chính án Boland. Vụ bê bối Iran-Contra bắt đầu như một hoạt động giải phóng bảy con tin người Mỹ đang bị một nhóm có quan hệ với Iran và liên quan đến Cách mạng Hồi giáo giam giữ; tuy nhiên, kế hoạch này đã trở thành một kế hoạch vũ khí để bắt con tin. Những sửa đổi lớn đối với kế hoạch do Trung tá Oliver North thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia nghĩ ra vào cuối năm 1985, trong đó một phần số tiền thu được từ việc bán vũ khí được chuyển sang tài trợ cho Contra ở Nicaragua.

Dưới sự chỉ đạo của CIA, quân đội Contra lớn nhất, Fuerza Democrática Nicaragüense (FDN), đã tấn công các trang trại, hợp tác xã, trường học, trạm y tế và các mục tiêu dân sự khác. Quân đội đã sát hại, tra tấn, cắt xẻo và hãm hiếp dân thường cũng như thực hiện các tội ác chiến tranh khác, theo tài liệu của các tổ chức nhân quyền, chẳng hạn như Tổ chức Ân xá Quốc tế và Tổ chức Theo dõi Nhân quyền. Trong báo cáo thường niên của mình vào năm 1985, Tổ chức Ân xá Quốc tế đã trích dẫn các tài khoản rằng sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đã khuyến khích Contras thực hiện “tra tấn và ám sát”.

Sự tham gia của Liên hợp quốc

Các thẩm phán của Liên hợp quốc (LHQ) đã xem xét hướng dẫn của CIA cấp cho Contras và xác định: “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, bằng cách sản xuất vào năm 1983 một cuốn sách hướng dẫn có tựa đề ‘Operaciones sicológicas en inheritra de du kích’, và phổ biến nó cho các lực lượng đối lập, đã khuyến khích do họ thực hiện các hành vi trái với các nguyên tắc chung của luật nhân đạo. ”

Trong một quyết định chưa từng có vào ngày 27 tháng 6 năm 1986, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đã ra phán quyết có lợi cho Nicaragua và kết luận Hoa Kỳ vi phạm luật pháp quốc tế bằng cách đào tạo, trang bị và tài trợ cho các hoạt động bán quân sự trong và chống lại Nicaragua. Các hoạt động này bao gồm việc khai thác các bến cảng của Nicaragua cũng như tấn công một căn cứ hải quân và các tàu tuần tra. Tòa án Liên Hợp Quốc, với 12 phiếu thuận đến 3, rằng Washington đã “vi phạm nghĩa vụ của mình theo luật tục quốc tế là không sử dụng vũ lực chống lại Quốc gia khác, không can thiệp vào công việc của quốc gia này, không vi phạm chủ quyền của quốc gia đó và không làm gián đoạn hàng hải hòa bình. thương mại.” ICJ cũng phán quyết rằng Hoa Kỳ có nghĩa vụ “thực hiện việc bồi thường cho Cộng hòa Nicaragua đối với tất cả các tổn thương do vi phạm gây ra”.

Phản hồi của Reagan

Nhà Trắng Reagan tuyên bố sẽ bỏ qua phán quyết của tòa, tuyên bố một cách hiệu quả rằng luật pháp quốc tế không áp dụng đối với Hoa Kỳ. Quốc hội sau đó đã thông qua việc phê duyệt thêm 100 triệu đô la để leo thang cuộc chiến ở Nicaragua, đồng thời bày tỏ sự nghi ngờ sâu sắc về sự xứng đáng của Contras và khả năng hoàn thành mục tiêu của họ. Nicaragua sau đó đã đưa vụ việc của mình lên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nơi đã thông qua một nghị quyết khẳng định phán quyết của Tòa án và kêu gọi cả hai quốc gia tuân thủ luật pháp quốc tế; tuy nhiên, Hoa Kỳ đã sử dụng quyền phủ quyết của mình để ngăn chặn nghị quyết.

Trong khi Tổng thống Reagan là người ủng hộ nguyên nhân Contra, bằng chứng vẫn bị tranh cãi về việc liệu ông có cho phép chuyển số tiền thu được từ việc bán vũ khí của Iran cho Contras hay không. Điều tra vai trò của Reagan trong vụ việc, Ủy ban Tháp do Reagan bổ nhiệm không tìm thấy bằng chứng về sự liên quan của tổng thống. Tuy nhiên, họ cho rằng Reagan đã cẩu thả vì không giám sát và quản lý nhân viên của mình, và truy tố 14 quan chức chính quyền, 11 người trong số họ đã bị kết án và sau đó được ân xá.

Tổng thống Reagan đã phát biểu trước công chúng, nhận toàn bộ trách nhiệm về cuộc khủng hoảng và giữ thái độ không biết gì về vụ việc. Hiệp hội Iran-Contra đã cắt giảm xếp hạng chấp thuận của Reagan từ 67% xuống 46% vào tháng 11 năm 1986, “mức sụt giảm lớn nhất đối với bất kỳ tổng thống Mỹ nào trong lịch sử”, mặc dù xếp hạng này đã tăng trở lại 64% vào cuối nhiệm kỳ, mức cao nhất xếp hạng từng được ghi nhận cho một Tổng thống sắp mãn nhiệm.

Chiến tranh lạnh kết thúc

Trong các cuộc gặp thượng đỉnh năm 1987, Reagan và Gorbachev đã đồng ý cắt giảm vũ khí hạt nhân, dẫn đến sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh kéo dài hàng thập kỷ.

Những điểm chính

  • Vào thời điểm Mikhail Gorbachev lên nắm quyền vào năm 1985, Liên Xô đã bị sụt giảm thu nhập và một thập kỷ kinh tế đình trệ, với tốc độ tăng trưởng gần bằng 0%.
  • Gorbachev đưa ra một chương trình cải cách nhanh chóng, bao gồm tự do hóa kinh tế và chính trị. Những cải cách này đòi hỏi sự chuyển hướng các nguồn lực của Liên Xô từ quân sự sang sản xuất dân dụng và công nghiệp, và do đó dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang thời Chiến tranh Lạnh với Mỹ chậm lại.
  • Năm 1985, Gorbachev và Reagan gặp nhau tại Geneva để cắt giảm vũ khí trang bị và thu hẹp ngân sách quân sự của họ. Năm sau, gặp nhau tại Reykjavík, Iceland, họ đã khiến cả thế giới ngạc nhiên khi tuyên bố sẽ cố gắng loại bỏ vũ khí hạt nhân vào năm 1996.
  • Năm 1987, họ đồng ý loại bỏ toàn bộ chủng loại vũ khí hạt nhân khi ký Hiệp ước Các lực lượng Hạt nhân Tầm trung (INF) tại Nhà Trắng. Điều này đặt nền tảng cho các thỏa thuận hạn chế vũ khí hạt nhân trong tương lai.
  • Vào tháng 11 năm 1989, Bức tường Berlin bị phá bỏ, và Liên Xô sụp đổ hai năm sau đó.

Từ khóa quan trọng

  • Détente : Sự nới lỏng căng thẳng giữa các cường quốc, đặc biệt là sự tan băng đặc biệt của quan hệ giữa Liên Xô và Hoa Kỳ sau Chiến tranh Lạnh.
  • Hội nghị thượng đỉnh Malta : Cuộc gặp giữa Tổng thống Mỹ George HW Bush và nhà lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev, diễn ra từ ngày 2-3 / 12/1989, chỉ vài tuần sau khi Bức tường Berlin sụp đổ.
  • Mikhail Gorbachev : Một cựu chính khách Liên Xô, từng là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1985 đến năm 1991.

Chiến tranh lạnh kết thúc

Vào những năm cuối của Chiến tranh Lạnh, Matxcơva đã xây dựng một quân đội tiêu thụ tới 25% tổng sản phẩm quốc dân của Liên Xô, với chi phí cho hàng tiêu dùng và đầu tư vào các lĩnh vực dân sự. Tuy nhiên, quy mô của các lực lượng vũ trang Liên Xô không nhất thiết là kết quả của một cuộc chạy đua vũ trang phản ứng hành động đơn giản với Hoa Kỳ. Thay vào đó, chi tiêu của Liên Xô cho cuộc chạy đua vũ trang và các cam kết khác trong Chiến tranh Lạnh có thể được hiểu là cả nguyên nhân và hậu quả của các vấn đề cơ cấu sâu xa trong hệ thống Liên Xô, vốn tích tụ ít nhất một thập kỷ đình trệ kinh tế trong những năm Brezhnev. Đầu tư của Liên Xô vào lĩnh vực quốc phòng không nhất thiết phải thúc đẩy bởi nhu cầu quân sự mà phần lớn là do lợi ích của các bộ máy quan liêu của đảng và nhà nước phụ thuộc vào lĩnh vực này để có quyền lực và đặc quyền riêng của họ.

Tái cấu trúc Liên Xô

Chi phí quân sự lớn của Liên Xô, kết hợp với nông nghiệp tập thể hóa và sản xuất theo kế hoạch kém hiệu quả, là gánh nặng cho nền kinh tế Liên Xô. Đồng thời, Ả Rập Xê Út tăng sản lượng khai thác dầu khiến giá dầu năm 1985 giảm xuống còn 1/3 so với trước đó. (Xuất khẩu dầu mỏ chiếm khoảng 60% tổng thu nhập xuất khẩu của Liên bang Xô Viết.) Vào thời điểm Mikhail Gorbachev lên nắm quyền vào năm 1985, Liên Xô phải chịu tốc độ tăng trưởng kinh tế gần 0%, kết hợp với đồng nội tệ giảm mạnh. thu nhập do giá dầu thế giới đi xuống.

Để tái cấu trúc nền kinh tế Liên Xô trước khi nó sụp đổ, Gorbachev đã công bố một chương trình cải cách nhanh chóng dựa trên cái mà ông gọi là perestroika (tái cấu trúc) và glasnost (tự do hóa, mở cửa). Cải cách đòi hỏi Gorbachev phải chuyển hướng các nguồn lực của đất nước từ các cam kết quân sự tốn kém thời Chiến tranh Lạnh sang các lĩnh vực có lợi hơn trong lĩnh vực dân sự. Do đó, Gorbachev đã đưa ra những nhượng bộ lớn với Hoa Kỳ về mức độ lực lượng thông thường, vũ khí hạt nhân và chính sách ở Đông Âu.

Nhiều quan chức chính quyền Hoa Kỳ nghi ngờ rằng Gorbachev đang nghiêm túc về việc giảm nhẹ cuộc chạy đua vũ trang; tuy nhiên, Tổng thống Reagan đã nhận ra sự thay đổi thực sự trong đường lối của giới lãnh đạo Liên Xô và chuyển sang ngoại giao để đích thân thúc đẩy Gorbachev tiến xa hơn với những cải cách của mình. Reagan chân thành tin tưởng rằng nếu ông có thể thuyết phục người Liên Xô nhìn vào nền kinh tế Mỹ thịnh vượng, họ cũng sẽ chấp nhận chủ nghĩa tư bản thị trường tự do.

Giảm thiểu trong cuộc đua vũ trang

Căng thẳng Đông-Tây đã đạt đến đỉnh cao mới hồi đầu thập kỷ nhanh chóng lắng xuống từ giữa đến cuối những năm 1980. Gorbachev và Reagan đã tổ chức bốn hội nghị thượng đỉnh từ năm 1985 đến năm 1988: hội nghị đầu tiên tại Geneva, Thụy Sĩ; thứ hai ở Reykjavik, Iceland; thứ ba ở Washington, DC; và thứ tư ở Moscow. Trong cuộc gặp thứ ba, Gorbachev và Reagan đã ký Hiệp ước Các lực lượng Hạt nhân Tầm trung (INF) tại Nhà Trắng, theo đó loại bỏ toàn bộ loại vũ khí hạt nhân. Hai nhà lãnh đạo đã đặt ra khuôn khổ cho Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược, hay START I; Reagan nhấn mạnh rằng tên của hiệp ước được thay đổi từ Đàm phán giới hạn vũ khí chiến lược thành Đàm phán cắt giảm vũ khí chiến lược.

Năm 1988, Liên Xô chính thức tuyên bố rằng họ sẽ không can thiệp vào công việc của các nước đồng minh ở Đông Âu. Năm 1989, lực lượng Liên Xô rút khỏi Afghanistan. Tháng 11 năm 1989, Bức tường Berlin bị phá bỏ, Chiến tranh Lạnh kết thúc được chính thức tuyên bố tại Hội nghị thượng đỉnh Malta ngày 3 tháng 12 năm 1989; hai năm sau, Liên Xô sụp đổ.

Ronald Reagan
Reagan và Gorbachev Tổ chức các cuộc thảo luận : Reagan và Gorbachev đã xây dựng mối quan hệ thân thiết và góp phần to lớn vào việc kết thúc hòa bình của Chiến tranh Lạnh.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây