Quản Trị Cảm Xúc

377

Tại sao bạn lại vào đọc bài viết này?

Bạn đang đọc theo lộ trình các bài viết mà tôi đang viết.

Hay trước khi vào, đây là chủ đề mà bạn đang tìm kiếm mà vẫn chưa tìm được câu trả lời.

Nếu câu trả lời là 1 thì tôi chúc mừng bạn, nếu câu trả lời là 2 thì tôi cũng thật sự chúc mừng bạn.

Bạn đang đến với một trong những chủ đề quan trọng và tâm đắc nhất mà tôi muốn viết cho các bạn. Thực sự thì không những muốn viết mà tôi muốn đàm đạo cùng các bạn. Muốn trực tiếp được nói chuyện cùng các bạn về vấn đề này, để nhìn thấy nội tâm của các bạn, biết đâu tôi có thể giúp được các bạn.

Mong các thật bình tĩnh để đọc bài viết này, nó liên quan đến sức mạnh nội tâm bên trong của bạn, không nhanh được. Bài viết này tôi sẽ phân tích từ gốc những vấn đề liên quan đến cảm xúc, nên sự dài dòng là không tránh khỏi, mong các bạn hoan hỉ đón nhận.

1. Cảm xúc là gì?

Cảm xúc là phản ứng của cơ thể đối với môi trường xung quanh (các yếu tố ngoại cảnh). Bao gồm cả biểu cảm gương mặt, lời nói, các hành vi, thái độ…đặc trưng riêng cho mỗi loại cảm xúc khác nhau. Cơ thể tiết hormone để tạo ra các loại cảm xúc và duy trì các cảm xúc này trong 

Có 6 loại cảm xúc cơ bản là hạnh phúc, buồn bã, sợ hãi, kinh tởm, tức giận và ngạc nhiên.

6 loại cảm xúc cơ bản của con người

1.1 Khi nào thì cơ thể tiết hormone?

Khi các sự vật và hiện tượng xảy ra, trong ¼ giây đầu tiên, cơ thể sẽ phân biệt xem có nên phản ứng lại với sự vật và hiện tượng đó không?

Cơ thể tiến hành xem xét dựa trên nhĩ căng và mức độ chịu đựng của bản năng (tương đương với tiềm thức và vô thức) mà sẽ quyết định tiết ra loại hormone gì để phản ứng. Nếu sự việc nằm trong căn thì cơ thể sẽ không tiết hormone. Còn nếu nằm ngoài căn, thì nó đã thuộc vô thức và tiềm thức. Lúc này, ý thức không thể không thể tác động và kiểm soát được.

1.2 Căn là gì?

Mỗi người sẽ có 6 căn: nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn. Mỗi căn đều có 2 phần chính là phần sinh lý và phần tâm lý. Vì vậy khi căn tiếp xúc với trần cảnh (những cảnh vật xung quanh) sẽ sinh ra cảm giác. 

Nhãn căn: Mắt có thể nhận thức được hình ảnh, màu sắc, các sự vật

Nhĩ căn: Tai có thể nghe được âm thanh

Tỷ căn: Mũi có thể ngửi được các mùi vị

Thiệt căn: Lưỡi có thể nếm được các vị

Thân căn:Thân thể cảm nhận được các va chạm xung quanh

Ý căn: Tạo ra ý thức từ 5 căn đã được lưu trữ trên

Như vậy, ý thức không thể sinh ra cảm xúc được nếu không thông qua các căn. 

1.3 Cảm xúc được kiểm soát bởi tiềm thức

Tiềm thức là nơi lưu trữ các thông tin trong vùng trí nhớ dài hạn. Khi những phản xạ được lặp đi lặp lại sẽ được lưu trữ trong tiềm thức. Tiềm thức kích hoạt một cách tự động những cảm xúc đã được trải qua trong quá khứ trong những tình huống bất ngờ.

La hét khi bất ngờ nhìn thấy côn trùng

Tiềm thức có khả năng phòng ngừa trước những cú sốc về mặt tinh thần và tình cảm. Tiềm thức cất giữ lại những ký ức hạnh phúc, giúp chữa lành những vết thương tình cảm khi con người nhớ lại. Và cũng là nơi cất giữ kí ức đau buồn, những đoạn ký ức buồn mà chúng ta luôn muốn quên đi, nhưng nó vẫn hiện lên trong những khung cảnh giống đoạn kí ức đó.

2. Mối liên hệ giữa cảm xúc và bản năng

Bản năng là hoạt động của cơ thể không thông qua lý trí và lập luận. Bản năng con người được điều khiển bởi nguyên lý thoả mãn. Chính là luôn muốn tìm kiếm sự dễ chịu ngay lập tức, thoải mái để có thể đáp ứng các khát khao và mong muốn cá nhân. Khi mà không thể đáp ứng những nhu cầu này, sẽ gây ra cảm xúc ức chế, tức giận, lo âu,…

Nếu đứa trẻ đói, chúng sẽ khóc mãi cho đến khi được ăn (được thoả mãn nhu cầu ngay lập tức)

Nhưng nhu cầu của bản năng không phải lúc nào cũng hợp lý, đôi khi nó còn phi thực tế. Nếu chúng ta không chống lại nguyên lý thỏa mãn này sẽ dẫn đến các hành động tiêu cực.

Học cách kiểm soát bản năng chính là học cách kiểm soát được cảm xúc, khống chế được những nhu cầu bất khả thi.

3. Mối liên hệ giữa cảm xúc và tần số rung động

Con người luôn phát ra một tần số. Tần số càng cao thì càng ở các trạng thái tích cực như hạnh phúc, vui vẻ, phần khích, biết ơn,… Tần số càng thấp thì cảm xúc càng tiêu cực như tức giận, thất vọng, chán ghét, buồn bã,…

Mỗi người có một tần số rung động khác nhau hay gọi là mức năng lượng tuỳ thuộc cảnh giới của tinh thần của họ.

Các mức tần số tương ứng với biểu hiện cảm xúc của con người

Tần số của một người được lan truyền trong không gian, nó được tăng lên (cộng hưởng) khi giao thoa với cùng tần số. Những người có khả năng thấu cảm (hấp thụ được năng lượng từ tần số) với người khác sẽ hình thành được các cảm xúc tương tự: cùng vui, cùng buồn,…

4. Điều chỉnh cảm xúc để luật hấp dẫn được phát huy

Theo quy luật hấp dẫn thì bạn như thế nào thì bạn sẽ hấp dẫn những điều tương tự như thế. Nếu bạn tích cực, bạn sẽ hấp dẫn những điều may mắn, hạnh phúc đến với mình. Ngược lại nếu bạn tiêu cực, sự buồn bã, xui xui xẻo và thất vọng sẽ bị hấp dẫn đến.

Do đó, cảm xúc hiện tại của bạn có thể kéo theo nhiều sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai. Khi bạn có thể điều chế cảm xúc, bạn có thể thay đổi tương lai theo hướng bạn mong muốn.

Cách để làm dịu lại nguồn cảm xúc:

4.1 Tạo nên cảm xúc hạnh phúc thật sự.

Luật hấp dẫn sẽ không có tác dụng với bạn khi bạn cố tình gượng ép bản thân với hạnh phúc giả dối. Đúng là khi bạn tích cực, bạn sẽ thu hút những điều tích cực. Nhưng điều đó đồng nghĩa với việc bạn phải tìm ra được hạnh phúc thật sự ngay cả khi bạn không hài lòng với hiện tại.

Việc cố kiềm chế cảm xúc để gắn một nhãn mác rằng mọi thứ đang ổn và đang rất tuyệt vời có thể gây ra sự ức chế tinh thần. Để rồi, khi có sự cố xảy ra, chính là sự câm phẫn, nỗi loạn, tức giận, tự ti, thậm chí là sự tàn ác… được nép sau mặt nạ hạnh phúc đó. Như vậy thì, không thể thu hút được những điều tích cực bằng sự giả dối tích cực được.

Cách đơn giản nhất để chữa lành cảm xúc lúc này chính là bạn cần chấp nhận chính bản thân mình và yêu bản thân mình hơn.

Trung thực tạo nên sự rung động với tần số cao hơn hạnh phúc giả tạo

4.2 Tập trung vào hình thức nhiều hơn tập trung vào bản chất

Nhiều người cho rằng vật chất chính là yếu tố cuối cùng của cuộc đời họ. Thế nhưng, cái chúng ta cần thực sự quan tâm phải chính là yếu tố tinh thần và cảm xúc trong chính con người mình.

Khi tập trung vào bản thân, chúng ta sẽ không bị lưu mờ bởi những hình thức bên ngoài. Bản chất thì chỉ có một, còn hình thức thì nhiều vô số kể. Nếu cứ đua theo hình thức nhưng không đạt được, sẽ dẫn đến cảm xúc thất vọng và thiếu tự tin.

4.3 Tha thứ cho lỗi lầm của bản thân và lỗi lầm của người khác

Khắt khe với bản thân sẽ giúp chúng ta đỡ sa ngã hơn. Nhưng nếu quá khắt khe với bản thân và luôn cảm thấy tội lỗi sẽ giết chết năng lượng tích cực. Đối với lỗi lầm của bản thân, hãy trao thật nhiều cơ hội để khắc phục và cải tiến hơn.

Đối với lỗi lầm của người khác, hãy giải thoát bản thân khỏi dòng năng lượng tiêu cực lan truyền đó. Tha thứ cho họ chính là cách giải cứu tâm hồn và hướng dòng cảm xúc đến nguồn năng lượng mới hơn. Tha thứ nhưng không được lãng quên lỗi lầm đó. Lãng quên sẽ khiến chúng ta tổn thương một lần nữa vì những lỗi lầm tượng tự đó.  Chữa lành cảm xúc và tạo phòng vệ cho tâm hồn.

5. Trái tim là nơi trú ngụ cho cảm xúc

Trái tim là nơi tạo ra điện từ trường mạnh nhất trong các bộ phận trong cơ thể (theo Institute of HeartMath).

Trái tim có thể tạo ra điện từ trường với biên độ gấp 60 lần biên độ của sóng não và mạnh hơn 5000 lần bộ não tạo ra.

Sự thật la trái tim mới là nơi quyết định cảm xúc chứ không phải não bộ. Nhịp điệu của trái tim luôn biến thiên và không ổn định. Khi căng thẳng, nhịp điệu trái tim trở nên nhanh và dồn dập, truyền tín hiệu lên não bộ, giúp não bộ tỉnh táo và tập trung để đưa ra các quyết định đúng hơn. 

Trái tim chính là nguồn gốc chính của những dạng sóng nhịp điệu trong cơ thể, vì thế nó giữ vai trò quan trọng trong việc trải nghiệm cảm xúc của con người. Sóng thể hiện nhịp điệu của trái tim biến thiên rõ ràng mỗi khi con người có những cảm xúc khác nhau.

Liệu có thực sự tồn tại “trực giác” của trái tim?

Chúng ta thường có khả năng cảm nhận được những gì đang ở khoảng cách rất xa. 

Một nhà báo người nước ngoài Ed Decker đã có trải nghiệm về hiện tượng này. Đó là ông đã cảm nhận được một làn sóng lo lắng dâng trào vào chính xác khoảng thời gian mẹ ông bị đột quỵ cách đó tận 4000km. Tiến sĩ McCraty đã giải thích rằng, đó không phải là linh tính ngẫu nhiên, mà đó chính là hiện tượng thu nhận tín hiệu của trái tim (khả năng bắt sóng).

Sự kết nối giữa con người với nhau giống như thiết bị vô tuyến và Wifi, tạo nên hiện tượng cộng hưởng khi có thể kết nối được.

Trái tim có khả năng phản ứng lại mọi hiện tượng, trước khi não bộ phản ứng. Việc chúng ta có thể kết nối là vì đó là những thứ rất quan trọng đối với chúng ta về mặt cảm xúc. Sự kết nối này là điều chỉnh chúng ta đến mức tần số cụ thể, tạo nên sự liên kết với cảm xúc.

Sự kiềm chế không chỉ là một đức tính tốt mà còn là một nhân tố quan trọng quyết định thành bại trong sự nghiệp của con người.

~ LỜI KHUYÊN CỦA ĐẠI HỌC HARVARD

 Cảm xúc là phản ứng nhất thời để bảo vệ quyền lợi của bản ngã.

~ HIỂU VỀ TRÁI TIM

Là con người không ai không có cảm xúc. Điều quan trọng là chúng ta phải biết cách khơi dậy những cảm xúc tích cực ở cả người khác lẫn chính bản thân mình.

~ ROGER FISHER, DANIEL SHAPIRO

Các cảm xúc sẽ là đầy tớ hay là ông chủ, còn tùy thuộc vào việc ai chọn làm chủ.

~ JIM ROHN

Với logic luẩn quẩn của cảm xúc, thứ xúc cảm đáng giá nhất của cuộc đời con người chính là được đắm chìm trong thành công.

~ JOSEPH CONRAD

Sợ gì mà không cố gắng kiềm chế một chút bản thân để con người mạnh mẽ hơn.

~  GORKY

Nước mắt là dấu hiệu cho sự bất lực của tâm hồn trong việc kìm nén cảm xúc và duy trì mệnh lệnh với bản thân. 

~ HENRI FREDERIC AMIEL

Tự khống chế là chiếc chìa khóa an toàn cho hành vi hàng ngày của bạn, nó bắt bạn phải dùng lý trí để cân bằng cảm xúc, đón nhận sự dẫn dắt của lý tính, “nghĩ trước làm sau”, kiểm soát cảm xúc và lời lẽ cử chỉ của bản thân.

LỜI KHUYÊN CỦA ĐẠI HỌC HARVARD

Nếu bạn có những cảm xúc mãnh liệt về điều gì đó xảy ra trong quá khứ, chúng có thể gây trở ngại cho khả năng sống trong hiện tại của bạn. 

~ LES BROWN

Nghệ thuật lớn nhất của cuộc đời là cảm xúc, cảm xúc rằng chúng ta đang sống, dù có là sống trong đau khổ. 

 ~ LORD BYRON

Biết xấu hổ trước mọi người là một cảm xúc tốt. Nhưng tốt hơn hết là biết xấu hổ trước chính bản thân mình.

~ LEP TOLSTOY

Khi phạm nhiều sai lầm, bạn biết đâu là sai lầm và làm thế nào để không phạm sai lầm. Khi biết đâu là sai sót, bạn ngày tiến gần đến lẽ phải. Đó là sự khám phá của từng cá nhân; bạn không thể phụ thuộc vào kết luận của người khác.

~ OSHO

Hãy học suy nghĩ bằng trái tim và hãy học cảm xúc bằng lý trí.

T. FONTANE

Noi gương người khác, hiểu rõ thị phi, chính là diệu pháp để tự kiềm chế mình.

~ LỖ TẤN

Không khống chế được mình thì sẽ khó mà khống chế được người khác.

~NAPOLEON BONAPARTE

Chỉ cần kiềm chế bản thân hơn một chút cũng khiến con người trở nên mạnh mẽ hơn.

~ GORKY

Dễ tức giận là một tố chất thấp hèn, ai chịu sự chi phối của nó thì mãi mãi chỉ là kẻ yếu trong xã hội.

~ BACON

Người biết tự kiểm soát mới thực sự là người có đức hạnh.

~ JONATHAN SWIFT

Bất luận làm việc gì cũng không được sốt ruột, bất luận xảy ra chuyện  gì cũng phải bình tĩnh, khéo léo để giải quyết.

~ DICKENS

Tự kiểm điểm là một tấm gương trong suốt, có thể phản chiếu những vết bẩn tâm hồn

~ GORKY

Không được khích nổ sẽ làm giảm trí tuệ. Không được oán hận sẽ giảm đi một nửa sức mạnh.

~TÀO THÁO

Người ta có thể quên lời bạn đã nói, người ta có thể quên việc bạn đã làm nhưng người ta không bao giờ quên cảm xúc mà họ có về bạn.

~ MAYA ANGELOU

Trong thời đại ngày nay, thuật ngữ “trí tuệ cảm xúc” EQ (Emotional Quotient ) đã không còn xa lạ với chúng ta. Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ (Intelligent Quotient là chỉ số thông minh), như người ta thường nói “với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn”. Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. Các nhà tuyển dụng dùng EQ là một tiêu chí đo lường ứng cử viên. Các doanh nghiệp khôn ngoan sẵn sàng đầu tư công sức và tiền bạc vào rèn luyện EQ cho nhân viên nâng cao hiệu suất.

Còn về đời sống cá nhân thì sao? Trong khi mối quan hệ giữa người và người (cha mẹ – con cái, vợ – chồng, bạn bè…) ngày càng phức tạp, thì EQ xuất hiện như là một thành tố giúp hàn gắn sợi dây tình cảm, kết nối bền vững.

Chỉ số thông minh (IQ), tính cách và trí tuệ cảm xúc (EQ) là ba phẩm chất riêng biệt mà tất cả chúng ta đều sở hữu. Kết hợp với nhau, chúng xác định rõ cách chúng ta suy nghĩ và hành động. Một người có thể rất thông minh, nhưng lại có trí tuệ cảm xúc thấp, và con người, dù thuộc bất cứ loại tính cách nào, cũng có thể có chỉ số EQ cao và/hoặc IQ cao.

EQ là khả năng tự nhận thức cảm xúc bản thân, biết đâu là điểm mạnh của mình để phát huy và đâu là điểm yếu của mình để khắc phục. Đó là yếu tố quan trọng nhất của trí thông minh cảm xúc.

EQ còn là khả năng thấu hiểu cảm xúc, mong muốn và quan điểm của người khác, phân biệt được chúng và sử dụng chúng để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của bản thân. Từ đó biết thông cảm, xây dựng, duy trì tốt các mối quan hệ, biết lắng nghe và quan tâm đến người khác, nên có cuộc sống cởi mở và chân thành. Sự thấu cảm là yếu tố quan trọng thứ hai của trí thông minh cảm xúc. Thông minh cảm xúc giúp ta sống tốt hơn với mọi người, hài hòa hơn với chính mình và trong đối xử với người khác.

EQ là khả năng quản lý cảm xúc giúp đưa ra những quyết định sáng suốt để thúc đẩy bản thân tiến bước và cải thiện các mối quan hệ đối với mọi người làm cho mọi việc trở nên tốt đẹp, hiệu quả hơn. Người có trí thông minh cảm xúc biết giữ sự cân bằng giữa tình cảm và lý trí.

EQ còn là khả năng tự kiềm chế, không để cảm xúc vượt khỏi tầm kiểm soát của bản thân, biết tự điều chỉnh, tự đánh giá, khả năng kiểm soát và chế ngự những khát vọng, đam mê, khả năng kỷ luật tự giác, khả năng tư duy tích cực, tìm ra được nhiều giải pháp để giải quyết công việc. Đặc điểm của sự tự kiểm soát và điều chỉnh bản thân là suy nghĩ chính chắn, chính trực, hợp tình, hợp lý cho mỗi tình huống.

Trí tuệ lý trí (phụ thuộc chủ yếu vào chức năng của bán cầu não trái) không liên quan nhiều đến trí tuệ cảm xúc (phụ thuộc chủ yếu vào chức năng của bán cầu não phải). Người thông minh nhất có khi lại phó mặc cho cảm xúc kiểm soát hành động của mình, dẫn đến những tình thế bất lợi. Trí tuệ cảm xúc là xung lực chủ yếu có ảnh hưởng sâu sắc tới tất cả năng lực khác bằng cách kích thích hay ức chế chúng, nhờ đó, con người có thể ứng phó linh hoạt, biết cách làm chủ cảm xúc của bản thân và cả cảm xúc của những người khác. Sức mạnh của trí tuệ cảm xúc là công cụ hữu hiệu khơi dậy những cảm xúc tích cực, đồng thời triệt tiêu các cảm xúc tiêu cực. Đừng quên nhu cầu cảm xúc cao nhất của một con người là cảm thấy được tôn trọng.

1. Kỹ năng là gì?

Kỹ năng là do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng. Vậy, kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi. Nói cách khác, kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể.

Phân loại kỹ năng ra sao? Có nhiều cách phân loại kỹ năng khác nhau. Nếu xét theo tổng quan thì kỹ năng phân ra làm 3 loại: Kỹ năng chuyên môn, kỹ năng sống và kỹ năng làm việc. Nếu xét theo liên đới chuyên môn: kỹ năng cứng, kỹ năng mềm và kỹ năng hỗn hợp. Theo tính hữu ích cộng đồng: hữu ích và phản lợi ích xã hội. Cần nói thêm rằng kỹ năng mềm hay kỹ năng sống cũng chỉ là một nhóm kỹ năng với tên gọi khác nhau. Chúng ta cũng nhận thấy rằng kỹ năng mềm hay kỹ năng sống là những nhóm kỹ năng thiết yếu giúp cho chủ thể tồn tại và thăng hoa trong cuộc sống.  Bất cứ một kỹ năng nào được hình thành nhanh hay chậm, bền vững hay lỏng lẻo đều phụ thuộc vào khát khao, quyết tâm, năng lực tiếp nhận của chủ thể, cách luyện tập và tính phức tạp của chính kỹ năng đó.

2. Cảm xúc là gì?

Cảm xúc là sự rung động về một mặt nhất định của con người đối với các hiện tượng nào đó của hiện thực. Cảm xúc có đặc điểm là mang tính chất chủ quan.

Cảm xúc hay xúc cảm là một hình thức trải nghiệm cơ bản của con người về thái độ của chính mình đối với sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, với người khác và với bản thân. Sự hình thành cảm xúc là một điều kiện tất yếu của sự phát triển con người như là một nhân cách.

Chúng ta lựa chọn thái độ, và thái độ làm nên con người. Thái độ sống tạo nên tất cả

Như vậy, Cảm xúc là tập hợp những phản ứng tự nhiên được bộ não phát ra – một cách tự động – để giúp cơ thể và tâm trí chuẩn bị hành động thích hợp – khi cảm giác phát hiện ra điều gì đó – đang xảy ra liên quan đến chúng ta.

Cảm xúc là một loại virút của tinh thần, chúng ta là người tạo ra nó, bị lây nhiễm và chịu tác động bởi nó. Không một loại xúc cảm tình cảm nào có thể tồn tại mãi ở một trạng thái cả: có giai đoạn cao trào, có giai đoạn lắng xuống. Cảm xúc thường thoát khỏi kiểm soát của nhận thức bản thân (Bản chất của cảm xúc – Nguyễn Nam Trung).

Người nghệ sĩ cầm máy ảnh, để có được những tác phẩm ảnh đều phải bắt nguồn từ những cảm xúc. Không có ngành nghệ thuật nào muốn sáng tạo mà không đòi hỏi sự có mặt của cảm xúc. Rõ ràng cảm xúc là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên giá trị một tác phẩm ảnh.

Ngôn ngữ sinh hoạt cũng thể hiện cảm xúc rất rõ như trong các câu ca dao:

Mình về có nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.

Câu ca dao là lời nhân vật “ta” nói với “mình” về nỗi nhớ nhung, bịn rịn. Hoàn cảnh nói rất có thể là vào một đêm chia tay giã hội. Ngôn từ đ­ược sử dụng trong câu ca dao này khá thân mật và dân dã (mình, ta, chăng, hàm răng).

Tính cảm xúc: câu ca dao thể hiện rất rõ cảm xúc bịn rịn, luyến l­ưu, nhung nhớ. Những từ ngữ biểu hiện trực tiếp những cảm xúc này là: Mình… có nhớ ta, ta nhớ…

2.1. Đặc điểm của cảm xúc

Cảm xúc là những rung cảm mạnh mẽ và rõ rệt hơn, mang tính khái quát hơn và được chủ thể ý thức rõ hơn so với màu sắc cảm xúc của cảm giác.

Các rung động cảm xúc thể hiện tiêu biểu là rung động cảm xúc tốt hoặc xấu, tức là mang sắc thái thoải mái hoặc không thoải mái.

2.2. Phân loại cảm xúc

cảm xúc âm tính: cảm xúc xấu. âm tính tạo ra những chất độc hại, có tác dụng xấu đến quá trình trao đổi chất của cơ thể, làm tắc nghẽn các dòng dẫn truyền tín hiệu thần kinh, làm rối loạn vòng tuần hoàn máu và dưỡng khí

cảm xúc dương tính: những cảm xúc là các loại tiết tố được tạo ra sẽ tác động có ích cho cơ thể

cảm xúc trung tính: trạng thái cảm xúc bình thường này chiến phàn lớn thời gian trong cuộc sống của bạn. Trong trạng thái này, tất cả các cơ quan đều hoạt động bình thường, tạo cho chúng ta cảm giác “mọi việc đều ổn”, tốc độ dẫn truyền các tím hiệu thần kinh được duy trì ở mức đạt tiêu chuẩn theo nhu cầu của cơ thể. Cảm xúc trung tính giúp bạn nhận thức được sự hoạt động bình ổn của cơ thể và đây là trạng thái cân bằng về tinh thần và năng lượng.

3. Quản lý cảm xúc là gì ?

Quản lý cảm xúc là khả năng hiểu và quản lý cảm xúc của bạn, và của những người xung quanh. Những người có một mức độ trí tuệ cảm xúc cao thường hiểu rõ cảm giác của người khác, từ đó cảm xúc của họ cũng có thể tác động đến người khác.

4. Trí tuệ cảm xúc là gì?

Thuật ngữ công việc cảm xúc và lao động cảm xúc lần đầu tiên được giới thiệu bởi nghiên cứu sinh Arlie Hochschild vào năm 1983 trong luận án của mình. Sáu năm sau các nghiên cứu bắt đầu tập trung vào các biểu hiện cảm xúc và tầm quan trọng của nó trong tâm lý học tổ chức.

Năm 1990, Peter Salovey và John Mayer đã đưa ra thuật ngữ “trí tuệ cảm xúc” (Emotional Intelligence). Trí tuệ cảm xúc được hiểu là: sự hiểu biết về các xúc cảm, làm chủ các xúc cảm, tự thúc đẩy, biết nhận biết cảm xúc của người khác, làm chủ những mối liên hệ của con người. Ngày nay trí tuệ cảm xúc được đánh giá bằng chỉ số EQ (Emotional Quotient).

Steve Mcshane và Mary Ann Von Glinow cho rằng trí tuệ cảm xúc chính là khả năng của con người có thể nhận thức và biểu lộ cảm xúc, đồng hóa cảm xúc trong tư tưởng thông suốt, lý luận với cảm xúc và điều hợp cảm xúc cho bản thân và những người xung quanh.

Còn theo Howard Gardner, cha đẻ của thuyết “Đa trí tuệ” thì trí tuệ cảm xúc là khả năng đọc cảm xúc (tôi đang thực sự cảm thấy những cảm xúc gì?) và hiểu cảm xúc (tại sao tôi cảm thấy cảm xúc này? Nó đang ở mức độ nào) của bản thân hay của người khác. Ông nhận định: “IQ không phản ánh được sự đa dạng của trí thông minh và cũng không cho thấy sự tương quan giữa trí thông minh với vô số cách ứng xử của trí tuệ có thể quan sát được trong cuộc sống”. 

Sau 7 năm, Peter Salovey và John Mayer kết luận rằng trí tuệ cảm xúc bao gồm bốn quá trình tâm thần là:

– Tri giác: Nhận thức và chỉ ra các cảm xúc;

– Hiểu: Hiểu biết cảm xúc của mình và người khác;

– Đồng hóa: Lồng ghép cảm xúc vào các khuôn mẫu tư duy;

– Quản lý: Quản lý và kiểm soát cảm xúc.

Trí tuệ cảm xúc bao gồm khả năng tiếp nhận đúng, đánh giá và thể hiện cảm xúc, khả năng đánh giá và phân loại những cảm xúc giúp định hướng suy nghĩ, khả năng hiểu và điều khiển, định hướng cảm xúc nhằm gia tăng sự phát triển cảm xúc và trí tuệ – P. Salovey và John Mayer.

Năm 1995, thuật ngữ trí tuệ cảm xúc (EQ) đã được phổ biến bởi nhà tâm lý học Daniel Goleman, với cuốn sách “Trí tuệ xúc cảm” bán chạy nhất của ông về chủ đề này. Năm 1998, Goleman xuất bản tiếp cuốn sách “Trí tuệ xúc cảm – Ứng dụng trong công việc” để đáp ứng sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp. Từ đây, thuật ngữ “EQ” đã trở thành một cụm từ phổ biến.

Nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc ở nơi làm việc của Goleman cho thấy kết quả là sự hoàn thiện về năng lực cảm xúc dẫn đến kết quả cao trong hoạt động lao động ở nơi làm việc. Năng lực cảm xúc đó được Goleman chia thành hai loại.

Hai kỹ năng phía trên, nhận thức về bản thân và làm chủ bản thân, nói về bản thân bạn nhiều hơn. Điều này bao gồm sự tự nhận thức, tự điều chỉnh và động lực.

Hai kỹ năng phía dưới, nhận thức về xã hội và làm chủ các mối quan hệ, chú trọng đến cách bạn tương tác với người khác, bao gồm sự đồng cảm và kỹ năng xã hội có mục đích.

Bốn kỹ năng này kết hợp với nhau tạo thành trí tuệ cảm xúc.

Trí tuệ cảm xúc là khả năng giám sát các cảm giác và cảm xúc của bản thân và của người khác, khả năng phân biệt chúng và khả năng sử dụng các thông tin nhằm định hướng suy nghĩ và hành động của mình – Daniel Goleman.

Trí tuệ cảm xúc là sự kết hợp giữa sự nhạy cảm về cảm xúc có tính chất tự nhiên với các kỹ năng quản lý cảm xúc có được do tự học hỏi, nhằm giúp con người đạt được hạnh phúc trong cuộc sống – H. Steve.

Trí tuệ cảm xúc là một tổ hợp các chức năng phi nhận thức và những kỹ năng chi phối năng lực của cá nhân nhằm đương đầu có hiệu quả với những đòi hỏi và sức ép của môi trường – Bar-On.

Qua các định nghĩa về trí tuệ cảm xúc của các nhà tâm lý học chúng ta thấy trí tuệ cảm xúc có điểm chung là khả năng hiểu rõ cảm xúc bản thân và thấu hiểu cảm xúc của người khác. Người có trí tuệ cảm xúc biết giữ sự cân bằng giữa tình cảm và lý trí. Trên cơ sở tham khảo nhiều định nghĩa, xem xét bản chất trong từng trường hợp, có thể định nghĩa:

Trí tuệ cảm xúc là khả năng nhận biết các cảm giác, cảm xúc của bản thân và của người khác, trên cơ sở đó mà có khả năng làm chủ bản thân và thấu hiểu cảm xúc của người khác nhằm định hướng suy nghĩ và hành động của mình, đồng thời làm chủ mối quan hệ bền vững.

Vai trò của trí tuệ cảm xúc

  1. Vai trò của trí tuệ cảm xúc trong việc hình thành hành động

Sự tác động qua lại giữa chủ thể với hoàn cảnh trong đó cảm xúc là động lực ứng xử còn tri giác, vận động và trí tuệ là cấu trúc hóa các ứng xử đó.

Các cảm xúc khác nhau ngoài việc mang sắc thái thoải mái hay không thoải mái còn thể hiện mức độ kích thích hay làm dịu.

J.Piaget cho rằng: mỗi ứng xử bao hàm hai mặt: mặt năng lượng và mặt nhận thức, mặt năng lượng là do cảm xúc tạo ra, còn  nhận thức là kết quả của trí tuệ. Theo Vưgôtxki trong tư duy ngôn ngữ cho rằng việc phân tích một ý nghĩ nào đó chỉ đúng khi phát hiện ra được bình diện động cơ, xu hướng, cảm xúc và nhu cầu.

Cảm xúc là nhân tố mang năng lượng cho ứng xử. Bất cứ một ứng xử nào đều bắt nguồn từ cảm xúc. Ngay cả ứng xử theo thói quen cũng xuất phát từ những cảm xúc, nhưng vì lặp đi lặp lại trở thành thói quen nên thường không nhận ra.

Tóm lại, mọi hành động trí tuệ đều có sự tham gia của cảm xúc. Cảm xúc thâm nhập vào từ các hoạt động tri giác, đến việc lựa chọn các thao tác và ra quyết định trí tuệ. Mức độ ảnh hưởng này rất rộng lớn, từ những cảm xúc đơn giản, đến tình cảm phức tạp và cuối cùng là sự tham gia của những linh cảm trực giác hết sức thú vị và diệu kỳ.

  1. Trí tuệ cảm xúc có vai trò thúc đẩy hoặc kìm hãm hành động

Cảm xúc để định hướng hành động: cảm xúc là động lực thúc đẩy hoặc kìm hãm hành động. Vì vậy, việc sử dụng cảm xúc để điều khiển hành vi là một trong những thành phần quan trọng trong trí tuệ cảm xúc.

Nhiều nghiên cứu khẳng định vai trò nhận thức, định hướng, điều khiển làm thay đổi cảm xúc trí tuệ trong hoạt động và giao tiếp, khả năng thấu cảm của trí tuệ có ý nghĩa to lớn, có mối quan hệ giữa sự thấu cảm với hành vi cá nhân, thấu cảm như thế nào sẽ có hành vi tương ứng như vậy.

Cảm xúc tích cực là động lực cho hành động và suy nghĩ của mỗi người và ngược lại. Mọi hoạt động của chúng ta không chỉ đơn thuần do bộ não điều khiển mà còn có sự chỉ đạo của cảm xúc.

Những hoạt động đó hoặc hứng thú vui vẻ hoặc chán nản miễn cưỡng. Chính vì vậy, trí tuệ cảm xúc có vai trò rất lớn đối với hoạt động trong đời sống thường ngày.

  1. Đối với bản thân

Trong gia đình, dù mọi người đều hiểu nhau nhưng không phải ai cũng thân thiết với nhau, chính sự quan tâm và biểu lộ cảm xúc của bạn là nhân tố quan trọng để gắn chặt tình cảm gia đình.

Trí tuệ cảm xúc của bố mẹ, anh chị và em có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ nhỏ. Nhiều nghiên cứu cho biết, nếu bố mẹ luôn quát nạt và nóng nảy thì trẻ nhỏ trong gia đình luôn sống trong cảm giác sợ sệt, lo lắng, không an toàn. Trong công việc, trí tuệ cảm xúc vô cùng cần thiết, đặc biệt là xu hướng làm việc dựa trên sự thương lượng và đàm phán. Người có trí tuệ cảm xúc biết cách thể hiện tình cảm có khả năng điều khiển thích nghi cho phép họ hoạt động tốt hơn.

Sự phân biệt được cảm xúc của người khác là điều cơ bản trong mối quan hệ với mọi người, người có thể nắm bắt được cảm xúc của mình đồng thời biết kiềm chế nó, sẽ hiểu được cảm xúc của người khác tốt hơn. Khả năng này được gọi là sự đồng cảm. Một tính chất quan trọng nữa của trí tuệ cảm xúc là khả năng tập trung tình cảm vào những mục đích mà họ muốn đạt được. Người có trí tuệ cảm xúc biết giữ sự cân bằng giữa tình cảm và lý trí. Trí tuệ cảm xúc giúp bạn làm chủ cảm xúc của mình, trong hoàn cảnh nào thì bộc lộ cảm xúc và bộc lộ ở những mức độ như thế nào; khi nào thì phải kìm giữ nó trong lòng.

  1. Đối với suy nghĩ

Trí tuệ cảm xúc dẫn đường cho suy nghĩ. Vai trò cảm xúc dẫn đường cho chúng ta trong những tình huống khẩn cấp cần phải đưa ra quyết định. Đó là những lúc ta không có điều kiện hay thời gian để suy nghĩ vì thời gian quá gấp hoặc tình thế mà bạn chưa từng trải qua trong đời.

Mỗi xúc cảm có một dấu ấn sinh học đặc trưng; nó chi phối bằng việc đưa tới một loạt các biến đổi trong cơ thể cùng lúc phát ra một tập hợp tín hiệu một cách tự động.

Cuộc sống con người chúng ta phần lớn là do các cảm xúc nảy sinh và chi phối, chất lượng của cảm xúc ảnh hưởng đến chất lượng của tư duy và chất lượng tư duy quyết định chất lượng suy nghĩ của chúng ta.

Trong khi đó, nguồn lương thực cho tâm trí chính là suy nghĩ của chúng ta, những suy nghĩ ấy sẽ quyết định phẩm chất trong các mối liên hệ, đến cách thức chúng ta xử lý những tình huống khó khăn trong cuộc sống.

  1. Đối với sức khỏe

Trí tuệ cảm xúc còn có vai trò đối với sức khỏe của mỗi cá nhân. Việc kìm chế cảm xúc làm cho bạn bình tĩnh hơn và tránh được một số bệnh do xúc động quá mạnh. Ví dụ: Khi nóng giận quá mức dễ dẫn đến tai biến mạch máu não, buồn phiền quá mức sẽ ảnh hưởng đến dạ dày…

Việc nhận biết cảm xúc của mình và điều chỉnh chúng một cách hợp lý trong cuộc sống sẽ giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn và trên hết là tránh được bệnh tật. 

5. NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CẢM XÚC

Bí mật thành công không phải là những gì mà bạn được dạy ở trường học. Thứ quan trọng nhất không phải là chỉ số IQ, không phải bằng đại học quản trị kinh doanh, thậm chí không phải bí quyết kinh doanh hay nhiều năm trải nghiệm. Yếu tố duy nhất và quan trọng nhất để thành công trong sự nghiệp đó là trí tuệ cảm xúc. Năng lực cảm xúc là các kỹ năng thực tế dựa trên trí tuệ xúc cảm nhằm đem lại hiệu quả trong công việc.

Theo GS Daniel Goleman, một nhà tâm lý học Mỹ, có năm đặc điểm chính cấu thành nên trí tuệ cảm xúc:

  1. – Tự nhận thức – Hiểu rõ chính mình;
  2. – Tự điều chỉnh – Kiểm soát bản thân;
  3. – Động lực – Giàu nhiệt huyết;
  4. – Đồng cảm – Biết cảm thông;
  5. – Kỹ năng xã hội – Kỹ năng giao tiếp.

Là một người lãnh đạo, bạn càng quản lý tốt từng yếu tố trên bao nhiêu thì mức độ trí tuệ cảm xúc của bạn càng cao. Vì vậy, chúng ta hãy xem xét từng yếu tố một cách chi tiết hơn và xem xét làm thế nào bạn có thể phát triển trí tuệ cảm xúc như một nhà lãnh đạo giỏi. Sau đây là năm đặc điểm chính cấu thành nên trí tuệ cảm xúc mà cũng là các yếu tố được các nhà tuyển dụng tìm kiếm phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

5.1. Tự nhận thức – Hiểu rõ chính mình (Self-Awareness)

Tự nhận thức là khả năng bạn nhận biết một cách chính xác về cảm xúc của mình ngay khi nó xảy ra và hiểu mình có khuynh hướng làm gì trong tình huống đó. Tự nhận thức bao gồm việc kiểm soát được những phản ứng thông thường của bản thân đối với những sự việc, thách thức và đối tượng cụ thể. Hiểu biết thấu đáo về khuynh hướng của bản thân đóng vai trò rất quan trọng; nó giúp bạn nhanh chóng nắm bắt được cảm xúc của mình.Tự nhận thức đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với thành tích cá nhân, có đến 83% những người có mức độ tự nhận thức cao là những người đứng đầu về hiệu suất công việc, và chỉ có 2% những người có kết quả làm việc kém lại có khả năng tự nhận thức cao mà thôi. Tại sao lại có chuyện như vậy? Khi bạn biết tự nhận thức, nhiều khả năng bạn theo đuổi đúng cơ hội hơn, bạn biết cách vận dụng thế mạnh của mình vào công việc và có lẽ điều quan trọng nhất không để cho cảm xúc cản trở mình.

Từ xưa đến nay, nhiều người vẫn nghĩ theo một quan điểm sai lầm rằng tâm lý học chỉ nhằm mục đích chữa bệnh, thế nên chúng ta cho rằng thời điểm duy nhất nhìn lại bản thân là lúc phải đối mặt với khủng hoảng. Chúng ta có xu hướng chấp nhận những gì mình cảm thấy thoải mái và che đậy những thứ khiến ta cảm thấy bất an. Nhưng thật ra, một bức tranh toàn cảnh mới cho ta thấy rõ mọi thứ. Càng hiểu rõ về mặt tốt đẹp và mặt hạn chế bao nhiêu thì chúng ta càng phát huy tiềm năng của mình tốt hơn bấy nhiêu.

Nói cách khác, tự nhận thức là cảm nhận rõ ràng về nhân cách, điểm mạnh, điểm yếu, tư duy, niềm tin, động lực và cảm xúc. Tự nhận thức cũng cho phép bạn hiểu về người khác, cách họ cảm nhận về bạn cũng như thái độ và phản hồi của bạn. Sự tự nhận thức là cơ sở nhận biết một cách chính xác và hỗ trợ tất cả các năng lực tư duy cảm xúc. Nó phải có trước, bởi nếu không hiểu bản thân và cảm xúc của mình, làm sao chúng ta có thể biết và hiểu cảm xúc của người khác như thế nào?

5.1.1. Tự đánh giá chính xác bản thân

Đó là cảm nhận một cách trung thực về điểm mạnh và hạn chế của bản thân, một cái nhìn rõ ràng về những điểm mà chúng ta cần cải thiện và khả năng rút kinh nghiệm cho bản thân. Nên nhớ rằng người duy nhất có thể làm tổn thương bạn là chính bản thân bạn. Nếu có ai làm tổn thương bạn sâu sắc chỉ vì bạn đã cho phép người đó làm vậy mà thôi. “Luôn luôn mơ và nhắm cao hơn khả năng của bản thân. Đừng bận tâm tới việc làm tốt hơn những người đương thời hay những người đi trước. Hãy cố để tốt hơn chính mình”– William Faulkner. Tiếp thu những phản hồi vô tư, có những mục tiêu mới học tập không ngừng và tự phát triển bản thân.

5.1.2. Những “điểm mù” bản thân và “điểm mù” của nhà lãnh đạo

Đây là định nghĩa “điểm mù”: “một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống của một người nào đó mà ở đó, họ liên tục bị thất bại trong việc nhìn nhận bản thân hoặc tình huống của mình một cách thực tế. Sự vô thức này thường gây ra những hậu quả to lớn cho chính bản thân người đó và những người xung quanh họ”.

Những “điểm mù” bản thân bao gồm:

Bất cứ ai cũng có “điểm mù”,  ngay cả những nhà lãnh đạo tài giỏi nhất. “Điểm mù” tức là bản thân không nhận ra khiếm khuyết của mình nhưng người khác thì thấy rất rõ. Nếu không nhanh chóng khắc phục, các “điểm mù” này sẽ gây hại rất lớn cho bản thân lẫn các hoạt động giao tiếp xã hội.

– “Mù” tham vọng tức là chiến thắng bằng mọi giá; phóng đại giá trị và sự cống hiến chính mình;

– Mục tiêu không thực tế tức đặt ra tham vọng quá cao với mục tiêu mà tổ chức không thể đạt được;

– Sự tàn nhẫn là bắt mọi người làm việc chăm chỉ mà không quan tâm đến nhu cầu và quyền lợi của họ;

– Chiếm đoạt quyền lực là tìm kiếm sức mạnh cho bản thân hơn là tổ chức;

– Bệnh thành tích là luôn tìm kiếm những cơ hội gây ấn tượng với người khác.

Một vài “điểm mù” thường thấy ở người lãnh đạo

Đó là những hành vi bất lợi mà ta không biết nhưng người khác lại thấy rõ. “Mù” trong cách cư xử để lại những hậu quả tai hại dù ta không cố ý: phá hỏng quyết định, giảm tầm hiểu biết, gây thù nghịch, chia rẽ ngấm ngầm, phá hoại sự nghiệp, tạo ra kết quả xấu. Để trở thành nhà quản lý thành công, bạn phải học cách nhận ra những “điểm mù” sau:

(1) Tầm nhìn hạn hẹp: “Nếu thứ công cụ duy nhất mà bạn có là cây búa, bạn thường có khuynh hướng nhìn nhận mọi vấn đề như một chiếc đinh”- Larry Stephens. Những nhà lãnh đạo thường vạch định chiến lược và định hướng hành động theo bản năng có thể dẫn đến sai sót. Điều quan trọng là người lãnh đạo phải bước lùi lại, mặc cho vấn đề mới nảy sinh, rồi tìm ra giải pháp tốt nhất để xử lý.

(2) Chia sẻ gánh nặng: nếu bạn có khuynh hướng tự mình gánh mọi gánh nặng cuộc sống và vô tình loại trừ người khác: đồng đội, gia đình, thì bạn phải biết rằng đó chính là điểm mù của bạn. Thật ra, xử sự như vậy khiến người khác tức giận, phẫn nộ và cảm thấy bị coi thường. Thay vì giao quyền cho toàn đội thì bạn lại từ chối sự ủng hộ, giúp đỡ của người khác, không nhờ cậy, không chia sẻ áp lực, căng thẳng, lo âu, tách biệt mọi người và rút lui khỏi đám đông, suy nghĩ và quyết định mà không để tâm đến người khác.

(3) Sự thiếu tự tin: những biểu hiện của sự lãnh đạo thiếu tự tin là cảm thấy khó khăn khi khen thưởng người khác; bí mật tích trữ thông tin; cảm thấy bị đe dọa bởi sự tăng trưởng của người khác… Hãy nhớ rằng, tự tin là đức tính tốt nhưng tự tin thái quá sẽ dẫn đến những sai lầm lớn. Trong những năm qua, chúng ta  thường đã nghe các nhà đầu tư thú nhận họ không nhận lời khuyên của bất kỳ nhà kế hoạch tài chính, một chuyên gia hay tổ chức chuyên nghiệp nào, mọi quyết định đầu tư đều dựa vào nhận xét của riêng họ.

(4) Cái tôi không thể kiểm soát: kẻ thù số một của người lãnh đạo là cái tôi không thể kiểm soát. John Ruskin đã nói rằng: “Sự kiêu hãnh nằm ở đáy của mọi sai lầm nghiêm trọng”. Giống như sự thiếu tự tin, tính kiêu căng cũng khiến người lãnh đạo chỉ nghĩ về bản thân mình, hơn là những người mà họ dẫn dắt. Đó là sự trái lập của tính khiêm nhường. Một người lãnh đạo kiêu ngạo thường đổ lỗi, hay phủ nhận, bảo thủ và cứng nhắc. Điều này khiến tinh thần những người theo sau người lãnh đạo ấy bị suy giảm.

(5) Nỗi sợ hãi đối diện: các nhà quản lý thường có nỗi sợ đối diện với những phản ứng tiêu cực, rắc rối tình cảm, mâu thuẫn leo thang hay đánh mất mối quan hệ. Nhiều người lo lắng về việc kiện cáo, hoặc tìm cách nào đó để chỉ bộc lộ thái độ không vừa lòng của mình ở mức ít nhất.

Khi tránh né những cuộc đối thoại khó khăn, bạn chẳng làm được điều gì tốt cho ai cả. Mọi người bối rối về những thông điệp lẫn lộn của bạn. Họ không biết vì sao mình không được thăng tiến trong khi không ai trao đổi thẳng thắn với họ về những việc họ làm. Họ nghĩ bạn không để ý, còn người khác nhìn vào sẽ thấy bạn chẳng quan tâm.

(6) Thiếu tính cách riêng: Nhiều người có tài năng có thể khiến bản thân mình được mọi người chú ý đến. Việc thiếu vắng cá tính mạnh mẽ sau cùng cũng sẽ khiến tài năng bị lu mờ. Bởi vì, người ta không thể vượt qua được những giới hạn tính cách của chính mình. Để phát triển tính cách đó, trước hết bạn cần phải nhận được nó đã không hiện hữu trong cuộc sống của bạn và điều bạn cần làm là so sánh những gì bạn nói với những việc bạn làm. Nếu chúng không tương thích nhau điều đó chứng tỏ bạn bị thiếu tính cách.

 (7) Đổ lỗi cho người khác hoặc cho hoàn cảnh: thường viện lý do bào chữa cho một sai lầm của bản thân, xem thường người khác, luôn bảo thủ và không xem trọng ý kiến chỉ trích, phê bình của người khác. Đây là biểu hiện của tinh thần thiếu trách nhiệm với chính mình, là không dám nhìn thẳng vào sự thật. Hãy tự hỏi liệu cách ứng xử của mình có góp phần dẫn đến thất bại. Can đảm thừa nhận mình cũng có phần trách nhiệm. Hãy tự thay đổi bản thân chứ không phải yêu cầu người khác thay đổi.

(8) Không xem trọng các cam kết: không thực hiện hoặc thực hiện trễ nải, luôn trốn tránh để không phải thực hiện cam kết, dễ dãi đưa ra cam kết mà không hề có ý định thực hiện chúng. Khi mọi người không tin tưởng vào cam kết của bạn, họ sẽ mất lòng tin và xem thường mọi lời nói của bạn. Điều nguy hiểm là nhân viên sẽ học kiểu “hứa cuội” như bạn. Môi trường làm việc sẽ trở nên dễ dãi, chấp nhận trăm ngàn lý do cho những thất bại trong kinh doanh, từ đó hoạt động kém hiệu quả. Luôn nói rõ ràng điều bạn cam kết và điều bạn không thể hứa được. Nếu đã cam kết, bạn phải kiên quyết thực hiện đúng thời hạn.

(9) Suy nghĩ tiêu cực về người khác: những đánh giá tiêu cực về người khác, thể hiện sự thất vọng hay bất đồng ý kiến mà không nói thẳng thắng, luôn xem mọi người ở phe đối nghịch. Khi bạn có thái độ thù địch với người khác, bạn sẽ bị cho là không trung thực, lừa dối và không đáng tin cậy, thậm chí yếu kém. Người ta sẽ không còn tin tưởng bạn và luôn tự hỏi bạn đã nói xấu gì về họ. Hành vi này của bạn sẽ phá tan mọi mối quan hệ và bạn sẽ không còn có thể gây ảnh hưởng đối với người khác. Ngay lúc bạn nhận ra mình đang nuôi những ý nghĩ thù địch với người khác, thì hãy ngừng lại ngay. Sẵn sàng xin lỗi và đính chính với thái độ tích cực, thành tâm và nói chuyện thẳng thắn với người mà bạn đã có xích mích. Bởi vì, quy luật về sự thay thế nói rằng: “Tâm trí của bạn có thể chứa đựng một suy nghĩ trong một khoảng thời gian, tích cực hoặc tiêu cực. Bạn có thể thay thế một suy nghĩ tiêu cực bằng một suy nghĩ tích cực bất cứ khi nào bạn chọn”.

Tóm lại, những “điểm mù” trên có thể là chướng ngại vật cuối cùng trên con đường lãnh đạo của bạn. Nếu không nhanh chóng khắc phục, các “điểm mù” sẽ gây tác hại lớn cho doanh nghiệp cũng như việc kinh doanh của bạn.

5.1.3. Sự hiểu biết chính xác và trung thực

Tự nhận thức không phải là khám phá bí mật thầm kín hoặc những động cơ vô thức mà là phát triển một sự hiểu biết chính xác và trung thực về điểm mạnh của bản thân. Những người có khả năng tự nhận thức cao là những người đặc biệt hiểu rõ về những gì họ làm tốt, những gì thôi thúc và khiến họ thỏa mãn.

Một điều đáng ngạc nhiên về tự nhận thức là chỉ cần nghĩ về nó thôi đã đủ giúp bạn cải thiện kỹ năng, cho dù thoạt đầu bạn có khuynh hướng tập trung vào những gì bạn làm “sai”. Đạt được khả năng tự nhận thức có nghĩa là bạn không còn sợ “sai lầm” trong cảm xúc nữa.

Chúng ta có xu hướng chấp nhận những gì mình cảm thấy thoải mái và che đậy những thứ khiến ta cảm thấy bất an. Nhưng thật ra, một bức tranh toàn cảnh mới sẽ cho ta thấy càng hiểu rõ về mặt tốt đẹp và mặt hạn chế bao nhiêu thì chúng ta càng phát huy toàn bộ tiềm năng của mình tốt bấy nhiêu.

Để quản lý bản thân hiệu quả, bạn cần có kỹ năng tự nhận thức. Tự nhận thức cho phép bạn hiểu rõ người khác và cách thức người khác cảm nhận về bản thân bạn, từ đó giúp bạn nâng cao kỹ năng làm việc đồng đội. Một doanh nghiệp với những nhân viên và người quản lý có kỹ năng tự nhận thức tốt sẽ hoạt động hiệu quả hơn do họ vừa có khả năng làm việc độc lập, vừa có khả năng làm việc đồng đội tốt.

Ngoài ra, nhận thức đúng về điểm mạnh, điểm cần cải thiện của bản thân và của nhân viên sẽ giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp phát huy toàn diện năng lực của mình và nhân viên, đồng thời có kế hoạch đào tạo, phát triển phù hợp. Doanh nghiệp cần chú trọng đào tạo kỹ năng tự nhận thức cho nhân viên bởi nó không chỉ giúp ích cho bản thân nhân viên mà còn tạo động lực để họ phát huy hết năng lực của mình, đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp.

5.1.4. Hiểu rõ chính mình

Hiểu rõ bản thân không những giúp bạn kiểm soát cảm xúc tiêu cực mà còn giúp bạn nhận ra điểm mạnh, điểm yếu để phát triển bản thân theo hướng tích cực. Thấu hiểu chính bản thân là cả một quá trình nỗ lực liên tục. Khả năng nhận thức và khả năng minh định hỗ trợ rất nhiều trong việc thấu hiểu bản thân.

Trong câu chuyện “Thầy bói xem voi”, vì không có khả năng quan sát và tiếp nhận thông tin đầy đủ mà những thầy bói mù này có nhận thức và kết luận hoàn toàn sai lệch so với thực tế. Thông thường chúng ta cũng vậy, khi không thấu hiểu bản thân và những vấn đề xung quanh rồi lại nóng vội lựa chọn nên thường dẫn những kết quả không mong đợi. 

Số lượng và chất lượng của mô thức cũng cực kỳ quan trọng ảnh hưởng đến quá trình nhận thức. Giả sử khả năng quan sát và tiếp nhận thông tin rất tốt, những thông tin mà ta tiếp nhận đưa vào bộ não là chính xác, nhưng do chúng ta thiếu mô thức hay mô thức không chính xác thì nhận thức của chúng ta cũng sẽ lệch lạc dẫn đến chúng ta không thể thấu hiểu bản thân một cách trọn vẹn.

Để được thành công, hạnh phúc và giàu có thì việc đầu tiên và vô cùng quan trọng đó là phải thấu hiểu bản thân. Các bạn cần làm những việc sau đây để hiểu rõ bản thân và định hướng tương lai một cách phù hợp và hiệu quả.  

Một là, tự đánh giá bản thân

Quá trình để thấu hiểu bản thân là quá trình tự vấn, tự đặt câu hỏi. Ta là ai? Ta sinh ra trên đời này để làm gì? Tính cách, thái độ ra sao? Niềm đam mê của ta là gì? Kỹ năng, kiến thức, điểm mạnh ở đâu, đã làm được gì và muốn cống hiến gì cho cuộc sống? Ý chí, lòng quyết tâm, dám đương đầu để vượt qua khó khăn, thử thách, có dám mạo hiểm và có sẵn sàng trả giá khi thất bại?… Bên cạnh đó cũng nên tự vấn những thói quen chưa tốt. Ta có thắng được bản thân mình không? Có kỷ luật bản thân và luôn thực hiện đúng với những gì đã tự hứa hay thường xuyên nhượng bộ, khi không vượt qua nổi sức ì rồi tìm lý do thoái thác? Sau mỗi lần thất bại có quyết tâm hơn hay buông xuôi miễn cưỡng? Bên cạnh thấu hiểu bản thân cũng nên thấu hiểu về các nguồn lực, tình hình tài chính, hoàn cảnh của những người thân, các mối quan hệ sẵn có để quyết định lựa chọn tương lai một cách phù hợp nhất.

Hai là, lắng nghe ý kiến người thân:

Bản chất con người là luôn tự đánh giá bản thân cao hơn những gì vốn có. Chính vì thế, lắng nghe ý kiến đóng góp, nhận xét của người thân là điều vô cùng quan trọng và cần thiết trong quá trình thấu hiểu bản thân mình. Khi lắng nghe phải giữ cái tâm thật bình thản và sẵn sàng đón nhận thông tin một cách khách quan nhất. Không để những định kiến, những cố chấp, bảo thủ hay những yếu tố bên ngoài tác động vào những gì nhận xét, đánh giá của người thân và hiểu theo hướng lệch lạc. Dĩ nhiên phải phân tích phán xét dựa trên cơ sở khoa học chứ không tin một cách tuyệt đối. Có người khi nghe người khác khen thì cứ nghĩ rằng: “Ta đây là số một ”; nhưng khi bị chê thì lại bi quan nghĩ rằng: “Mình là đồ bỏ đi”. Trong quá trình thu thập thông tin để thấu hiểu bản thân thì những thông tin của người thân là để bổ sung thêm kiến thức, cơ sở dữ liệu để bạn ra quyết định chứ không phải là yếu tố quyết định trong việc lựa chọn, định hướng cho tương lai. 

Ba là, quan sát những người xung quanh có cùng đam mê sở thích

Để thấu hiểu bản thân thì không chỉ tập trung vào bản thân mà còn phải quan tâm đến những người có cùng đam mê sở thích. Đánh giá tài năng và những gì họ đã làm được. Xem xét họ đã đi đến đâu so với vạch xuất phát. Mục đích của việc xem xét, đánh giá những người xung quanh không phải để chạy đua với họ mà để thiết lập mục tiêu cho bản thân mình. Luôn luôn tìm kiếm con đường khác thông minh và hiệu quả hơn. Khi con đường này đã đóng thì lập tức con đường khác sẽ mở ra. Khi quan sát những người xung quanh và thường xuyên tự ngẫm để thấu hiểu bản thân mình, bạn sẽ thấy được những thuận lợi cũng như khó khăn trên con đường mà bạn sẽ lựa chọn.

Bốn là, nâng cao khả năng quan sát và khả năng minh định

Khả năng quan sát quyết định rất nhiều trong vấn đề nhận thức và thấu hiểu bản thân. Có một câu chuyện khá hay về bài học khả năng quan sát:

“Vị giáo sư nọ dẫn một đoàn bác sỹ chuẩn bị ra trường đến một trại phong và yêu cầu, bất kỳ ông làm điều gì họ phải quan sát và làm theo nếu không sẽ bị rớt môn kỹ năng quan sát. Trên đường đi các bác sỹ tự nhủ với bản thân: “Mình là bác sỹ nên kỹ năng quan sát là vô cùng quan trọng”. Chính vì thế, khi đi quan sát cơ sở vật chất và thiết bị của trại, tất cả các bác sỹ quan sát khá chi tiết và ghi chép hết sức cẩn thận.

Khi đến thăm một bệnh nhân khá nặng, toàn thân bị lở loét và có nhiều con giòi. Các bác sỹ rất cố gắng, nhưng cũng cảm thấy e ngại mặc dù vẻ mặt cũng tỏ ra bình thường. Bất ngờ vị giáo sư chấm vết mủ rồi mút. Các bác sỹ thật sự dao động mạnh, lo lắng không biết làm sao, điều này quá khủng khiếp, nhưng nếu không làm theo thì bị rớt. Chính vì thế, tất cả phải nhắm mắt làm theo, chấm rồi mút. Kết quả: là tất cả bị rớt vì khả năng quan sát không tốt. Thật ra vị giáo sư chấm ngón giữa nhưng mút ngón trỏ, các bác sỹ bị tác động bởi môi trường xung quanh “các vết mủ, lở loét, nhiều giòi,…”

Do ảnh hưởng tâm lý nên các bác sỹ đã không quan sát đầy đủ. Chúng ta cũng vậy quan sát điều gì cũng đừng để định kiến, cố chấp và các yếu tố bên ngoài tác động làm ảnh hưởng đến bản chất của nó.

Để thấu hiểu bản thân một cách trọn vẹn, nên thường xuyên chất vấn bản thân tại sao, tại sao và tại sao? Khi chúng ta lựa chọn hay quyết định một vấn đề nào đó. Tất cả đều dựa vào bản chất, dựa vào nguyên tắc chứ không dựa vào cảm tính hay các yếu tố tác động từ bên ngoài. Luôn giữ một cái tâm trong sáng và cái đầu minh định. Luôn phân biệt được đúng sai, phải trái, tốt.


Có phải đã có những lúc bạn đang cảm thấy vui vẻ, nhưng bất chợt bạn cảm thấy “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” không? Hay đã bao giờ bạn bắt đầu một ngày mới cảm thấy cực kỳ yêu đời nhưng chẳng bao lâu sau, bạn không còn “chút lửa”, mất hẳn động lực làm việc chưa? Tại sao lại như vậy?

Khi bạn không quản lý cảm xúc của bạn một cách có nhận thức, não bộ của bạn sẽ “chạy tự động” và chuyển bạn vào các cảm xúc khác nhau. Tệ hơn nữa, sau một thời gian lặp đi lặp lại, nhiều cảm xúc trở thành thói quen cố hữu của bạn. Việc này giải thích tại sao nhiều người vẫn cảm thấy buồn ngủ và không tỉnh táo cho dù đã ngủ được bảy tám giờ trước đó. Hoặc có những người khi bước vào công ty, nhìn thấy núi việc chồng chất là cảm thấy nản chí và chỉ muốn bỏ việc ngay lập tức. Tất cả những thói quen cảm xúc giới hạn này đã được lập trình sẵn trong tiềm thức của bạn và do các kết nối nơ-ron tạo ra. Bây giờ thì bạn đã hiểu tại sao nhiều người than vãn là họ không quản lý được cảm xúc và cuộc sống của họ rồi chứ?

Bên cạnh đó, nhiều người cho phép những sự kiện bên ngoài chi phối cảm xúc bản thân. Ví dụ như khi hàng hóa bán chạy, họ vui vẻ, tự tin và cố gắng làm việc nhiều hơn. Khi cửa hàng ế khách, họ nản lòng, buồn phiền đến nỗi phải đóng cửa. Khi có ai đó lắng nghe họ tâm sự, khích lệ họ, họ cảm thấy phấn khởi và bắt tay vào hành động. Nhưng ngay khi có người nhận xét tiêu cực về họ, họ lại quay lại tâm trạng đau buồn và mất động lực phấn đấu lúc đầu.

Những người này có khuynh hướng “đẩy trách nhiệm”. Họ đổ thừa cho người khác hay hoàn cảnh là nguyên nhân khiến họ luôn ở trong tâm trạng tồi tệ. “Anh ta làm tôi buồn, tôi không thể làm được gì cả”, “Chuyện đó xảy ra làm tôi không còn cảm thấy tự tin nữa” hay “Sếp tôi không biết cách động viên tôi đúng mức”.

Có phải những người thành công lúc nào cũng cảm thấy lạc quan là vì họ luôn được “trời đất phù hộ” nên gặp những chuyện vui vẻ, may mắn không? Có phải ít khi nào họ gặp khó khăn trở ngại trong cuộc sống không? Có phải họ luôn có người ở bên cạnh động viên an ủi họ không? Có phải họ thường đạt được mục tiêu và chẳng biết đến thất bại là gì không? Dĩ nhiên là không phải vậy. Những người thành công vẫn có thể gặp phải những chuyện tồi tệ bên ngoài như bao người khác, điểm khác biệt nằm ở chỗ họ duy trì được cảm xúc tích cực bên trong cho dù chuyện gì xảy ra đi nữa. Những cảm xúc tích cực này tiếp tục thúc đẩy họ hành động nhiều hơn cho đến khi họ đạt được kết quả mong muốn.

Tại sao những người thành công làm được điều này? Đó là vì họ chịu trách nhiệm cho cảm xúc của họ và biết cách điều khiển cảm xúc bản thân một cách có nhận thức. Những người trung bình, mặt khác, luôn cho rằng cảm xúc của mình liên tục bị những thói quen xấu và môi trường xung quanh kiểm soát.

Cho nên, ngay từ bây giờ, bạn hãy bắt đầu làm chủ cảm xúc của mình và học cách liên tục đặt bản thân vào những cảm xúc tích cực để giúp bạn đạt được hiệu quả làm việc tối đa. Để làm được điều này, việc đầu tiên mà bạn cần phải hiểu là… chính bạn tạo ra cảm xúc của mình.

✪ Các cảm xúc phổ biến của một người học giỏi cũng như thành công:

1/ Động lực mạnh mẽ

2/ Đam mê

3/ Tự tin

4/ Vui vẻ

5/ Phấn khởi

6/ Tràn đầy sinh lực

7/ Tò mò

Nếu chỉ số IQ chỉ chiếm 25% trong sự thành đạt thì chỉ số EQ lại chiếm đến 75% sự thành đạt và hạnh phúc của một con người.

Vì thế, hãy “làm chủ” cảm xúc trước khi chúng “quản lý” chúng ta. Những cảm xúc tiêu cực thường gặp như: thất vọng, cáu gắt, lo lắng, bồn chồn, tức giận… Sự thất vọng thường xuất hiện khi chúng ta rơi vào tình huống tiến thoái lưỡng nan, cảm thấy bế tắc, không thể giải quyết được vấn đề, hoặc quá nhiều áp lực có thể dẫn đến lo lắng thái quá… Khi có những cảm xúc tốt, chúng ta sẽ có những tương tác tích cực; và ngược lại, những cảm xúc không tốt sẽ hướng chúng ta đến những hành động tiêu cực.

✪ Một số phương pháp điều khiển và kiểm soát cảm xúc tiêu cực như:

– Không phản ứng vội.

– Nhận định lại tình hình.

– Thay đổi trọng tâm chú ý.

– Thể hiện cơn nóng giận thích hợp.

– Cần 15 phút bình tĩnh.

– Hít thở sâu.

– Xuống giọng khi nói.

– Nên bắt đầu bằng câu: “Tôi cảm thấy…”, “Tôi nghĩ là…”

✪ Và 5 chiến lược tăng cường cảm xúc tích cực:

– Đừng làm vơi cảm xúc tích cực.

– Thắp sáng những điều tốt đẹp: chú ý những ưu điểm, mặt tốt của vấn đề.

– Kết nối tình thân với những người lạc quan, yêu đời.

– Cho không vụ lợi.

– Hãy cư xử với người khác như những gì họ mong muốn ở bạn.

✪ Như vậy, chìa khoá mấu chốt cho việc kiểm soát những vấn đề trên là:

– Nguyên tắc “Tại và Hiện” (Here and Now): Sống trọn vẹn từng giây phút của hiện tại, không hoài niệm quá khứ cũng chẳng lo lắng về tương lai; xác định “Muốn và Cần”, bởi những điều chúng ta “muốn” chưa chắc đã là những điều chúng ta “cần”; không quá phấn khích trước những lời khen và giữ bình tĩnh ứng xử với những lời chỉ trích; thay vì thay đổi người khác thì trước hết, ta nên thay đổi chính mình.

– “Hạnh phúc tại tâm”: Ước muốn và khao khát của tất cả mọi người là được hạnh phúc, nhưng thực tế, đối với nhiều người, cuộc đời chẳng có gì đáng vui! Như vậy, phải tìm kiếm hạnh phúc ở đâu? Niềm vui, hạnh phúc không nhất thiết phải đến từ bên ngoài, cũng chẳng nhất thiết phụ thuộc vào tác động của ngoại cảnh. Hạnh phúc không ở đâu xa mà xuất phát từ chính trong mỗi người chúng ta. Do đó, “đừng đem đau khổ cho người khác và cũng đừng nhận đau khổ từ ai”.

– Mặc dù cảm xúc là tự nhiên nhưng chúng ta có thể quản lý nó trước hết bằng cách thay đổi suy nghĩ, từ đó sẽ thay đổi và chuyển hóa cảm xúc. Tư duy tích cực sẽ tạo ra cảm xúc tích cực. “10% cuộc đời là những gì xảy đến với bạn, còn 90% còn lại là do phản ứng của bạn đối với những chuyện xảy đến đó”. Bản chất sự việc là bất biến, duy chỉ có một điều chúng ta có thể thay đổi được chính là thay đổi suy nghĩ, cách nhìn nhận của bản thân đối với sự việc đó theo chiều hướng tích cực.

“Ta không thể thay đổi được chiều gió nhưng ta có thể thay đổi được hướng buồm”.


5 cách rèn luyện kỹ năng kiểm soát cảm xúc

1. Điều chỉnh các hành động cơ thể

Ở những tình huống khó khăn khiến cảm xúc của bạn trở nên tiêu cực, thì cần phải học cách kiểm soát nó tức thời. Kiểm soát cảm xúc để trở lại trạng thái cân bằng cảm xúc bằng cách điều chỉnh một số hành động cơ thể đơn giản như:

  • Thả lỏng người: Quan sát và cảm nhận cơ thể xem căng thẳng ở đâu thì thả lỏng phần cơ thể đó. Bạn có thể mở lòng bàn tay, thả lỏng vai, buông căng cứng cơ chân. Xoay cổ và nắm mở tay. Thả lỏng cơ bắp cơ thể sẽ rất hiệu quả để xoa dịu tâm trí, thư giãn và kiểm soát cảm xúc hiệu quả.
  • Hít thở sâu để giữ bình tĩnh: Nhận thấy cảm xúc của bạn vượt quá kiểm soát, hơi thở bị loạn nhịp khiến bạn căng thẳng và lo lắng. Chấm dứt cảm xúc này bằng cách hít thở sâu để thư giãn tinh thần.

2. Kiểm soát cảm xúc bằng trí tuệ

Con người vượt trội hơn hẳn các loài động vật khác bởi con người có trí tuệ. Con người có khả năng điều khiển cảm xúc của mình thông qua trí tuệ. Trí tuệ cảm xúc giúp bạn có suy nghĩ để điều chỉnh và quản lý cảm xúc để đưa đến ứng xử, hành động. 

Để kiểm soát cảm xúc tốt thì nên nhìn người khác bằng thái độ tích cực, tránh những cảm xúc tiêu cực để tránh bị cảm xúc này dẫn lối hành vi của mình. Nhận biết về những ưu điểm, phẩm chất tốt của người đối diện để học tập tích lũy cho bản thân mình. Ví dụ như: Bạn bị sếp la mắng và bắt làm lại bản báo cáo lớn, vì thế bạn rất bực bội, khó chịu. Tuy nhiên, nghĩ lại tích cực hơn sẽ là cơ hội để bạn hoàn thành bản báo cáo tốt hơn, giá trị hơn.

3. Kiểm soát cảm xúc bằng cách sử dụng ngôn từ

Nhiều người có thói quen than vãn về những khó khăn, căng thẳng gặp phải. Tuy nhiên, bạn nên bỏ ngay thói quen này bởi nó sẽ mang đến cảm xúc tiêu cực cho chính bản thân mình. Loại bỏ ngay những từ ngữ “kể khổ”, mà liên tục sử dụng những ngôn từ động viên, thúc đẩy tinh thần để sống một cách tích cực hơn. Sử dụng những ngôn ngữ tích cực không chỉ giúp đẩy cảm xúc của bản thân bạn, mà còn giúp bạn duy trì cảm xúc cho cuộc giao tiếp. 

Ví dụ: Bạn và đồng nghiệp đang có những tranh luận nảy lửa do bất đồng ý kiến. Bạn thấy ý kiến của đồng nghiệp đó không phù hợp, thiếu tính thực tế tuy nhiên tránh dùng những ngôn ngữ chê bai tệ hại gây căng thẳng và cảm xúc tiêu cực. Lúc đó, trao đổi một cách dễ nghe hơn như: “Ý kiến này không tệ chút nào.

Mình thích ý tưởng của bạn ở điểm này…., tuy nhiên điều này chưa phù hợp lắm thì phải”. Ở góc độ tán thành và lời khuyên tích cực thì chắc chắn sẽ dễ dàng thương lượng và tránh những tranh cãi không đáng có. Thay đổi từ ngữ khi giao tiếp dễ chịu hơn, hòa nhã hơn sẽ giúp bạn kiểm soát được những tình huống giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày. 

4. Kiểm soát cảm xúc tiêu cực 

Cảm xúc tiêu cực sẽ khiến bạn mất kiểm soát cảm xúc. Vì vậy, chọn cảm xúc tích cực thay vì tiêu cực sẽ giúp bạn kiểm soát cảm xúc hiệu quả hơn. 

Loại bỏ những cảm xúc tiêu cực bằng cách dừng ngay việc đổ lỗi, phán xét tiêu cực về người khác. Can đảm nhận sai lầm, không bào chữa cho lỗi lầm của bản thân. Làm gia tăng cảm xúc tích cực bằng cách sử dụng nhiều lời khen, bỏ đi những lời chỉ trích tiêu cực.

5. Tự tin để kiểm soát cảm xúc

Cảm xúc là bản năng của con người. Tuy nhiên, cảm xúc có thể kiểm soát bởi lý trí. Khi xảy ra những cảm xúc, bạn có thể chọn hành vi cư xử. Người thiếu tự tin sẽ dễ bị rơi vào cảm xúc tiêu cực dẫn đến bi quan, tức giận vô cớ. Người tự tin có khả năng đương đầu khó khăn nên sẽ kiểm soát được cảm xúc của bản thân. Có được sự tự tin trong mọi tình huống giao tiếp, bạn sẽ không bị ảnh hưởng bởi những đánh giá, phán xét của người khác, từ đó lạc quan và năng lượng trong cảm xúc.

Bạn có thể tự rèn luyện sự tự tin của bản thân bằng các cách sau đây:

  • Dáng vẻ và ngôn ngữ cơ thể tự tin.
  • Trong giao tiếp, không lảng tránh ánh mắt của người đối diện giúp bạn được yêu mến và tin tưởng hơn.
  • Thử thách bản thân ở những việc bạn chưa từng làm, ở mọi tình huống, mọi lĩnh vực. Không lo sợ điều mới lạ.
  • Vượt qua nỗi sợ thất bại, hãy nghĩ đến thành công khi làm bất cứ điều gì.

Ví dụ điển hình cho sự tự tin đến từ cuộc đời của vị tỷ phú Bill Gates. Ông tự tin vào năng lực của bản thân để bỏ ngang sự nghiệp học hành ở trường Đại học Harvard để theo đuổi ước mơ trở thành kỹ sư chế tạo phần mềm máy tính. 

Kiểm soát cảm xúc là một kỹ năng khó. Vì thế, hãy rèn luyện bản thân từng ngày để kiểm soát được cảm xúc của chính mình, suy nghĩ tích cực để sống hạnh phúc và thành công hơn. 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây