Phương Pháp Dạy Học Phù Hợp Với Não Bộ

101

Bài 1: Khám phá cơ chế học tập của bộ não

Hình ảnh cho thấy một tế bào thần kinh với một thân cây giống như khoáng vật hình cây (dendrite), mỗi hình dạng tam giác chạm vào dendrite đại diện cho một khớp thần kinh, nơi mà đầu vào từ các tế bào thần kinh khác được gọi là gai đến (hình dạng nguệch ngoạc). Các khớp thần kinh xa hơn trên cây đuôi gai của cơ quan tế bào yêu cầu một tần số gai tăng cao hơn (gai đến gần nhau hơn trong thời gian) và xung điện đến với nhịp điệu thời gian ở các khoảng thời gian chính xác để tạo ra khả năng học tập tối đa.

Bộ não của chúng ta học tập thông qua những thay đổi trong sức mạnh của các khớp thần kinh, là các kết nối giữa các tế bào thần kinh, để phản ứng lại kích thích. Một “nhịp điệu” tối ưu của bộ não hoặc tần số, có tác dụng làm thay đổi sức mạnh của khớp thần kinh. Và hơn nữa, giống như các trạm trên đồng hồ dò tần số radio, mỗi khớp thần kinh từng được điều chỉnh đến một tần số tối ưu khác nhau cho việc học tập.

Một sự thay đổi trong sức mạnh của một khớp thần kinh trong phản ứng với kích thích được biết đến như dẻo khớp thần kinh gây ra thông qua cái gọi là “chuỗi gai”, hàng loạt các tín hiệu thần kinh xảy ra với tần số khác nhau và thời gian. Thí nghiệm trước đây chứng minh rằng khi các tế bào thần kinh được kích thích ở một tần số rất cao (ví dụ, 100 gai mỗi giây) sẽ làm tăng cường các khớp thần kinh kết nối, trong khi kích thích ở tần số thấp thì sức mạnh kích thích khớp thần kinh (ví dụ, một trong những cành mỗi giây) bị suy giảm.

Những thí nghiệm này trước đó đã sử dụng hàng trăm gai liên tục trong phạm vi tần số rất cao để tạo ra độ dẻo. Tuy nhiên khi bộ não được kích hoạt trong thực thi hành vi đời thực, tế bào thần kinh chỉ có khoảng 10 gai liên tiếp, không phải vài trăm. Và các nhà nghiên cứu làm như vậy ở một tần số thấp hơn nhiều, thường trong phạm vi 50 gai mỗi giây.

Nói cách khác, Mehta cho biết: “việc gia tăng tần số của gai, đề cập đến tốc độ nhanh như thế nào khi các gai chuyển giao. 10 gai có thể được chuyển giao tại một tần số của 100 gai trong 1 giây hoặc ở tần số của một gai trong một giây”.

Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã không thể tiến hành các thí nghiệm ở mức độ mô phỏng tự nhiên. Nhưng Mehta và đồng tác giả Arvind Kumar, tiến sĩ thực tập và là cựu đồng nghiệp, làm việc trong phòng thí nghiệm của Mehta, đã có thể có được những phép đo lần đầu tiên sử dụng một mô hình toán học phức tạp mà họ phát triển và hợp thức hóa với các dữ liệu thử nghiệm.

Trái ngược với những giả định trước đây, Mehta và Kumar nhận thấy là nếu nói đến kích thích các khớp thần kinh với các mô hình gai xuất hiện tự nhiên, kích thích các tế bào thần kinh ở các tần số cao nhất không phải là cách tốt nhất để tăng cường sức mạnh khớp thần kinh.

Ví dụ, một khớp thần kinh được kích thích với chỉ 10 đột biến ở một tần số 30 gai mỗi giây, nó gây ra một sự gia tăng sức mạnh lớn hơn nhiều so với kích thích khớp thần kinh với 10 gai ở tần số 100 gai mỗi giây.

“Kỳ vọng, dựa trên nghiên cứu trước đây, nếu bạn điều chỉnh khớp thần kinh ở một tần số cao hơn, hiệu quả cho việc tăng cường khớp thần kinh, hoặc là việc học tập, sẽ là tốt nhất, khi tần số thấp hơn tự nhiên”, Mehta cho biết. “Trước sự ngạc nhiên của chúng tôi, chúng tôi nhận thấy rằng vượt quá tần số tối ưu, tăng cường khớp thần kinh thực sự từ chối các tần số cao hơn”.

Các kiến ​​thức mà một khớp thần kinh có một tần số ưu tiên cho việc học tập tối đa mà các nhà nghiên cứu so sánh tần số tối ưu dựa trên vị trí của khớp thần kinh trên một tế bào thần kinh. Các tế bào thần kinh có hình dạng như rừng cây, với các hạt nhân cơ sở là cây, các tinh thể nhánh cây giống như các ngành rộng lớn và các khớp thần kinh giống như những chiếc lá trên các chi nhánh.

Khi Mehta và Kumar so khớp thần kinh học tập dựa trên nơi các khớp thần kinh được đặt vào các ngành (nhánh cây) có đuôi gai, những gì họ tìm thấy là quan trọng: tần số tối ưu để lôi kéo học tập của khớp thần kinh, thay đổi tùy thuộc vào nơi các khớp thần kinh nằm. Xa các khớp thần kinh là từ thân tế bào của tế bào thần kinh, cao hơn tần số tối ưu của nó.

Mehta cho biết: “Thật kinh ngạc, khi nói đến học tập, tế bào thần kinh hoạt động như một ăng-ten khổng lồ, với các ngành (nhánh cây) khác nhau của tinh thể nhánh cây điều chỉnh tần số khác nhau cho việc học tập tối đa”.

Các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng không phải chỉ mỗi khớp thần kinh có một tần số ưa thích để đạt được học tập tối ưu, mà còn cho hiệu quả học tập tốt nhất, tần số này cần phải được hoàn toàn theo nhịp điệu với thời gian ở các khoảng thời gian chính xác. Ngay cả ở tần số tối ưu, nếu không theo nhịp điệu đã được phát ra thì việc học tập khớp thần kinh là giảm đáng kể. Nghiên cứu của họ cũng cho thấy rằng một khi một khớp thần kinh học tập, cần thay đổi tần số tối ưu của nó. Nói cách khác, nếu tần số tối ưu cho một khớp thần kinh ngây thơ – một trong những khớp thần kinh đã chưa học được bất cứ điều gì nói rằng: 30 gai trong một giây, sau khi học tập, cùng một khớp thần kinh sẽ học tối ưu ở một tần số thấp hơn, nói rằng: chỉ 24 gai mỗi giây Vì vậy, việc học tập chính nó làm thay đổi tần số tối ưu cho một khớp thần kinh.

Việc học tập này do quá trình “lệch hướng” có ý nghĩa quan trọng đối với điều trị các rối loạn liên quan đến triệu chứng quên, chẳng hạn như rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý, các nhà nghiên cứu cho biết.

Mặc dù việc nghiên cứu nhiều hơn nữa là cần thiết, các kết quả hiện tại cho thấy rằng: nhiều loại thuốc có thể được phát triển để lên “dây cót” nhịp điệu não của những người bị rối loạn học tập hoặc bộ nhớ, hoặc rằng: nhiều người trong chúng ta có thể trở thành Einstein hoặc Mozart nếu nhịp điệu não tối ưu đã được giao cho mỗi khớp thần kinh.

Mehta cho biết: “Chúng ta đã biết có những loại thuốc và kích thích điện có thể làm thay đổi nhịp điệu não”.

“Những phát hiện của chúng tôi cho thấy chúng ta có thể sử dụng những công cụ này để cung cấp các nhịp điệu não tối ưu để nhắm mục tiêu kết nối để tăng cường khả năng học tập”.

Bài 2: BA TRỤ CỘT CỦA NÃO BỘ

  1. HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ NÃO

1.1. Ý thức kiểm duyệt và kiềm chế hành vi thúc đẩy bởi vô thức

Khi mắt chúng ta nhìn thấy một món hàng quý giá thì vô thức luôn thôi thúc, xúi dục chúng ta đánh cắp để chiếm đoạt món hàng đó bỏ vào túi bất chấp có bị bắt hay không. Hành vi thúc đẩy bởi vô thức còn gọi là hành vi theo bản năng. Nếu chúng ta có ý thức tức chúng ta dựa trên những quy tắc học được từ nhà trường và cuộc sống để biết rằng hành vi đánh cắp món hàng đó là sai thì ý thức buộc chúng ta bỏ ngay ý định bất chính đó. Một thí dụ khác là khi bạn đang làm việc tại công ty và cảm thấy đói bụng khiến bạn muốn đi ra ngoài để mua thức ăn. Nhưng nhờ ý thức được trách nhiệm của mình và những hậu quả có thể xảy ra nếu mình bỏ ngang công việc để đi ăn khiến chúng ta ngồi lại và tiếp tục làm việc. Thế thì vô thức thôi thúc chúng ta thỏa mãn dục vọng cho bản ngã (bản năng), nhưng ý thức giúp ta nhận thức thế nào là đúng, thế nào là sai.

1.2. Vô thức là nền tảng của ý thức

Nhiều nhà nghiên cứu đã có cùng quan niệm rằng phần lớn tư duy của con người được bắt đầu từ vô thức bởi vì vô thức là nền tảng của ý thức. Trong đó, biết bao kinh nghiệm, ký ức, tiềm năng đã được chất chứa trong cái kho vô thức. Họ lý luận rằng vô thức bao giờ cũng có trước vì đó là tiềm năng bẩm sinh mà ai cũng có, nhưng vấn đề là nó có được đánh thức hay không và đánh thức ở mức độ nào. Vì vậy, ý thức là cái có sau, được hình thành qua quá trình sống và phụ thuộc vào nhiều hoàn cảnh môi trường của cuộc sống. Sau cùng, các nhà phân tâm lý học kết luận rằng “Vô thức và ý thức liên quan mật thiết với nhau, thiếu một trong hai đều dẫn tới tư duy què quặt. Nhưng quan trọng nhất là vô thức đóng vai trò thiết yếu trong quá trình sáng tạo của con người, góp phần tạo nên các thiên tài, vĩ nhân, thần đồng trong mọi lãnh vực từ âm nhạc, hội họa, kiến trúc, khoa học cho đến tâm linh…”

Trẻ em phần lớn sống bằng vô thức, rồi lớn lên thì ý thức đóng góp dần dần vào tiến trình tư duy của các em. Khoa học lý luận rằng vô thức đã có từ khi con người còn nằm trong bụng mẹ. Vì thế khi sinh ra có những người rất giỏi về nhiều bộ môn khác nhau là như vậy. Khi lớn lên chúng ta đi học và có thêm nhiều ý thức, những ý thức đó dần trở thành vô thức thông qua các hoạt động lặp đi lặp lại từ lúc nào không biết.

1.3. Ý thức và vô thức chuyển hoá lẫn nhau

Nhiều trẻ nhỏ thường đòi cha mẹ mua cho những món đồ chơi bằng được. Nếu không thì chúng giận dỗi, khóc lóc… Như vậy hành động đòi mua quà của trẻ nhỏ là vô thức bởi vì nó không thể ý thức được hành vi của nó mà chỉ muốn thỏa mãn bản ngã lúc đó mà thôi. Nhưng khi lớn lên, nó ý thức được vấn đề, biết lý do vì sao nó thích món đồ đó và biết cân nhắc có nên mua hay không.

Do vậy, giữa ý thức và vô thức không có một ranh giới rõ ràng nào cả. Chúng luôn chuyển hóa lẫn nhau.

1.4. Tiềm thức và ý thức hoạt động đan xen nhau  

Các nhà khoa học đã tính toán được thời gian ra quyết định của ý thức là 25/1.000 giây, thời gian ra quyết định của tiềm thức là 7/1.000 giây. Ta có thể thấy tiềm thức quyết định nhanh gấp 4 lần ý thức và nó chiếm 80% quyết định của chúng ta hàng ngày.

Đối với mỗi người, tiềm thức chứa một sức mạnh rất lớn, nó là toàn bộ những thói quen của chúng ta. Từ nhỏ đến lớn chúng ta quan sát và học hỏi hành động của những người xung quanh chúng ta và biến những thứ quan sát và học hỏi được thành những thói quen mà sau này chúng ta cũng sẽ hành động giống như họ thông qua thói quen của mình. Bởi đơn giản là chúng ta sao chép họ.

Một ví dụ cho thấy tiềm thức chiếm 80% quyết định của chúng ta là khi chúng ta khát nước và não bộ ra quyết định chúng ta cầm cốc nước để uống. Ra quyết định cầm cốc nước để uống là ý thức quyết định để giải quyết vấn đề khát nước. Thế nhưng quá trình cầm cốc nước để uống lại là cả một quá trình ra quyết định tiếp thu phản hồi và chỉnh sửa liên tục của tiềm thức. Bạn cứ thử nghĩ xem tại sao bạn lại đưa được cốc nước lên miệng mà không cần phải suy nghĩ và quá trình này xảy ra rất nhanh. Để hiểu được điều này bạn cứ thử nhắm mắt và cầm cốc nước uống xem. Để thấy đó là cả quá trình chúng ta đưa tay ra cầm cốc nước và mắt chúng ta liên tục quan sát để làm sao giúp não bộ điều chỉnh cho cánh tay đưa ra chính xác hướng cốc nước để cầm và sau đó là cả quá trình quan sát từ mắt và điều chỉnh của não bộ để đưa cốc nước lên miệng chúng ta. Cái hay là não bộ của chúng ta phải xử lý rất nhiều nhưng chúng ta gần như không hề cảm nhận được nó hay nói chính xác phần ý thức của chúng ta không hề cảm nhận được quá trình đó. Bởi tất cả là do phần tiềm thức đảm nhiệm.

Từ đây chúng ta có thể thấy tiềm thức và ý thức trong một tình huống cụ thể có thể hoạt động đan xen nhau. Nhưng không bao giờ tham gia hoạt động cùng nhau. Khi ý thức hoạt động thì tiềm thức học hỏi chứ không tham gia cùng. Và khi tiềm thức hoạt động thì ý thức có thể nghỉ ngơi giám sát tiềm thức hoặc suy nghĩ về một vấn đề hoặc một tình huống khác.

Có thể nói cơ chế hoạt động của tiềm thức là: Tất cả những gì bạn từng trải qua, từng được nghe, thấy, ngửi,… (dù chỉ một lần), hay là những cảm xúc,… đều được não bộ ghi nhớ hay nói cách khác: tiềm thức ghi nhớ tất cả những trải nghiệm của cuộc đời chúng ta. Những gì chúng ta đã từng nhìn thấy, cảm nhận hay những việc chúng ta đã từng làm – những điều tốt và xấu, những niềm vui và nỗi đau. Tất cả đều được lưu trữ trong tiềm thức. Chúng ta cũng có thể tìm được trong ngân hàng ký ức khổng lồ này những niềm tin, quan điểm và truyền thống văn hóa của mình.

Như vậy sẽ rất nguy hiểm nếu như tiềm thức của chúng ta học được một cái gì đó không tốt bởi nó hoạt động mà gần như chúng ta không thể ý thức được. Rất tồi tệ nếu như chúng ta đang làm gì đó xấu mà chúng ta lại không ý thức được chúng ta đang làm nó.

Bài học rút ra là: Tiềm thức của chúng ta có một sức mạnh rất lớn tuy nhiên nó lại tiếp thu một cách không có chọn lọc. Thế nên chúng ta phải chọn lọc những thông tin, niềm tin, giá trị tích cực cho não bộ của chúng ta. Và tránh xa những thứ tiêu cực.

  1. BỘ NÃO CON NGƯỜI VÀ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

Ai cũng biết chúng ta học tập thông qua bộ não của mình và ba trụ cột chính của bộ não là ý thức, tiềm thức và vô thức. Trong đó, ý thức là những hoạt động có tổ chức của bộ não. Với ý thức, bạn có thể chấp nhận hay phản kháng lại bất kỳ ý tưởng nào. Ý thức là nhỏ bé và chỉ thể hiện được khoảng 1/6 khả năng trí tuệ của một người. Ý thức tạo ra trí nhớ ngắn hạn (khoảng 20 giây) và có khả năng xử lý từ 1 đến 3 sự việc cùng một lúc. Ý thức có khả năng xử lý trung bình 2.000 mẩu thông tin mỗi ngày. Khác với ý thức, tiềm thức là những hoạt động theo thói quen của bộ não. Tiềm thức chấp nhận ý tưởng hay sự việc một cách không phê phán. Tiềm thức hiện diện thường xuyên và vô tận. Tiềm thức tạo ra trí nhớ dài hạn và có khả năng xử lý hàng nghìn sự việc cùng một lúc. Tiềm thức có khả năng xử lý trung bình 4 tỷ mẩu thông tin mỗi ngày. Vô thức là những hoạt động theo bản năng của bộ não, được thừa hưởng từ tổ tiên (gen di truyền). Vô thức là nguồn năng lượng vạn năng thúc đẩy và điều khiển mọi hoạt động của con người. Hình ảnh trong vô thức có thể có cả quá khứ, hiện tại và tương lai nhưng chúng liên kết với nhau không theo quy luật hiện thực nào cả.

Có thể nói: Ý thức là loại phương tiện chậm chạp và cồng kềnh hơn nhiều so với tiềm thức. Tiềm thức có thể đưa chúng ta đến nơi chúng ta muốn đến, giúp chúng ta đạt được mục tiêu trong cuộc sống của mình một cách dễ dàng hơn so với ý thức. Còn vô thức thông qua sự quên giúp giảm sự quá tải trong đầu óc, trong việc xử lí thông, tin tức có khối lượng rất lớn diễn ra hàng ngày, lặp đi lặp lại mà vẫn đảm bảo độ chính xác, tránh căng thẳng, mệt mỏi đầu óc. Vì vậy, mục tiêu của chúng ta là phải làm sao sử dụng được phần lớn nguồn sức mạnh trong tiềm thức và vô thức để phục vụ cho quá trình học tập, phục vụ cho lợi ích của bản thân.

2.1. Học tập bằng ý thức

Thông qua ý thức chúng ta biết được rằng quá trình học tập là cần thiết, là quan trọng đối với mỗi con người. Học tập giúp chúng ta có kiến thức, kỹ năng… giúp chúng ta phát triển bản thân, có bằng cấp, có việc làm, ổn định kinh tế và có đời sống tốt hơn. Từ ý thức về học tập của bản thân từng người, các bậc cha mẹ đến ý thức của xã hội rộng lớn, chúng ta đã quyết định chọn con đường học tập là con đường bắt buộc đối với mọi người. Tập hợp của những người học tập bằng ý thức đã tạo nên một xã hội học tập như ngày nay mà mỗi chúng ta là một thành viên trong xã hội học tập này. Chúng ta đến trường lớp từ khi còn nhỏ, học tập bằng ý thức, duy trì và kéo dài việc học cho đến hết bậc học phổ thông, sau đó là cao đẳng, đại học, cao học và thậm chí nghiên cứu ở bậc tiến sỹ.

Học tập bằng ý thức trong một thời gian dài có thể làm cho người học không hứng thú với việc học, học theo kiểu đối phó, bỏ bê việc học, chán ghét việc học… và tỷ lệ thành công từ việc học là không cao. Câu hỏi ở đây là tại sao vậy?   

Câu trả lời khá đơn giản vì chúng ta học tập bằng ý thức mà ý thức thì nhỏ bé và xử lý chậm chạp với công suất thấp nên việc học lâu ngày sẽ dẫn đến tình trạng quá tải, căng thẳng, mệt mỏi…

2.2. Học tập bằng tiềm thức

Học tập bằng tiềm thức là việc sử dụng thói quen để học tập. Cách học này không gây quá tải, căng thẳng, mệt mỏi… như học bằng ý thức. Để thực hiện cách học này, bạn hãy sử dụng lời nói, âm thanh, hình ảnh, sự vật, sự kiện… liên quan đến những điều muốn dạy và học và lặp đi lặp lại thường xuyên, liên tục cho đến khi tiềm thức của người học tiếp nhận điều đó như một thói quen và kết quả đạt được thật mỹ mãn mà người học cũng không ý thức được rằng mình đang học. Ví dụ: nếu bạn muốn một đứa bé có thể hát được một bài hát bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh thì bạn hãy hát cho đứa bé nghe hoặc mở ti vi cho đứa bé xem và nghe bài hát đó thường xuyên, liên tục cho đến khi đứa bé có thể hát rất đúng và rất hay bài hát đó mà bản thân bé cũng không biết mình học hát khi nào.

Bằng cách học này chúng ta có thể giải thích vì sao ở các nước phát triển việc lái xe ô tô quá dễ dàng đối với mọi người. Vì khi em bé còn trong bụng mẹ, em đã cùng mẹ đi xe ô tô. Khi sinh ra em cũng nhìn thấy xe ôtô rất sớm và thường xuyên tiếp cận, sử dụng cho đến khi em lớn lên. Đến lúc trưởng thành em bé đó có thể lái xe ô tô một cách dễ dàng mà không cần đi học ở trường lớp nào vì em đã học lái xe, sử dụng xe qua tiềm thức hay thói quen từ rất lâu rồi.

Ví dụ khác là ở Việt Nam, nhiều sinh viên theo học ngành kinh doanh ở các trường đại học với tỷ lệ thành công trong kinh doanh sau khi tốt nghiệp không cao bằng những người có gia đình kinh doanh, buôn bán, cha mẹ là doanh nhân, tiểu thương vì những người này nhìn thấy, nghe thấy, tiếp cận việc kinh doanh, buôn bán, tính toán hàng ngày trong nhiều năm liền.

Mặt hạn chế của việc học bằng tiềm thức là người học tiếp nhận tất cả những gì xảy ra xung quanh mình mà không hề phê phán, chọn lọc nên họ có thể học được cái tốt cùng với cái không tốt trong cuộc sống. Để khắc phục hạn chế này, trong thực tế nhiều phụ huynh đã cố gắng tìm kiếm những môi trường học tập tốt cho con em mình kể cả các trường học tiên tiến trên thế giới. Trong gia đình, nếu bạn muốn con bạn biết hiếu thảo, hoà thuận, yêu thương thì chính bạn hãy thể hiện sự hiếu thảo, hoà thuận, yêu thương thông qua hành động thường ngày. 

2.3. Học tập bằng vô thức

Nếu như học tập bằng ý thức gây khó khăn và xác suất thành công không cao thì học tập bằng tiềm thức dễ dàng hơn và cũng dễ thành công hơn. Bên cạnh đó chúng ta còn có một cách học độc đáo hơn nữa đó là cách học thông qua vô thức hay học qua gen di truyền. Lấy ví dụ khi bạn muốn con mình giỏi tiếng Anh thì bạn có thể chọn một trong ba cách sau:

Học tiếng Anh theo cách như đa phần chúng ta đã học, học từ nhỏ đến lớn, học đến sợ tiếng Anh, chán ghét tiếng Anh mà vẫn chưa giỏi tiếng Anh. Đó là cách học tiếng Anh qua ý thức.

Học tiếng Anh theo cách cho đứa bé vào trường tiểu học quốc tế, trung tâm ngoại ngữ quốc tế hay gởi đứa trẻ qua định cư ở các quốc gia sử dụng tiếng Anh như Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc… Đây là cách học tiếng Anh qua tiềm thức.

Học tiếng Anh qua gen bằng cách kết hôn với người nói tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ và đứa bé sinh ra sẽ nói tiếng Anh một cách tự nhiên, lưu loát mà không cần học.

Học tập bằng vô thức là cách học quá dễ dàng và không tốn kém. Nếu bạn muốn con bạn có tố chất tốt thì chỉ cần bạn có tố chất tốt và truyền cho con qua gen. Cách học tập này giải thích được lý do tại sao người ta lại chọn lựa những người thông minh, xinh đẹp, cao ráo, nhanh nhẹn, giỏi giang, khéo léo… để kết hôn hay cưới dâu, kén rể. Vì họ muốn con cháu họ khi sinh ra có được những tố chất tốt đẹp đó qua gen.

Tóm lại: Có ba hình thức học tập tương ứng với việc sử dụng ba trụ cột chính của bộ não con người là ý thức, tiềm thức và vô thức. Trong đó, học tập bằng ý thức là hình thức học tập khó khăn, cực nhọc và tỷ lệ thành công không cao. Hình thức học tập bằng ý thức là hình thức học tập dành cho số đông người học. Học tập bằng tiềm thức là hình thức học tập dễ dàng hơn và dễ thành công hơn cách học bằng ý thức. Hình thức học tập bằng tiềm thức là hình thức học tập dành cho những người khôn ngoan. Còn học tập bằng vô thức là hình thức học tập quá dễ dàng và không tốn kém. Hình thức học tập bằng vô thức là hình thức học tập dành cho những người thông minh sáng suốt.

Bài 3: 

Sự khác biệt về chức năng của não phải và não trái được đánh giá bởi các hoạt động trí óc của mỗi bán cầu não. Bán cầu não trái là trung tâm điều khiển các chức năng trí tuệ như ghi nhớ, ngôn ngữ, lí luận, tính toán, sắp xếp, phân loại, viết, phân tích và các tư duy hồi quy. Các chức năng này bao gồm các kĩ năng và khả năng được coi là cần thiết để học tốt trong nhà trường. Các chức năng của não trái là các kĩ năng chủ yếu và quan trọng được trắc nghiệm trong các bài kiểm tra trí thông minh.

Các hoạt động tinh thần của bán cầu não trái và bán cầu não phải bao gồm:

  • Các hoạt động tinh thần của bán cầu não trái: Không gian, trí nhớ, ngôn ngữ, lời nói, con số, tính toán, sắp xếp, nối kết, phân loại, lí luận, phân tích. Có thể nói đây là những yếu tố của trí thông minh cụ thể. ­ 
  • Các hoạt động tinh thần của bán cầu não phải: Không gian, trực giác, ngoại cảm, tình cảm, thái độ, các phối hợp của cơ thể, năng lực thị giác không gian, nghệ thuật, cơ khí, nhịp điệu, âm nhạc vũ điệu, tổng hợp. Có thể nói đây là những yếu tố của sức sáng tạo ngẫu nhiên.

Theo kết quả mới nhất của các nhà tâm lí học, có bảy kiểu học tập đặc biệt. Điều này có nghĩa là để tối đa hóa những lợi điểm học tập, thì phải xác định kiểu học tập mà bản thân có, và cung cấp những bài học cho kiểu học tập đó.

  • ­ Kiểu học tập ngôn ngữ: Người học theo kiểu này thích đọc, viết và kể chuyện.
  • ­ Kiểu học tập logic: Người học theo loại này rất có khuynh hướng toán học.
  • ­ Kiểu học tập không gian: Đây là những người học có khả năng hình tượng hóa.
  • ­ Kiểu học tập âm nhạc: Người học kiểu này giỏi ghi nhận những chi tiết, âm sắc,
  • nhịp điệu mà người bình thường không thể nhận thấy được.
  • ­ Kiểu học tập cơ thể: Người học thường xuyên đi lòng vòng, cần phải sờ mó các
  • thứ và họ dùng ngôn ngữ không lời để chuyển tải tình cảm của mình.
  • ­ Kiểu học tập liên nhân cách: Người học kiểu này là những “con bướm giao tiếp”.
  • ­ Kiểu học tập nội nhân cách: Người học kiểu này có ý chí mạnh mẽ, học tập một
  • mình tốt nhất.

Như vậy, mỗi cá nhân đều có những yếu tố của từng kiểu học tập, nhưng trong

thực tế, thì chỉ có một hoặc hai kiểu học tập chiếm ưu thế trong mỗi cá nhân. Khi xác

định người học thuộc loại học tập nào và hình dung cách thức để phối hợp loại học tập

đó vào việc giảng dạy, có nghĩa là chúng ta đồng thời khuyến khích người học của

mình hình dung những loại học tập thay thế và hướng dẫn người học cách đưa từng loại

học tập vào cuộc sống. 

Bài 4: 

Bốn chiến lược học tập này chỉ là một vài ví dụ về cách học tập dựa trên não bộ có thể hoạt động trong các lý thuyết học tập nổi tiếng.

Học đa giác quan là một lý thuyết học tập sử dụng khoa học thần kinh để tiếp cận học sinh.  Bằng cách thu hút nhiều giác quan vào bài học của bạn, như xúc giác hoặc âm thanh, học sinh có thể hiểu và lưu giữ thông tin nhiều hơn. Chiến lược này có thể đặc biệt hữu ích cho những học sinh có khuyết tật về học tập, chẳng hạn như chứng khó đọc. 

Như đã đề cập trước đó, học tập dựa trên não bộ cũng phù hợp với học tập cảm xúc xã hội (SEL).  SEL đề cập đến cách một học sinh học cách quản lý suy nghĩ, cảm xúc và hành động của họ. Nếu bạn dạy học sinh những kỹ năng quản lý này trong lớp, bạn có thể giúp chúng tiếp cận những thách thức trong và ngoài trường học với một thái độ lành mạnh.

Một lý thuyết học tập cũ hơn và thường được tôn trọng trong lĩnh vực giáo dục là đa trí tuệ . Cũng như tư duy học tập dựa trên não bộ, lý thuyết đa trí thông minh giúp giáo viên nhớ rằng não của mỗi đứa trẻ đều khác nhau và có thể phản ứng tốt hơn với một số hoạt động nhất định. Tuy nhiên, bởi vì đa trí tuệ vẫn đang được nghiên cứu, điều này được sử dụng tốt nhất như một chiến lược quản lý lớp học chứ không phải là một thực tế khoa học thần kinh.

Cuối cùng, học qua trải nghiệm (còn được gọi là học “thực hành”) là một chiến lược khác được phát triển bằng cách sử dụng nghiên cứu nhận thức. Chiến lược này khuyến khích học sinh đưa các khái niệm đã học trên lớp vào bài kiểm tra, vừa thực hành vừa phản ánh chúng. Điều này có thể giúp học sinh phát triển các kỹ năng tư duy phản biện vượt xa một bài học duy nhất.

Bài 5: Các nguyên tắc học tập dựa trên não bộ

Có một số nguyên tắc học tập dựa trên trí não có thể giúp giáo viên cải thiện trải nghiệm học tập của học sinh.

Một cơ thể khỏe mạnh thúc đẩy một tâm trí khỏe mạnh

Việc học tập nên tham gia vào toàn bộ cơ thể. Điều này có nghĩa là ăn uống lành mạnh và tập thể dục nhiều hơn sẽ giúp não hoạt động hiệu quả hơn. Đưa các hoạt động nghỉ ngơi đi bộ hoặc vận động nhiều hơn vào các hoạt động trong lớp học cũng có lợi.

Cảm xúc là chìa khóa cho trí nhớ, ý nghĩa và sự chú ý

Một học sinh hạnh phúc có thể suy nghĩ hiệu quả hơn một học sinh không hạnh phúc. Do đó, khen ngợi tích cực là một công cụ hữu hiệu để nâng cao lòng tự trọng trong lớp học. Khi đồng tử cảm thấy có khả năng, chúng vẫn có động lực.

Tương tác với người khác có lợi cho sự phát triển trí não

Lập kế hoạch các dự án và hoạt động nhóm cả trong và ngoài lớp giúp học sinh học hỏi lẫn nhau. Hợp tác là một cách học hiệu quả cao.

Dạy nhau tăng trí nhớ

Những học sinh có cơ hội truyền đạt kiến ​​thức của riêng mình cho bạn bè của họ thấy rằng họ có thể lưu giữ nhiều thông tin hơn. Khuyến khích học sinh dạy lẫn nhau thúc đẩy học tập hiệu quả hơn.

Trí nhớ được cải thiện nhờ luyện tập

Bộ não có khả năng ghi nhớ thông tin, nhưng học qua thử và sai sẽ hiệu quả hơn vô cùng. Đặt câu hỏi cho sinh viên và tạo danh sách kiểm tra để sử dụng ngay sau khi dạy họ nội dung mới giúp họ lưu giữ thông tin đó.

Tránh các bài giảng dài

Chỉ 5-10% thông tin được truyền đạt trong một bài giảng được giữ lại chỉ sau một ngày. Thảo luận là một cách hiệu quả hơn để đảm bảo giữ chân người dùng.

Làm cho nó có ý nghĩa

Giáo viên cần thu hút sự chú ý của học sinh trong vòng 20 giây đầu tiên khi giới thiệu một chủ đề mới. Điều này đảm bảo rằng học sinh của họ có nhiều khả năng đưa thông tin vào bộ nhớ dài hạn của họ. Thu hút học sinh của bạn bằng một chủ đề có ý nghĩa và phù hợp. Ví dụ: làm cho một bài học về tỷ lệ phần trăm thú vị hơn bằng cách áp dụng các nguyên tắc mà họ đang học để tìm giảm giá trên điện thoại thông minh phổ biến hoặc bảng điều khiển trò chơi điện tử. Hoặc, nếu bạn đang dạy học sinh một khái niệm mới trong sinh học, hãy cân nhắc bắt đầu lớp học bằng một video YouTube vui nhộn và mang tính giáo dục để thu hút sự chú ý của họ.

Di chuyển thông tin từ trí nhớ ngắn hạn sang dài hạn

Một cách để đạt được điều này là yêu cầu học sinh dịch bài học thông qua chữ viết.

Sử dụng sự hài hước, kể chuyện, chuyển động và trò chơi

Điều này kích thích trung tâm cảm xúc của não, hạch hạnh nhân. Điều này giúp tiếp cận sinh viên một cách hấp dẫn hơn để não của họ có thể xử lý tài liệu mới hiệu quả hơn.

Giảm căng thẳng để học tập hiệu quả hơn

Mức độ căng thẳng cao trong não gây ra những thay đổi hóa học. Những điều này, đến lượt nó, làm giảm hiệu suất. Có một môi trường học tập tích cực về mặt cảm xúc với bầu không khí yên tĩnh sẽ khuyến khích mức độ hiệu quả cao hơn.

Bài 6: Các nhà tâm lý học đã xác định được phương pháp học tập tốt nhất

Làm thế nào để phân biệt được phương pháp học tập nào thật sự hữu ích hay chỉ tổ làm bạn lãng phí thời gian? Một nghiên cứu mới đây lần đầu tiên chỉ ra phương cách tốt nhất để thu nạp kiến thức.

Giáo dục thường tập trung vào nội dung bạn cần học, chẳng hạn như môn đại số, hay các nguyên tố trong bảng tuần hoàn hóa học, hoặc làm thế nào để chia động từ. Tuy nhiên nếu học được cách học hiệu quả có thể cũng sẽ quan trọng không kém vì nó sẽ đem lại ích lợi cả đời cho người học. Học đúng phương pháp có thể  giúp bạn tiếp thu kiến thức nhanh hơn, hiệu quả hơn, khiến bạn có thể ghi nhớ thông tin trong nhiều năm thay vì chỉ nhiều ngày.

Trong hơn 100 năm qua, các nhà tâm lý học giáo dục và tâm lý học nhận thức đã nghiên cứu và đánh giá rất nhiều phương pháp học tập khác nhau, từ cách đọc đi đọc lại đến cách tóm tắt kiến thức cho đến phương pháp tự kiểm tra. Một số chiến lược học tập phổ biến đã giúp cải thiện rõ rệt thành tích của người học, trong khi những chiến lược khác chỉ làm tốn thời gian và không hiệu quả. Tuy nhiên, thông tin này chưa được phổ biến đến người học và người dạy. Ngày nay, giáo viên không được nói cho biết các phương pháp học tập nào là hiệu quả dựa trên chứng cứ thực nghiệm, và học sinh cũng không được dạy cho cách sử dụng những phương pháp học tập tốt. Trong thực tế, hai phương pháp hỗ trợ học tập mà người học sử dụng nhiều nhất hóa ra lại không hiệu quả. Một trong số chúng thậm chí có thể làm giảm đi kết quả học tập.

Một lý do chủ yếu cho hiện tượng nói trên là có một lượng rất lớn các nghiên cứu về vấn đề này, đến nỗi gây khó khăn cho các nhà giáo dục và cho người học trong việc xác định được phương cách học tập thiết thực và thuận lợi nhất. Để vượt qua thách thức này, chúng tôi đã xem xét hơn 700 bài báo khoa học về 10 phương pháp học tập phổ biến. Chúng tôi tập trung vào các chiến lược học tập dường như dễ sử dụng và có hiệu quả rộng rãi. Trong đó, chúng tôi xem xét kỹ hơn đến một vài phương pháp rất phổ biến với người học.

Chúng tôi chỉ khuyến nghị các phương pháp sao cho chúng phải có ích trong nhiều điều kiện học tập khác nhau, chẳng hạn như khi sinh viên làm việc một mình hoặc trong một nhóm. Ngoài ra, chúng phải hỗ trợ được cho học viên ở nhiều độ tuổi, khả năng và trình độ khác nhau. Và nhất là chúng phải được kiểm nghiệm thực tế. Học viên có thể sử dụng những phương pháp này để làm chủ kiến thức trong nhiều môn học, và thành tích học tập của họ sẽ được cải thiện theo mọi tiêu chuẩn đánh giá. Các phương pháp học tập tốt nhất cũng sẽ có tác dụng lâu dài trong việc nâng cao kiến thức và hiểu biết cho người học.

Sử dụng các tiêu chí này, chúng tôi xác định hai phương pháp có hiệu quả nổi trội. Chúng có hiệu quả ổn định và lâu dài cho nhiều điều kiện học tập khác nhau. Hơn ba phương pháp khác cũng được khuyến nghị trong một số điều kiện học tập nhất định, và năm phương pháp khác – bao gồm hai phương pháp học tập phổ biến – là không được khuyến nghị sử dụng. Hoặc là bởi vì chúng chỉ có ích trong một số trường hợp rất hạn chế, hoặc là vì chúng tôi không đủ chứng cứ để đánh giá chúng cao hơn. Chúng tôi cũng khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu một số phương pháp khác chưa được chúng tôi kiểm tra, nhưng học viên và giáo viên nên thận trọng khi áp dụng chúng.

HAI PHƯƠNG PHÁP VÀNG

  1. Phương pháp tự kiểm tra (Self-Testing): Tự kiểm tra đem lại điểm cao.

Mô tả phương pháp: Không giống như một bài kiểm tra chính thức để đánh giá kiến thức, tự kiểm tra là việc người học tự thực hành để kiểm tra chính mình, ở bên ngoài lớp học. Phương pháp này có thể bao gồm việc sử dụng các tấm bìa (bằng giấy hoặc điện tử) để kiểm tra việc nhớ lại hoặc trả lời các bài tập ở cuối một chương sách. Mặc dù hầu hết học sinh đều muốn làm kiểm tra ít chừng nào tốt chừng ấy, hàng trăm thí nghiệm cho thấy rằng tự kiểm tra giúp cải thiện việc học và giúp ghi nhớ được lâu.

Trong một nghiên cứu, các sinh viên đại học được yêu cầu ghi nhớ các cặp từ, một nửa trong số đó sau đó được tham gia một bài kiểm tra khả năng nhớ lại. Một tuần sau, các sinh viên này nhớ được 35% các cặp từ trong bài kiểm tra, so với chỉ có 4% đối với những sinh viên không tham gia kiểm tra. Trong một thí nghiệm khác, các sinh viên đại học được tiếp xúc với một bản dịch từ tiếng Swahili sang tiếng Anh. Tiếp theo, họ dùng phương pháp tự kiểm tra để học một phần văn bản, phần văn bản còn lại chỉ được họ đọc lại. Sinh viên nhớ lại được 80% trong phần mà họ đã học bằng cách tự kiểm tra nhiều lần, so với chỉ có 36% cho phần mà họ chỉ đọc lại. Giả thuyết của chúng tôi là việc tự kiểm tra thực hành sẽ giúp tạo nên quá trình tìm kiếm trong não bộ liên quan đến khả năng ghi nhớ dài hạn để kích hoạt các thông tin liên quan, qua đó hình thành nhiều lối mòn ghi nhớ, giúp truy cập thông tin dễ dàng hơn.

Lứa tuổi nào có thể sử dụng phương pháp này? Bất cứ ai từ trẻ mẫu giáo đến sinh viên y khoa năm thứ tư cho đến người có tuổi trung niên đều được lợi khi sử dụng phương pháp tự kiểm tra này. Nó có thể áp dụng được cho tất cả các loại thông tin không trừu tượng, bao gồm việc học ngữ vựng, lập danh sách chính tả, và ghi nhớ các bộ phận của hoa. Thậm chí nó còn cải thiện được khả năng nhớ lâu cho những người bị bệnh Alzheimer. Tóm lại, phương pháp tự kiểm tra một cách thường xuyên có hiệu quả nhất trong việc học, đặc biệt là khi người học nhận được thông tin phản hồi cho các câu trả lời đúng của họ.

Phương pháp tự kiểm tra cũng hoạt động tốt ngay cả khi thể thức của các bài kiểm tra khi thực hành khác với các bài kiểm tra chính thức. Tác dụng có lợi của phương pháp này có thể kéo dài từ nhiều tháng cho đến nhiều năm.

Phương pháp này có dễ thực hiện không? Câu trả lời là “Có”. Nó chỉ cần một lượng thời gian khiêm tốn và người học cần được huấn luyện một ít hoặc thậm chí không không cần.

Sử dụng phương pháp này như thế nào? Người học có thể dùng các tấm bìa để tự kiểm tra hoặc sử dụng hệ thống Cornell như sau: Trong quá trình ghi bài trên lớp, hãy tạo ra một cột bên một lề của trang để ghi ra các từ khóa hoặc câu hỏi. Sau đó bạn có thể tự kiểm tra bằng cách duyệt lại các ghi chép này và trả lời các câu hỏi (hoặc giải thích các từ khóa) được ghi bên lề.

Đánh giá: Phương pháp này có hiệu quả cao. Việc tự kiểm tra có thể thực hiện được một cách rộng rãi trên nhiều thể thức, nội dung, lứa tuổi, và khoảng thời gian cần ghi nhớ.

2 . Phương pháp phân bổ thời gian ôn tập (Distributed Practice): Để đạt kết quả tốt nhất, hãy giãn rộng thời gian học của bạn ra.

Mô tả phương pháp: Học sinh thường tập trung học nhồi ngay trước khi có bài thi hoặc kiểm tra. Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy việc phân phối thời gian học tập hợp lý sẽ hiệu quả hơn nhiều. Trong một thí nghiệm kinh điển, học sinh được học các từ tiếng Anh được dịch ra từ các từ trong tiếng Tây Ban Nha, sau đó ôn lại trong sáu phiên. Một nhóm đã ôn trong các phiên liên tiếp nhau, một nhóm ôn các phiên cách ngày và một phần ba số học sinh còn lại đã ôn các phiên cách nhau 30 ngày. Các học sinh trong nhóm cuối nhớ bản dịch tốt nhất. Trong một phân tích 254 nghiên cứu được thực hiện liên quan đến hơn 14.000 người tham gia, sinh viên nhớ lại được nhiều hơn khi phân bổ thời gian học cách quãng (nhớ được 47% của toàn bộ) so với việc học dồn (nhớ được 37%).

Lứa tuổi nào có thể thực hiện được phương pháp này? Phương pháp này giúp ích được cho cả trẻ ba tuổi, lẫn sinh viên đại học và cả người lớn tuổi hơn. Việc phân phối thời gian học hợp lý có hiệu quả cao cho việc học ngữ vựng, học định nghĩa của từ, và thậm chí cả việc học các kỹ năng như toán học, âm nhạc và phẫu thuật.

Phương pháp này có dễ thực hiện không? Câu trả lời là “Có.” Mặc dù sách giáo khoa thường gộp các bài tập lại với nhau theo chủ đề, bạn có thể ngắt chúng ra theo cách của mình. Bạn sẽ phải lên kế hoạch trước, và phải vượt qua được trở ngại chung của người học là xu hướng hay trì hoãn việc ôn bài.

Sử dụng phương pháp như thế nào? Khoảng cách lâu hơn giữa các lần ôn bài thường có hiệu quả cao hơn. Trong một nghiên cứu, khoảng cách 30 ngày cải thiện kết quả nhiều hơn so với việc ôn bài vất vả cách ngày. Trong một nghiên cứu dựa trên Internet về việc học ngữ pháp, tu từ và logic, kết quả cao nhất đạt được khi các phiên ôn bài cách nhau khoảng từ 10 đến 20% của khoảng thời gian mà người học cần phải nhớ được kiến thức. Để nhớ một điều gì đó trong một tuần, các phiên học ôn nên cách nhau từ 12 đến 24 giờ đồng hồ. Để nhớ một điều gì đó trong năm năm, các phiên học nên cách nhau từ 6 đến 12 tháng. Mặc dù không có vẻ gì là như thế, nhưng thực sự là bạn có thể ghi nhớ được thông tin ngay cả trong những khoảng thời gian dài, và bạn có thể học lại một cách nhanh chóng những gì bạn đã quên. Khoảng cách dài giữa các lần ôn bài là lý tưởng để nhớ được các khái niệm cơ bản làm cơ sở cho kiến thức nâng cao.

Đánh giá: Phương pháp này có hiệu quả cao. Việc phân phối thời gian học ôn hợp lý sẽ có hiệu quả cho người học ở nhiều độ tuổi khác nhau trong việc học tập ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Nó rất dễ thực hiện và đã được sử dụng thành công trong thực tiễn.

CÁC PHƯƠNG PHÁP HẠNG NHÌ

Không như những gì được nói, các phương pháp học tập sau đây có hiệu quả thấp, trong nhiều trường hợp bởi vì không đủ bằng chứng tích lũy hỗ trợ cho chúng. Một số phương pháp, chẳng hạn như phương pháp hỏi đáp chi tiết (elaborative interrogation), hay phương pháp tự giải thích (self-explanation), chưa được đánh giá trong các tình huống giáo dục thực tế. Một phương pháp khác đang nổi lên, được gọi là phương pháp thực hành xen kẽ (interleaved practice), chỉ vừa mới bắt đầu được nghiên cứu một cách có hệ thống. Tuy nhiên, những phương pháp này cho thấy chúng cũng có hiệu quả đủ tốt để chúng tôi khuyến khích sử dụng trong những tình huống được mô tả ngắn gọn ở đây.

3 . Phương pháp hỏi đáp chi tiết (elaborative interrogation): Khởi nguồn từ bản tính tò mò của trẻ 4-5 tuổi.

Mô tả phương pháp: Tò mò là bản năng tự nhiên của con người, chúng ta luôn tìm kiếm những kiến giải về thế giới xung quanh mình. Một số lượng lớn các bằng chứng cho rằng thấy rằng gợi ý người học trả lời các câu hỏi “Tại sao?” cũng làm cho việc học tập dễ dàng hơn.

Trong phương pháp này, thường được gọi là phương pháp “hỏi đáp chi tiết” (elaborative interrogation), người học đưa ra câu trả lời cho các sự kiện, chẳng hạn như “Tại sao điều này có nghĩa là …?” hoặc ” Tại sao điều này lại đúng?” Chẳng hạn, trong một thí nghiệm, học sinh đọc được câu “người đàn ông đói bụng đã ngồi vào xe.” Các thành viên của nhóm hỏi đáp chi tiết được yêu cầu giải thích lý do tại sao, trong khi nhóm khác đã được cung cấp sẵn một lời giải thích, chẳng hạn như “người đàn ông đói bụng đã lên xe để đi đến nhà hàng.” Nhóm thứ ba chỉ đơn giản là đọc từng câu trên. Khi được yêu cầu nhớ lại ai đã làm gì (“Ai đã lên xe?”), trong nhóm hỏi đáp chi tiết có khoảng 72% học sinh trả lời đúng so với khoảng 37% trong các nhóm khác.

Nên sử dụng khi nào? Khi mà bạn đang học về những thông tin không trừu tượng, đặc biệt là khi bạn đã có hiểu biết về chủ đề này. Sức mạnh của phương pháp này tăng lên cùng với lượng kiến thức mà bạn biết về chủ đề. Chẳng hạn, học sinh ở CHLB Đức sử dụng phương pháp này hiệu quả hơn khi học về các tiểu bang của Đức so với khi học về các tiểu bang của Canada. Có thể là vì kiến thức có trước về chủ đề cho phép người học đưa ra lời giải thích phù hợp hơn cho lý do tại sao một điều gì đó đã xảy ra.

Tác dụng của phương pháp này có vẻ ổn định theo tuổi tác, từ học sinh lớp bốn cho đến sinh viên đại học. Phương pháp hỏi đáp chi tiết cải thiện rõ ràng việc ghi nhớ các sự kiện, nhưng vẫn chưa chắc chắn rằng liệu nó có làm tăng mức độ hiểu sâu hay không, và không có thông tin kết luận về việc hiến thức được ghi nhớ kéo sẽ dài bao lâu.

Phương pháp này có dễ sử dụng không? Câu trả lời là “Có.” Nó chỉ cần việc huấn luyện ở mức tối thiểu và thời gian tiêu tốn là ở mức hợp lý. Trong một nghiên cứu, một nhóm hỏi đáp chi tiết cần 32 phút để làm một nhiệm vụ mà một nhóm chỉ đọc cần 28 phút.

Đánh giá: Phương pháp này có hiệu quả vừa phải. Nó áp dụng được cho khá nhiều chủ đề khác nhau, nhưng có thể không hữu ích lắm đối với các chủ đề trừu tượng. Đối với người học chưa có kiến thức trước về chủ đề đang học thì lợi ích của phương pháp có thể bị hạn chế. Nghiên cứu thêm về phương pháp này là cần thiết để xác định xem liệu nó có thể áp dụng rộng rãi hơn vào các tình huống khác nhau, và các loại thông tin khác nhau nữa hay không.

4 . Phương pháp Tự Giải thích (Self-Explanation): Làm sao tôi biết?

Mô tả phương pháp: Người học phải đưa ra lời giải thích cho những gì họ học, xem xét quá trình tư duy đối với những câu hỏi kiểu như “Câu văn này cung cấp thông tin mới gì cho bạn?” “Nó có liên quan như thế nào đến những gì bạn đã biết?” Tương tự như phương pháp nêu câu hỏi và trả lời, phương pháp tự giải thích có thể giúp tích hợp hiệu quả thông tin mới học được với kiến thức đã có sẵn.

Lứa tuổi nào sử dụng được? Phương pháp này mang lại lợi ích cho người học từ bậc mẫu giáo cho đến sinh viên đại học, và giúp ích cho việc giải toán cũng như giải các câu đố cần suy luận logic. Nó có thể được dùng để học các chuyện kể cũng như học để thông thạo các chiến lược tàn cục trong cờ vua. Ở trẻ em, phương pháp tự giải thích có thể giúp ích trong việc học những khái niệm căn bản như việc học các con số hoặc hình mẫu. Phương pháp này cũng giúp cải thiện trí nhớ, giúp hiểu sâu và giúp giải quyết vấn đề – tác dụng của nó rất đa dạng. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu chỉ đo các tác dụng chỉ trong vòng vài phút, và ta không biết liệu hiệu quả của nó có kéo dài được lâu hơn đối với những người kiến thức hơn cao hoặc thấp hơn hay không.

Phương pháp này có dễ sử dụng không? Câu trả lời là không rõ ràng. Một mặt, hầu hết người học chỉ cần được hướng dẫn ở mức tối thiểu và thực hành ít hoặc không cần. Một bài kiểm tra của học sinh lớp chín cho thấy rằng những học sinh không được huấn luyện có xu hướng chỉ diễn giải lại điều được học chứ không phải là đưa ra lời giải thích thật sự. Mặt khác, một vài nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp này tiêu tốn nhiều thời gian, tăng nhu cầu thời gian từ 30 đến 100% so với các phương pháp khác.

Đánh giá: Phương pháp tự giải thích có lợi ích vừa phải. Nó áp dụng được cho các môn học khác nhau và cho nhiều độ tuổi khác nhau đáng kể. Các nghiên cứu tiếp theo phải xác định được xem liệu những tác dụng của phương pháp này có lâu bền, và thời gian tiêu tốn nhiều cho nó là có đáng giá hay không.

5 . Thực hành xen kẽ (Interleaved Practice): Trộn táo với cam

Mô tả phương pháp: Một cách trực quan, người học thướng có xu hướng chia việc học ra thành các khối kiến thức, hoàn thành xong việc học một chủ đề hoặc một dạng bài tập trước khi chuyển sang phần tiếp theo. Nhưng nghiên cứu gần đây đã chỉ ra lợi ích của phương pháp thực hành xen kẽ. Trong đó, học viên sẽ học luân phiên các chủ đề hay các dạng bài toán khác nhau. Chẳng hạn trong một nghiên cứu, các sinh viên đại học đã học cách tính thể tích của bốn dạng vật thể khác nhau. Đối với phương pháp chia việc học thành khối kiến thức, họ phải hoàn thành tất cả các bài tập đối với một dạng vật thể trước khi chuyển sang dạng vật thể tiếp theo. Trong phương pháp thực hành xen kẽ, các bài toán về 4 dạng đã được trộn xen kẽ với nhau. Trong bài kiểm tra thực hiện một tuần sau đó, nhóm sử dụng phương pháp thực hành xen kẽ làm chính xác hơn 43% so với nhóm học theo phương pháp chia khối kiến thức. Việc học xen kẽ các kiến thức giúp người học có được kĩ năng lựa chọn phương pháp phù hợp và khuyến khích họ so sánh các dạng bài tập khác nhau.

Khi nào nên sử dụng phương pháp này? Khi các dạng bài tập tương tự nhau, có lẽ là vì bằng cách để chúng ở gần nhau thì dễ thấy sự khác biệt giữa chúng hơn. Phương pháp thực hành theo khối kiến thức – làm việc trên tất cả các bài toán cùng vào một chủ đề – có thể hiệu quả hơn khi mà các bài toán có sự khác nhau nhiều, bởi vì khi đó nó làm nổi bật những điểm chung giữa chúng.

Phương pháp thực hành xen kẽ có thể chỉ mang lại lợi ích những người đã đạt đến một trình độ nhất định. Tác dụng của phương pháp này cũng lẫn lộn cho nhiều loại nội dung học tập khác nhau. Nó giúp cải thiện kết quả học tập đối với các bài toán đại số, và có hiệu quả đối với một nghiên cứu trong việc đào tạo sinh viên y khoa khả năng diễn giải kết quả chẩn đoán chứng rối loạn tim mạch. Có hai nghiên cứu về việc học ngữ vựng cho thấy phương pháp này không có hiệu lực mấy. Tuy nhiên, với những khó khăn mà nhiều học sinh gặp phải ở môn toán, phương pháp này vẫn có thể là một chiến lược học tập rất có giá trị cho riêng môn này.

Nó có dễ thực hiện không? Câu trả lời có vẻ là “Có.” Một sinh viên có động cơ học tập có thể dễ dàng sử dụng phương pháp thực hành xen kẽ mà không cần bất kỳ hướng dẫn nào. Giáo viên cũng có thể sử dụng phương pháp này trong lớp học: Sau khi đưa ra một dạng bài tập (hoặc chủ đề), bước thực hành đầu tiên của phương pháp tập trung vào dạng bài đó. Ngay khi đưa ra dạng tiếp theo, cần trộn lẫn bài tập dạng này với bài tập của dạng trước. Phương pháp này có thể tốn nhiều thời gian hơn một chút so với phương pháp chia khối kiến thức, nhưng như thế vẫn đáng giá, vì nó giúp nâng cao thành tích học tập.

Đánh giá: Phương pháp thực hành xen kẽ có tác dụng vừa phải. Nó giúp cải thiện việc học tập và ghi nhớ các kiến thức toán học, và tăng cường các kỹ năng nhận thức khác. Mặc dù lượng tài liệu về phương pháp này là ít, nhưng trong đó cũng đã có đủ kết quả tiêu cực để ta cần phải bận tâm khi sử dụng nó. Có thể là phương pháp này không hoàn toàn tốt, hoặc có lẽ không phải lúc nào nó cũng được sử dụng một cách thích hợp – đây là những đề tài cho nghiên cứu tiếp theo.

BÀI HỌC RÚT RA

Tại sao người học không sử dụng các phương pháp học tập hiệu quả hơn? Có vẻ như họ đã không được dạy những chiến lược tốt nhất, và cũng có lẽ vì bản thân người dạy cũng không được đào tạo về các phương pháp đó. Chúng tôi đã khảo sát sáu cuốn sách giáo khoa tâm lý giáo dục học, và thấy rằng chỉ có một phương pháp – “học thuộc các từ khóa” – được xét đến trong mỗi cuốn. Không ai được hướng dẫn nhiều về cách sử dụng, tính hiệu quả hoặc sự hạn chế của các phương pháp học tập khác nhau.

Vấn đề thứ hai có thể là vì hệ thống giáo dục nhấn mạnh vào việc dạy cho người học các kỹ năng tư duy phê phán, và nội dung kiến thức, dành ít thời gian cho việc dạy phương pháp học tập. Điều này dẫn đến kết quả có thể là những học sinh có thành tích tốt trong những năm đầu đời, khi việc học tập được giám sát chặt chẽ, có thể gặp khó khăn một khi họ sẽ phải tự quản lý việc học của mình ở trường trung học hoặc đại học.

Một số vấn đề, chẳng hạn như độ tuổi tốt nhất để học sinh bắt đầu sử dụng một phương pháp nào đó, và khoảng bao lâu họ sẽ cần phải được huấn luyện lại hoặc nhắc nhở về phương pháp, vẫn cần được nghiên cứu thêm. Nhưng ngay từ bây giờ, người dạy đã có thể tích hợp các phương pháp học tập thành công nhất vào trong giáo án để người học có thể theo đó mà sử dụng. Ví dụ, khi chuyển đến phần kiến thức mới, người dạy có thể bắt đầu bằng cách yêu cầu người học làm một bài kiểm tra thực hành bao gồm những điểm quan trọng ở phần trước và phản hồi bài kiểm tra của người học ngay. Người học có thể chèn thêm vào giữa những bài toán mới các bài toán có liên quan ở trong các phần trước đó. Người dạy có thể khai thác phương pháp phân phối thời gian ôn tập hợp lý (distributed practice) bằng cách đưa ra lại các khái niệm chính trong quá trình dạy. Họ có thể giúp người học sử dụng phương pháp đặt câu hỏi và trả lời (explanatory questioning) bằng cách gợi cho người học xem xét trả lời cho những câu hỏi “Tại sao?”

Những phương pháp học tập này không phải phương thuốc chữa bá bệnh. Chúng chỉ đem lại lợi ích cho những người học có mục tiêu, và có khả năng sử dụng chúng. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng rằng người học sẽ thu được nhiều ích lợi trong hoạt động trên lớp, trong các bài kiểm tra, và trong suốt cuộc đời họ.

Bài 7: Sự hoạt động của bộ não trẻ em – Tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ em dưới 7 tuổi

Bộ não con người rất phức tạp, cho đến thời đại hiện nay vẫn còn những bí ẩn về sự vận hành của nó mà khoa học chưa có lời giải đáp. Trung bình, một bộ não người ước tính chứa được hơn 2.5 petabytes, tương đương với khoảng 3 triệu giờ (300 năm) xem video liên tục. Các thông tin được chứa ở dạng sóng giao thoa, trong đó bộ não là một hệ thống tạo ảnh ba chiều, và nói một cách khác: các thông tin này được chứa trong tiềm thức và ý thức. Tiềm thức chiếm khoảng 90% còn ý thức khoảng 10% “dung lượng” bộ não.

Ngoài ra, khả năng xử lý thông tin của tiềm thức nhanh gấp khoảng 1000 lần so với ý thức. Hiện nay rất nhiều trường Đại học và các viện nghiên cứu về con người đang phát triển các phương pháp thăm dò, kích hoạt cũng như tìm hiểu các cơ chế của tiềm thức. Vì họ đều hiểu được rằng, hầu hết các hành động, suy nghĩ, kế hoạch hay cả sự hạnh phúc và thành công của mỗi cá nhân đều được quyết định bởi tiềm thức của họ chứ không phải ý thức. Tiêu biểu ta có thể kể đến: Trường Đại học Harvard của Mỹ, Biialab Mỹ, Viện Giải mã sinh học ở Tây Ban Nha,…

Hệ thần kinh trung ương của con người giống như một máy tính siêu việt, phần cứng (Hardware) chính là bộ não với các cấu trúc mô não trong đó quan trọng nhất là các tế bào thần kinh,  hệ tuần hoàn não và các bộ phận khác xung quanh. Phần mềm (Software) là phần không nhìn thấy, chính là những suy nghĩ, ý tưởng, sự tưởng tượng, những kế hoạch, quyết định,… Một bộ não khỏe mạnh về phần cứng và linh hoạt, nhạy bén từ phần mềm sẽ tạo nên sự thành công của người mang bộ não đó. Có một cách để tìm hiểu phần mềm này chính là thông qua sự thể hiện của nó dưới dạng sóng. Tuy ta không nhìn thấy các suy nghĩ, kế hoạch…nhưng ta có thể nhìn thấy hoạt động của bộ não qua sóng Điện não đồ (Viết tắt là EEG). Sóng điện não đồ cho chúng ta biết hoạt động của bộ não khi ta thức, khi ta ngủ, khi ta thiền, khi ta đang tập trung vào một vấn đề, thậm chí cho ta biết khi nào ý thức hoạt động chính và khi nào là tiềm thức hoạt động chính. Và đây  là cơ sở  cho chúng ta biết tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ em dưới 7 tuổi, bởi tần số sóng Điện não đồ của các trẻ em độ tuổi này có những nét đặc trưng được phân tích dưới đây.

Theo các nhà khoa học, điện não có 5 loại sóng, khác nhau bởi tần số và được gọi là: Delta, Theta, Alpha, Beta và Gamma:

  • Sóng Delta (tần số khoảng 2-4 sóng/giây hay 2-4 Hz): Tiềm thức hoạt động chiếm ưu thế, sóng này xuất hiện khi ta đang trong giấc ngủ sâu và là sóng não chủ yếu của trẻ em dưới 3 tuổi, nhất là 18 tháng đầu.
  • Sóng Theta ( Khoảng 4-8 Hz): Tiềm thức vẫn hoạt động nhiều, sóng này xuất hiện ở người lớn trong trạng thái thiền, thôi miên, thư giãn cao độ, giấc ngủ chưa sâu hay đang mơ và là sóng não chủ yếu ở trẻ em 3-7 tuổi, vẫn có thể gặp ở các trẻ lớn hơn.
  • Sóng Alpha (8-16 Hz): Tiềm thức hoạt động giảm đi, sóng này xuất hiện ở người lớn khi đang không làm việc, đang ngồi nghỉ, đang đi dạo thư giãn nhẹ nhàng. Trẻ em trên 7 tuổi giảm sóng Theta và dần dần  chiếm ưu thế sóng Alpha khi càng lớn lên.
  • Sóng Beta (16-35 Hz): Khi rất tỉnh táo, ý thức hoạt động cao độ, đang suy nghĩ, bàn luận hay tập trung làm một công việc gì đó.
  • Sóng Gamma (Trên 35 Hz): thường không đo được tần số này, vì sóng Gamma chỉ xuất hiện trong những tình huống đặc biệt mà bộ não phải tập trung cao độ nhất, tổn hao năng lượng nhiều nhất,  ví dụ: Đang chọn lựa để cắt giây bom, đang bị hổ đuổi, đang chiến đấu sống còn,…

Qua những cơ sở trên, chúng ta thấy rằng tiềm thức hoạt động nhiều khi sóng não (EEG) ở dạng Delta hay Theta, tức là khi người lớn ở trang thái ngủ hay thiền và đây cũng là sóng não chủ đạo của trẻ em dưới 7 tuổi mà tiềm thức xử lý thông tin nhanh hơn ngàn lần so với ý thức. Chính điều này nói nên tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ em và nhất là giai đoạn dưới bảy tuổi. Người Do Thái là một ví dụ điển hình, họ đặt giáo dục trẻ nhỏ là việc tối quan trọng, quyết định đến 75% tương lai của chúng sau này. Người Do Thái chỉ chiếm 0,2 dân số thế giới (hơn 14 triệu dân), nhưng được coi là dân tộc thông minh nhất thế giới, với sự đóng góp 50% vào các công trình khoa học và sự tiến bộ của nhân loại. Ở Châu Á, Nhật Bản và Singapore là hai nước có nền giáo dục với sự quan tâm đặc biệt vào thế hệ trẻ nhất là mầm non và tiểu học. Chế độ dinh dưỡng của các em cũng như trình độ học vấn và đạo đức của các giáo viên được xem xét rất nghiêm túc và chất lượng.  Nhiều ý kiến cho rằng, một trong những yếu tố cho sự phát triển mạnh mẽ của hai dân tộc này là nhờ vào chính sách giáo dục.

Đất nước chúng ta đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cũng như nhiều lĩnh vực khác, trong đó có sự biến chuyển về nhận thức. Rất nhiều ông bố bà mẹ đã ý thức được tầm quan trọng của việc giáo dục con cái khi còn nhỏ. Với những thông tin trên hi vọng bổ sung phần nào cho sự nhận thức này. Bên cạnh đó, cũng có những cặp vợ chồng chưa ý thức được, hoặc cho  rằng học cấp 3 rồi Đại học mới là quan trọng nhất. Một em bé hai tuổi có thể nghe và nói được hơn 3 ngoại ngữ  trong vòng 6 tháng đến 1 năm, thậm chí còn hơn nữa nếu chúng ta biết phương pháp dạy. Nhưng một người lớn học 5 năm Đại học, vẫn có thể phát âm một ngoại ngữ chưa thành thạo. Trẻ em là nguồn lực, là tương lai của xã hội, của đất nước. Hiểu được sự hoạt động của bộ não trẻ em dưới 7 tuổi chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ, từ cấp độ gia đình đến trường mầm non và năm đầu của tiểu học. Đầu tư giáo dục cho trẻ em giai đoạn này chính là đầu tư cho tương lai phồn vinh của dân tộc sau 30 năm nữa. Đúng như câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

Bài 8: Chiến Thuật Giảng Dạy Dựa Trên Não Bộ

Rất nhiều giáo viên muốn sử dụng ngay các chiến thuật, các kĩ thuật dạy học nhanh mà lại hiệu quả. Thật không may, nhiều người trong số đó đã thất bại. Đôi khi điều khiến cho một chiến thuật thành công (hoặc không thành công) lại là CÁCH giáo viên “thiết lập” và tổ chức hoạt động.

Rất nhiều giáo viên muốn sử dụng ngay các chiến thuật, các kĩ thuật dạy học nhanh mà lại hiệu quả. Thật không may, nhiều người trong số đó đã thất bại. Đôi khi điều khiến cho một chiến thuật thành công (hoặc không thành công) lại là CÁCH giáo viên “thiết lập” và tổ chức hoạt động. Những lần khác nó thành công do yếu tố thời gian hoặc các yếu tố môi trường.

Nói ngắn gọn, chiến thuật thôi là không đủ. Tuy nhiên, một lúc nào đấy, hãy nói rằng bạn đã tham gia một trong những khóa học dựa trên trí tuệ dài ngày rất tuyệt vời của tôi. Những điều dưới đây có thể là lời nhắc nhở cho bạn:

  1. “Quá nhiều, quá nhanh” có nghĩa là chúng ta đừng tích hợp và khơi gợi thông tin nữa nếu bạn dạy nhanh quá. Thay vào đó, hãy chia việc học tập thành các nhiệm vụ nhỏ hơn; cho phép học sinh dành thời gian làm việc nhóm hoặc viết bài.
  1. Bởi vì mỗi bộ não là khác nhau – về gien và trải nghiệm, cộng với sự tương tác giữa hai người, hãy nhắc lại tầm quan trọng của việc tôn trọng sự khác biệt và độc đáo. Điều đó có nghĩa là sử dụng các hình thức học tập khác nhau để tối đa hóa việc học. Sử dụng hình ảnh, với minh họa, podcast và DVD. Sau đó, sử dụng phim truyền hình, phát biểu và yếu tố gây tò mò. Bạn cũng nên sử dụng nhiều cuộc đối thoại.
  1. Hầu hết các môn học có thể học được dưới áp lực vừa phải; hãy coi nó như là “mối quan tâm lành mạnh.” Để thúc đẩy, giáo viên có trách nhiệm giải thích liên tục. Sau mỗi phần kiến thức, hãy cho học sinh đặt ra một câu đố, đứng lên, hỏi bạn bè của họ hoặc tạo một danh mục ngắn gồm 10 câu hỏi. Sử dụng các đội, áp lực của bạn bè và thời hạn để tăng thêm sự quan tâm. Hãy nhớ rằng tài liệu sẽ tốt hơn nếu có cảm xúc trong đó. Sau phần đố vui, hãy tổ chức liên hoan vì sự tiến bộ.
  1. Suy nghĩ về việc hình thành kỹ năng học tập như là quá trình hoạt động tích cực. Thêm nhật kí tiến trình, thảo luận có chất lượng để việc học tập trở nên tốt hơn. Cho học sinh những câu bắt đầu như “Điều tôi đã tò mò (hoặc rất nhớ) ngày hôm nay là…” hoặc “Những gì tôi học được ngày hôm nay là … và tôi học tốt nhất khi tôi…”. Trước khi các khuôn mẫu xuất hiện, việc học tập thường diễn ra ngẫu nhiên và lộn xộn. Sau một thời gian không có định hướng rõ ràng, các mô hình dần dần được xây dựng nên. Việc tạo các khuôn mẫu phức tạp hơn trong các ngôn ngữ thứ hai như toán học và âm nhạc.
  1. Hãy nhớ giá trị của thời gian nghỉ ngơi hoặc thời gian “phục hồi” là nhằm củng cố nội dung. Nghỉ ngơi, nghỉ ngơi, ăn trưa, nghỉ ngơi, đi bộ, đó là dành cho quá trình thụ động. Ngay cả một hoạt náo viên cũng rất vui nếu được nghỉ ngơi.
  1. Bộ não của chúng ta có thể ghi nhớ, nhưng học tập tốt nhất là khi thử và sai; đó là một chìa khóa cho quá trình học tập phức tạp – những trò chơi nếu được áp dụng khéo léo thì sẽ có giá trị. Do đó, hãy sử dụng các trò chơi, máy tính, sự cạnh tranh, xây dựng, sáng kiến ​… kể cả những trò chơi đơn giản như hopscotch, rơle, hoặc chỉ là cho lũ trẻ đố nhau. Bộ não hiếm khi đạt được sự chuẩn xác khi học lần đầu tiên – việc học tập phức tạp được hình thành qua thời gian. Sử dụng danh mục kiểm tra, dạy lẫn nhau, máy tính, đặt câu hỏi, tất cả đều là ví dụ về việc học tập kiểu thử và sai.

Một bài rất hay về bộ não của giới trẻ tuổi 20:

Đừng lãng phí Tuổi 20 – Tận dụng Sức mạnh độc đáo của Bộ não tuổi 20 của bạn

Đây là cơ hội chỉ xảy ra một lần trong đời mà bộ não của tuổi đôi mươi mang lại.

Ở tuổi 20: Bill Gates bỏ học ở trường Harvard và đồng sáng lập Microsoft, còn Sir Isaac Newton thì bắt đầu phát triển một nhánh toán học mới.

Ở tuổi 21: Thomas Alva Edison đã có phát minh đầu tiên của ông, một máy đếm phiếu điện tử, Steve Jobs là đồng sáng lập công ty Apple, và Alfred Tennyson xuất bản tập thơ đầu tiên của mình.

Ở tuổi 22: Nhà phát minh Samuel Colt được cấp bằng sáng chế khẩu súng lục ổ quay, còn Cyrus Hall McCormick thì phát minh ra máy gặt McCormick, cho phép một người làm được công việc của năm người.

Ở tuổi 23: T. S. Eliot viết “Bản tình ca của Alfred Prufrock,” John Keats viết “Ode on a Grecian Urn,” (chiếc bình cổ Hy Lạp) còn Truman Capote thì xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, Other Voices, Other Rooms.

Ở tuổi 24: Johannes Kepler bảo vệ cho lý thuyết Copernican và mô tả cấu trúc của hệ mặt trời.

Ở tuổi 25: Orson Welles nhập ngũ, làm đạo diễn, và đóng vai chính trong Citizen Kane, Charles Lindbergh trở thành người đầu tiên một mình bay qua Đại Tây Dương, John Wesley bắt đầu gieo mầm cho phong trào Giám lý ở Oxford, và Alexander Đại đế trở thành Vua Ba Tư.

Ở tuổi 26: Albert Einstein đã xuất bản năm bài nghiên cứu lớn trên một tạp chí vật lý của Đức, về cơ bản làm thay đổi quan điểm của con người về vũ trụ và dẫn đến những phát minh như TV và bom nguyên tử, Benjamin Franklin xuất bản ấn bản đầu tiên Poor Richard’s Almanac, Eli Whitney phát minh ra máy tỉa sợi, còn Napoleon Bonaparte thì đi chinh phạt nước Ý.

Hẳn nhiên, đó là một danh sách những thành tựu đầy ấn tượng. Và mặc dù nhiều người có thể xem đây là kiểu “sớm phát triển,” tôi thì cho rằng những người đàn ông đó đạt được những thành tựu trên không phải dù tuổi còn trẻ, mà là nhờ còn trẻ tuổi.   

Một thập kỷ có thể bỏ đi?

Có lẽ bạn đã từng nghe người ta bảo, hoặc thậm chí bạn tự nhủ với bản thân rằng: “Ba mươi là độ tuổi 20 mới.”

Những thứ từng là dấu hiệu của sự trưởng thành trong quá khứ— tốt nghiệp, có được công việc “thực sự” đầu tiên của bạn, kết hôn, có con, mua một căn nhà–đang bị đẩy lùi lại về sau này. Thay vì đạt được những cột mốc này vào đầu hoặc giữa độ tuổi 20 giống như cha mẹ và ông bà chúng ta, thì các yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa đã trì hoãn những bước này đối với nhiều người cho đến cuối độ tuổi 20 và bước sang độ tuổi 30.

Điều này đã mở ra một khoảng thời gian và phát triển chưa từng có cho người trẻ. Lứa tuổi 20 được đặt tên lại là “tuổi trưởng thành mới nổi” hoặc “tuổi thiếu niên kéo dài,” và bởi vì bản chất non trẻ của nó, chưa có nhiều hướng dẫn về cách một người nên trải qua giai đoạn mới này của cuộc đời.   

Thiếu vắng những hướng dẫn đó, tuổi đôi mươi bị xem là một thời kỳ học đòi, thụ động và phiêu lưu mạo hiểm, với tư tưởng rằng bạn có thể nghiêm túc với mọi thứ về sau- khi bạn chạm đến ngưỡng 30. Vì vậy, tuổi đôi mươi bị dán cho cái nhãn là có thể  bỏ đi—một khoảng thời gian không quan trọng giữa hai thập kỷ đi học và trở thành một người trưởng thành “thực thụ”.

Nhưng quan điểm cho rằng độ tuổi 20 không quan trọng hoàn toàn sai lệch sự thật. Trên thực tế, “Ba mươi là độ tuổi 20 mới” là một trong những lời nói dối lớn nhất của thời đại chúng ta.

Trong loạt bài dài 2 phần này, chúng tôi sẽ lý giải tại sao.

Đây là bộ não của bạn ở độ tuổi 20  

Quan điểm phổ biến ngày nay cho rằng thời trước mọi người khởi đầu cuộc sống sớm hơn đơn giản vì điều kiện kinh tế, hoặc “Đấng Nam nhi” khiến mọi người hổ thẹn để mà nhanh chóng trở thành người lớn thay vì dành thời gian lêu lổng và khám phá, và khi những yếu tố đó không còn hiệu lực thì chẳng còn lý do chính đáng nào để đưa ra những quyết định và cam kết quan trọng ở lứa tuổi 20 của bạn nữa.

Mặc dù lời giải thích về lý do tại sao các cột mốc quan trọng lại bị trì hoãn cũng có phần nào đúng, nhưng trên thực tế vẫn có những lý do rất thuyết phục rằng tại sao nên bắt đầu định hình các yếu tố quan trọng nhất trong cuộc đời khi bạn vẫn còn trong độ tuổi 20–và chúng không hề liên quan đến văn hóa hay kinh tế. Mà đúng hơn là, chúng liên quan đến yếu tố sinh học, và do đó mang tính vượt thời gian—chúng áp dụng cho những người ở thập niên 1950 cũng như ngày nay. Bây giờ chúng ta có thể đi sâu vào một khía cạnh của sinh học khi nó có liên quan đến việc trì hoãn sự trưởng thành–của chuyện sinh sản–vì nó không chỉ bị ảnh hưởng bởi tuổi tác đối với phụ nữ; tinh trùng của nam giới bị lão hóa được cho là chịu trách nhiệm cho những đột biến kéo theo những thứ như chứng tự kỷ và tâm thần phân liệt. Nhưng chúng tôi sẽ đề cập đến chủ đề quan trọng đó vào dịp khác.

Hôm nay tôi muốn tập trung cuộc thảo luận vào một thứ vượt qua chuyện làm cha, và ảnh hưởng đến mọi quyết định hệ trọng trong cuộc sống mà bạn sẽ phải đưa ra–đặc biệt khi nó có liên quan tới những thứ như nghề nghiệp và các mối quan hệ, thậm chí cả đức tin. Và đó chính là bộ não ở lứa tuổi 20.  

Bộ não của con người phát triển từ dưới lên trên và từ sau ra trước. Ở dưới đáy là hệ limbic, mà một số phần nguyên thủy của bộ não chúng ta cư trú ở trong đó, những khu vực chịu trách nhiệm cho những chuyện như ngủ, đói, cảm xúc, tình dục và khoái lạc.

Nằm ở phía trước của não bộ là vỏ não trước trán. Được phát triển sau cùng, nó thường được gọi là CEO của bộ não–người điều hành của trí óc. Nó giúp bạn làm những việc như xử lý xác suất, điều chỉnh cảm xúc và những cơn bốc đồng, trì hoãn sự thỏa mãn, xử lý các mục tiêu trừu tượng và không chắc chắn, lên kế hoạch cho tương lai và đưa ra những quyết định và đánh giá tốt.  

Trong thời thanh thiếu niên, cả hai phần của não bộ hành động và tương tác khi chúng đưa bạn đi đến tuổi trưởng thành. Hệ limbic tăng cường những cảm giác về cảm xúc, động lực và khao khát phần thưởng của bạn, khiến cho bản ngã tuổi teen của bạn có cảm giác bồn chồn không yên và gia tăng khao khát làm những chuyện lớn lao, chấp nhận rủi ro mạo hiểm, trải nghiệm tất cả mọi thứ, kết bạn, và trở nên độc lập với bố mẹ bạn. Đồng thời, vỏ não trước trán của bạn cũng bắt đầu kết thúc quá trình trưởng thành của nó và hoạt động như một cỗ máy kiểm tra giám sát những cơn thôi thúc bốc đồng mới nảy sinh, cố gắng ngăn bạn không làm những chuyện quá ngu ngốc. (The New York Times có một trang web tương tác cho thấy sự trưởng thành của bộ não của bạn từ thưở thơ ấu đến tuổi trưởng thành.)

Đây là lý do tại sao những thanh thiếu niên dường như có khả năng chín chắn tuyệt vời vào một lúc nào đó, và sau đó lại làm những chuyện ngu xuẩn vào những lần khác–các phần bốc đồng và CEO của bộ não của họ đang có một trận kéo co, và đôi lúc phe này thắng, còn lúc khác thì phe kia thắng. Bởi lý do này mà tính cách của bạn cũng khá thất thường trong giai đoạn này.

Ở đầu tuổi 20, vỏ não trước trán của bạn gần như đã hoàn toàn trưởng thành, nhưng vẫn chưa trưởng thành hoàn toàn.

Người ta từng tin rằng vỏ não trước trán hoàn thiện quá trình phát triển trong những năm tháng tuổi teen, nhưng hiện tại chúng ta biết rằng sự trưởng thành của nó vẫn chưa hoàn tất cho đến khoảng 25 tuổi. Điều này có nghĩa là từ khoảng 15-25 tuổi, bạn vẫn còn đang dạo quanh và trải nghiệm thế giới với một bộ não “trẻ trâu”. Đây là lý do tại sao hầu như tất cả chúng ta có thể nhìn lại những giai đoạn không chỉ từ thời phổ thông mà còn cả đại học, khiến chúng ta lắc đầu tự hỏi: “Mình đang nghĩ gì vậy?!”

Bây giờ, bạn có thể suy ra từ tất cả những điều này rằng tốt nhất là đợi cho tới khi bạn 30 tuổi rồi hẵng đưa ra những quyết định lớn—cho đến khi vỏ não trước trán của bạn đã hình thành và trưởng thành hoàn chỉnh. Nhưng điều này không đúng, vì như một nhà sinh học thần kinh đã nói, độ tuổi 20 của bạn không đơn giản là một thời kỳ của “rủi ro lớn,” mà còn là một thời kỳ của “cơ hội lớn.”

Bộ não độ tuổi 20 của bạn mang lại những cơ hội to lớn nào? Có 2 cơ hội lớn–và chúng chỉ xuất hiện một lần trong đời. Đầu tiên là cơ hội để theo đuổi những mục tiêu lớn một cách say mê và tự do, khám phá những câu hỏi lớn của cuộc đời, và lập ra những cam kết quan trọng. Thứ hai là cơ hội để đóng một vai trò tích cực trong sự phát triển của phần não bộ điều hành của bạn nhằm tạo ra một nền tảng cho thành công lâu dài. (Rõ ràng là những lợi thế về não bộ đó cũng áp dụng cho các thiếu niên, nhưng người trẻ ở độ tuổi 20 mất nhiều thời gian hơn để đưa ra quyết định của riêng họ và vì vậy luyện tập những khả năng đặc biệt của bộ não của họ. Họ đang đứng ở ngã tư của cơ hội và sự độc lập.)

Trong bài viết ngày hôm nay, chúng tôi sẽ tập trung vào lợi thế đầu tiên của bộ não ở độ tuổi 20; và bữa khác chúng tôi sẽ đi sâu vào những lợi thế.

Lợi thế #1 của Bộ não độ tuổi 20: Động lực đầy đam mê, tự do để theo đuổi những đam mê của bạn một cách không sợ hãi, khám phá những câu hỏi lớn của cuộc sống, và lập ra những cam kết quan trọng.

Có vẻ như đó là một bước ngoặt tàn nhẫn của tự nhiên khi cùng một lúc bạn cảm thấy được thúc đẩy để chấp nhận rủi ro và tìm kiếm phần thưởng, đang trải nghiệm một sự dâng trào cảm xúc, và bắt đầu vật lộn với những phức tạp của tuổi trưởng thành và đưa ra các quyết định sẽ ảnh hưởng đến cả tương lai của bạn, phần điều hành của bộ não của bạn chưa theo kịp tiến độ—như thể bạn đang lái một chiếc xe hơi bị lỗi phanh. Và quả thực, đó là cách mà các nhà nghiên cứu từ lâu đã nhìn nhận về nó–rằng bộ não của thiếu niên bị “hỏng”–thôi thúc bốc đồng một cách liều lĩnh và ngu xuẩn.

Nhưng nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy những đặc tính tương tự của bộ não thiếu niên có thể gây trở ngại, nhưng cũng có thể là lợi thế khác biệt–chứ không phải là sự cố của tự nhiên, mà là sự thích nghi về mặt tiến hóa có mục đích. Mục đích đó là nhằm khiến một người trẻ đi xa nhà, tự lập, khám phá sân chơi mới và nắm lấy cơ hội tìm kiếm thành công. Nhưng ai có thể khai thác được nguồn năng lượng độc nhất vô nhị của tuổi trẻ từ thời xa xưa thì đạt được lợi thế hơn bạn bè đồng trang lứa của họ. Như nhà khoa học thần kinh B.J. Casey cho hay, bản chất “bất bình thường” của bộ não tuổi thiếu niên “chính xác là những gì bạn cần để làm những việc mà sau này bạn phải làm.”

Bộ não tuổi thiếu niên mang lại cho bạn kiểu sức mạnh nào mà bạn cần đến khi dấn thân vào tuổi trưởng thành? Có ba sức mạnh:

Lòng đam mê nhiệt thành  

Can đảm đối mặt với rủi ro   

Một sự tò mò mãnh liệt và sâu sắc về con người và thế giới  

Đam mê mãnh liệt

Như chúng ta đã thảo luận, trong thời kỳ thanh thiếu niên, hệ limbic (hệ não rìa) của não bộ bắt đầu tăng cường những cảm xúc của bạn về cảm xúc và động lực, trong khi cùng lúc đó, vỏ não trước trán bắt đầu phát triển khả năng kiểm soát những cơn thôi thúc bốc đồng do cái trước sinh ra. Và một lần nữa, các thùy trán hoàn thành quá trình trưởng thành của chúng vào khoảng giữa độ tuổi 20. Trước đó, hệ limbic, đặc biệt là hạch hạnh nhân, phản ứng với các kích thích mạnh mẽ hơn ở người lớn. Trong khi vỏ não phía trước tạo ra một phản ứng “suy nghĩ” thì hạch hạnh nhân tạo ra một phản ứng mang nhiều cảm xúc, hướng đến bản năng hơn.

Các nhà sinh học thần kinh không chắc chắn về mối quan hệ chính xác giữa hạch hạnh nhân và vỏ não trước trán trong bộ não của tuổi thanh thiếu niên (và hãy nhớ, đây là bộ não từ khoảng 15-25 tuổi), ngoài những điều như vỏ não trước trán ngày càng được kích hoạt mạnh mẽ hơn khi nó trưởng thành và bắt đầu hành động như một cỗ máy giám sát ngày càng lớn đối với hạch hạnh nhân.

Nhưng tôi thích tưởng tượng về sự thiết lập theo phép so sánh này (hoàn toàn phi khoa học): Vỏ não trước trán giống như một cái sàng. Trong bộ não tuổi vị thành niên, các lỗ trên sàng rất lớn, do đó kích thích từ thế giới bên ngoài hầu hết sẽ đi thẳng qua và làm hạch hạnh nhân phát sáng, tạo ra một phản ứng cảm xúc, bản năng. Khi vỏ não trước trán trưởng thành và vững chắc, các lỗ sẽ ngày càng thu nhỏ lại–mạng lưới chụp bắt và phân tích ngày càng nhiều kích thích trước khi nó chạm được đến hạch hạnh nhân, cho bộ não cơ hội đưa ra một phản ứng lý trí, có chừng mực. Quả thật, vỏ não trước trán còn được gọi là “khu vực của suy nghĩ, xem xét lại một cách tỉnh táo,” vì nó là phần não bộ cân nhắc những hậu quả của một lựa chọn.

Đây là lý do tại sao trong những năm vị thành niên của bạn, cho đến những năm đầu của lứa tuổi 20, bạn trải nghiệm mọi thứ thực sự mãnh liệt–các mối quan hệ rất mãnh liệt, các trải nghiệm tâm linh rất mãnh liệt, những tột cùng cảm xúc thì thật tột cùng, còn những cảm xúc chán chường thì xuống tới tận đáy. Những trải nghiệm mới mẻ có cảm giác thật tuyệt vời; những cảm giác mạnh thì mang đến cho bạn nhiều hứng khởi hơn. Các kích thích từ thế giới đi thẳng vào não bộ thay vì bị tóm lại ở cái sàng vỏ não và được phân tích một cách lạnh lùng trước tiên. Các trải nghiệm có thể thắp sáng hạch hạnh nhân cảm xúc của bạn, cho phép bạn cảm nhận mọi thứ một cách sâu sắc hơn. Ở đây bạn đã nắm được nguyên do thần kinh đằng sau niềm đam mê đầy nhiệt thành nổi tiếng của tuổi trẻ.

Cường độ (hoạt động) của bộ não thanh thiếu niên có thể khiến cho những năm tháng tuổi teen của chúng ta và đầu tuổi 20 quá chừng mãnh liệt/kịch tính. Nhưng niềm đam mê này cũng cho phép những bạn trẻ ở độ tuổi 20 có cảm xúc mãnh liệt về các vấn đề, các nguyên nhân, con người và tâm linh. Nó có thể thúc đẩy bạn bắt đầu các phong trào, tiến hành hành động và lập cam kết–các bước được tạo điều kiện bởi sức mạnh tiếp theo của bộ não tuổi đôi mươi.

Can đảm khi đối mặt với rủi ro 

Ngoài cường độ và cảm xúc mà hạch hạnh nhân mang vào phương trình, các trung tâm phần thưởng của não bộ cũng rất nhạy cảm trong giai đoạn này. Điều này thúc đẩy bạn nắm bắt nhiều cơ hội hơn.

Trái với suy nghĩ thông thường, trên thực tế các thanh thiếu niên đánh giá cao một số rủi ro–những rủi ro “được biết đến nhiều,” như nguy cơ mang thai hoặc mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục. Nhưng họ lại đánh giá thấp những rủi ro “chưa được biết đến”–bất cứ điều gì mà khả năng thắng và thua còn mơ hồ.

Người lớn thường sẽ dập tắt ý tưởng về những rủi ro như vậy ngay khi chúng thoáng qua tâm trí họ, nhưng một thiếu niên thì sẽ dành thời gian để xem xét về chúng.   

Rõ ràng, khuynh hướng đón nhận rủi ro này có thể có một mặt trái—có một nguyên do khiến tỷ lệ tử vong của thanh thiếu niên cao gấp ba lần tỷ lệ tử vong của trẻ tiểu học. Nhưng lòng can đảm đối mặt với rủi ro cũng hoàn toàn cần thiết để giúp bạn theo đuổi giấc mơ và lý tưởng của bạn.

Đưa ra bất kỳ quyết định hoặc cam kết lớn nào đều dính líu đến rủi ro–việc kinh doanh của tôi sẽ thất bại, nàng có phải là the one (người ấy) không, liệu mình có hạnh phúc khi sống xa nhà hàng ngàn dặm? Và rủi ro sẽ kích thích vỏ não trước trán– “Nếu điều này xảy ra thì sao? Còn x,y,z thì sao?” Rõ ràng, phân tích lý trí là điều tuyệt vời, nhưng có một số thứ trong cuộc sống mà bạn nên gạt đi nỗi sợ của bạn và đâm đầu theo nó. Bộ não của người trẻ ở độ tuổi 20 cho bạn sự mạnh dạn để làm được như vậy. Nhưng khi vỏ não trước trán tập hợp được sức mạnh, nó sẽ bắt đầu khuyên nhủ bạn ngừng làm bất cứ việc gì rủi ro và có khuynh hướng duy trì nguyên trạng. Tình trạng tê liệt do phân tích thấm vào.

Một sự tò mò mãnh liệt và sâu sắc về con người và thế giới  

Bây giờ bạn có thể nghĩ, “Đương nhiên là, các bạn trẻ ở độ tuổi 20 có đam mê và dũng cảm để đưa ra những quyết định lớn, nhưng họ có thể sẽ đưa ra quyết định sai lầm, vì họ ngây thơ và bốc đồng! Tốt hơn là nên đợi cho đến khi bạn già dặn chững chạc hơn.” Và đúng là các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy đôi lúc bộ não thanh niên tìm kiếm-phần thưởng thường đưa ra nhiều quyết định liều lĩnh hơn, như chọn tham gia vào những cuộc vui chè chén hay tình dục không an toàn. Nhưng đó thường là do áp lực xã hội (bộ não của thanh niên cũng nhạy cảm hơn trước đánh giá của bạn bè đồng trang lứa). Các nhà nghiên cứu quả thực đã phát hiện thấy trong những tình huống khác ít “nhiệt” và ít bị áp lực của bạn bè, khi một phần thưởng đang bị đe dọa vuột mất, một người trẻ khao khát làm điều gì đó đúng đắn, và sẽ mất nhiều thời gian hơn để quyết định, và thu thập nhiều thông tin hơn trước khi làm, hơn những người lớn. Các nhà nghiên cứu cho biết, điều đó có nghĩa là có những tình huống mà ở đó thanh thiếu niên có khả năng sẽ đưa ra quyết định tốt hơn “người lớn.”

Các trung tâm phần thưởng nhạy cảm của bộ não ở tuổi vị thành niên không chỉ thúc đẩy quá trình thu thập và cân nhắc thông tin, mà chúng còn tạo thuận lợi cho việc học hỏi thông tin mới, đó là lý do tại sao những thanh thiếu niên (khi nói đến một chủ đề mà chúng yêu thích) có thể thấy việc học hành là thú vị và thỏa mãn hơn người lớn.

Tất cả điều này đều có lý: ai dành nhiều thời gian hơn để sẵn sàng xem xét những câu hỏi như tôn giáo thực sự là gì và đâu là triết lý chính trị tốt nhất–các sinh viên đại học hay là bố mẹ của họ? Người sau thường chẳng thèm bận tâm, trong khi người đầu tiên thì chẳng thể nào có tìm tòi đủ đối với những câu hỏi lớn của cuộc đời. Do hệ thống phần thưởng nhạy cảm của bộ não tuổi vị thành niên mà những thứ có cảm giác chán ngắt đối với “người lớn”, như tìm kiếm sự thật, lại rất đáng quan tâm đối với người trẻ.

Tận dụng những sức mạnh tay ba của Bộ não ở độ tuổi đôi mươi

Tôi thích nghĩ về những thứ như khởi nghiệp, đạt được công việc mà bạn mơ ước, kết hôn, cam kết với một đức tin và thậm chí xúc tác cho một phong trào chính trị hoặc văn hóa, na ná như du hành vào vũ trụ. Một khi tên lửa của bạn rời khỏi bầu khí quyển của trái đất, thì nó có thể quay quanh quỹ đạo đó vô thời hạn. Nhưng để bay được ra ngoài không gian ngay từ đầu, bạn cần có một lực mạnh mẽ, to lớn dưới dạng động cơ đẩy tên lửa để vượt qua được lực hút mạnh của trái đất.

Vâng, bộ não ở độ tuổi 20 của bạn chính là động cơ đẩy tên lửa đó.

Những người trẻ ở độ tuổi đôi mươi ít khi nản lòng trước những rủi ro chưa được biết đến, và trở nên có động lực và quan tâm nhiều hơn bởi viễn cảnh về phần thưởng, trong khi người lớn thì ngược lại. Ở độ tuổi đôi mươi của bạn, bạn đầy đam mê và sẵn sàng học hỏi, và khả năng chịu đựng rủi ro cao hơn của bạn thúc đẩy bạn hành động theo đam mê và hiểu biết đó.

Thật không may, nhiên liệu của tên lửa của bộ não bạn đang bị rò rỉ khi bạn gần chạm đến ngưỡng 30. Bây giờ là thời điểm để cất cánh.

Tại sao bố mẹ bạn là những người cổ lỗ sĩ như vậy 

Giờ thì bạn đã có được một lời giải thích cho một nhận định mà có lẽ bạn từng đưa ra khi lớn lên: “Trời ơi, bố mẹ tôi trông chán quá. Họ dường như chẳng trăn trở về những điều sâu sắc hay đam mê tha thiết với bất cứ thứ gì. Họ luôn tuân theo thói quen của mình và vẫn nghe những bản nhạc tương tự như thời họ học đại học! Tôi sẽ không đời nào muốn trông giống như thế.” Bạn có lẽ cho rằng sự què quặt ổn định của họ là một chức năng của quyết định chủ động chọn “cách sống an phận” của họ, hay là hệ quả của cái cách mà những trách nhiệm của họ trong cuộc đời đã làm họ héo mòn. Những điều này chắc chắn là những yếu tố gây ra chứng Rối loạn Buồn chán ở Người lớn (Adult Boring Disorder (ABD). Nhưng nó cũng là do những thay đổi trong bộ não của họ, và những thay đổi này cũng sẽ xảy ra với bạn.

Phần lớn những người trưởng thành đều trông quá “buồn chán” và ghét rủi ro và không trải nghiệm cuộc đời một cách mãnh liệt vì sự nhạy cảm của hệ thống phần thưởng trong bộ não của họ đã chai sạn và vỏ não trước trán đã trưởng thành của họ đã dập tắt những cảm xúc đam mê của họ. Những sở thích âm nhạc của bố mẹ bạn đã chấm dứt từ thời đại học (ít nhất thì đây là lý thuyết của cá nhân tôi về chuyện này) vì âm nhạc không còn tạo ra cường độ tương tự, phản ứng cảm xúc sắc sảo như nó đã từng ở thời niên thiếu của họ (“Bạn phải nghe bài hát này!”) vì vậy nên nó không còn làm họ thích thú nhiều nữa.

Tôi thấy sự cân bằng của hệ limbic/vỏ não trước thay đổi tùy theo từng cá nhân–những nghệ sĩ và những kiểu người nhạy cảm khác dường như duy trì được nhiều hơn tí chút cường độ cảm xúc của tuổi trẻ, và tất nhiên một số người nghe nhạc tận tâm vẫn say mê với âm nhạc suốt cả cuộc đời họ. Rất nhiều người vẫn cố gắng duy trì sự tò mò và cảm giác phiêu lưu trong suốt cuộc đời họ—vì vậy đừng hiểu sai ý của tôi—bạn chắc chắn không bị an bài để trở thành một người lớn chán ngắt/vật vờ. Nhưng sau khi vỏ não trước trán hoàn tất quá trình trưởng thành thì tất cả mọi người đều trở nên chín chắn, ở mức độ này hay mức độ khác

Về phương diện nào đó, sự làm dịu đi cường độ cảm xúc của một người có vẻ như là một mất mát thực sự. Người ta thường tự hỏi tại sao quá nhiều nhạc sĩ tài năng đã chết vì tự tử hay chơi ma túy quá liều ở độ tuổi 27 (còn được gọi là Câu lạc bộ Mãi Mãi tuổi 27). Các nhạc sĩ thường sáng tác ra một số bài hát hay nhất trong những ngày đầu của sự nghiệp của họ–những bài hát họ viết trong giai đoạn tuổi trẻ của họ, được tiếp thêm nhiên liệu bởi cường độ cảm xúc của bộ não tuổi đôi mươi của họ. 27 tuổi là đúng khoảng thời gian mà vỏ não trước trán hoàn thành quá trình trưởng thành. Có thể nào do sự sụt giảm trong cường độ cảm xúc từng tiếp thêm cho sức sáng tạo của họ và cảm xúc của sáng tác của họ đã tạo ra một nỗi thất vọng sâu sắc ở các nghệ sĩ? Biết đâu được. Đó chỉ là một lý thuyết của cá nhân tôi mà thôi.

Nhưng đây là tin tốt–sự hoàn tất quá trình trưởng thành của não bộ không chỉ không khiến cho phần lớn chúng ta tự tử, mà trên thực tế bạn sẽ trải nghiệm điều đó như một cảm xúc tốt lành và sự thay đổi tích cực! Bạn quả thực có thể cảm nhận điều đó đang xảy ra. Rồi sẽ có một thời điểm vào khoảng tuổi 25 khi bạn nhận thấy một sự thay đổi ở bản thân mình. Bạn bắt đầu thấy mình cảm thấy ổn định hơn, vững vàng hơn, an toàn hơn. Bạn sẽ nghĩ về drama trong cuộc đời bạn mới chỉ vài năm trước và tự hỏi hồi đó bạn nghĩ gì thế–bạn sẽ cảm thấy mình đã thay đổi rất nhiều kể từ đó và bây giờ sẽ xử lý mọi chuyện khác đi rất nhiều so với bạn của ngày xưa. Khi bạn cảm nhận điều này, bạn sẽ biết rằng vỏ não trước trán của bạn đã hoàn tất sự trưởng thành.

Những giai đoạn trước và sau của việc chuyển đổi sức mạnh từ hệ limbic-đến-vỏ não trước trán không tốt cũng chẳng xấu; mỗi thay đổi có những sức mạnh phù hợp với một giai đoạn khác biệt trong cuộc sống. Ở độ tuổi đôi mươi, khi bạn đưa ra những quyết định và bước đi lớn, quan trọng, bạn cần có cảm xúc và cường độ cảm xúc để khích lệ bạn nghiên cứu và suy ngẫm về những câu hỏi lớn của cuộc đời, và động lực mạnh mẽ để chấp nhận rủi ro, mạo hiểm, và đưa ra những cam kết. Rồi sau đó đến độ tuổi ba mươi và lớn hơn, bạn cần sự điềm tĩnh tự tin để vượt qua những cơn thôi thúc bốc đồng và tâm trạng thất thường có hại của bạn, và để xây dựng những thứ mà bạn đã triển khai ở lứa tuổi 20–để phát triển doanh nghiệp của bạn, mở rộng phong trào của bạn, làm chủ một gia đình.  

Bí quyết đơn giản là tận dụng từng sức mạnh trong giai đoạn mà nó mang lại: Lứa tuổi 20 là để triển khai, còn độ tuổi 30 là để xây dựng những thứ mà bạn đã triển khai.

Kết

Bài viết ngày hôm nay đã nêu bật một số sức mạnh độc đáo của bộ não ở tuổi đôi mươi—ấy là khuynh hướng đam mê sâu sắc, can đảm đối mặt với rủi ro và sự tò mò về người khác và thế giới. Nhưng bạn nên hướng những sức mạnh này đi theo hướng nào? Hôm khác chúng tôi sẽ thảo luận về cơ hội thứ hai chỉ xảy ra một lần trong đời mà bộ não của tuổi đôi mươi mang lại.

Ở phần I của loạt bài gồm 2 phần này, chúng ta đã khám phá cơ hội đầu tiên chỉ xuất hiện một lần trong đời của bộ não ở độ tuổi 20: là khuynh hướng đam mê mãnh liệt và sự tò mò sâu sắc về người khác và thế giới, cùng lòng can đảm đối mặt với rủi ro. Nhưng các phẩm chất này chỉ là lợi thế nếu chúng được sử dụng theo cách mà chúng được thiết kế: làm động lực để dám chấp nhận mạo hiểm có chủ đích, hướng tới tương lai–những mạo hiểm kéo theo việc học hỏi những trải nghiệm mới, sự phát triển cá nhân và tính độc lập lớn hơn. Đánh liều để xem thử sẽ như thế nào khi uống bia theo kiểu shotgun sẽ không giúp bạn tiến lại gần hơn với tương lai lý tưởng của bạn.

Cùng một lúc với việc triển khai những đam mê của mình, bạn cũng nên tận dụng cơ hội tuyệt vời thứ hai của bộ não ở tuổi 20: cơ hội để đóng một vai trò tích cực trong việc định hình sự phát triển của phần điều hành của trí óc của bạn.     

Nếu tuổi 20 của bạn là để triển khai, còn tuổi 30 là để xây dựng, thì đây là cơ hội để huấn luyện “người thợ xây,” của bạn, vị “CEO” vỏ não trước trán, người mà bạn sẽ bàn giao quyền kiểm soát “start-up/công ty khởi nghiệp” của bạn vào cuối độ tuổi 20. Chuyển từ tuổi 20 sang 30 quả thực rất giống với việc ra mắt một công ty mà bạn biết rằng cuối cùng bạn sẽ rời đi; đồng thời bạn đang làm việc tích cực, bạn cũng cần đào tạo anh chàng mà cuối cùng sẽ tiếp quản vị trí của bạn, cho anh ta những kỹ năng và năng lực mà anh ta sẽ cần đến để chèo lái con tàu khi bạn đã rời đi. Chất lượng của việc đào tạo này sẽ quyết định rất nhiều đến thành công trong tương lai của sự cố gắng, tức là, phần còn lại của cuộc đời bạn.

Cắt tỉa Xi-náp trong khu vườn não bộ

Hôm trước chúng tôi đã nói về một quá trình rất quan trọng diễn ra trong bộ não ở độ tuổi 20, điều này rất quan trọng mà người trẻ cần nắm bắt được: sự tăng cường diễn ra cùng một lúc của hệ limbic-chấp nhận rủi ro, dễ xúc cảm, mãnh liệt và sự trưởng thành của vỏ não trước trán-lý trí, điềm tĩnh, vững vàng, kiểm soát cơn bốc đồng. Nhưng chính xác thì vỏ não trước trán trưởng thành như thế nào?

Phần lớn sự phát triển bộ não của chúng ta diễn ra trong 2 giai đoạn: sinh sôi quá mức và cắt tỉa. Đầu tiên, bộ não sản sinh quá mức hàng triệu xi-náp, nhiều hơn số lượng xi-náp mà bộ não có thể dùng đến—nó chuẩn bị-quá mức cho những gì sắp xảy ra. Sau đó nó tổ chức và cắt tỉa những liên kết nơ-ron dư thừa này, loại bỏ những liên kết nơ-ron không dùng đến và củng cố, ổn định hóa những liên kết đang dùng —giống như một thợ làm vườn cắt tỉa những cành khô héo khỏi một cái cây.

Từ lâu người ta đã biết rằng quá trình sản sinh quá nhiều/cắt tỉa này diễn ra trong 18 tháng đầu đời của trẻ sơ sinh. Bộ não tăng cường sản sinh ra các tế bào để chuẩn bị cho đứa bé học hỏi một lượng lớn thông tin về ngôn ngữ và thế giới xung quanh trẻ trong một khoảng thời gian ngắn. Sau 3 tuổi, nó bắt đầu từ từ tỉa bớt những liên kết nơ-ron không dùng đến để bộ não con người phát triển được 95% vào năm 6 tuổi.

Gần đây các nhà khoa học lại phát hiện thấy một vòng thứ hai của việc sản sinh quá mức và cắt tỉa xi-nap lại khởi động ở tuổi vị thành niên và kéo dài đến khoảng 25 tuổi. Lần này, việc sản sinh quá nhiều xi-nap của não bộ không tập trung vào những thứ mà một đứa bé cần biết, như ngôn ngữ và các kỹ năng vận động, mà đúng hơn là tập trung vào những khả năng thiết yếu cho việc lèo lái ở tuổi trưởng thành–suy nghĩ lý trí, lập luận, kiểm soát cơn bốc đồng, đặt mục tiêu và lên kế hoạch. Cắt tỉa xi-nap là quá trình mà thông qua đó sự trưởng thành của vỏ não trước trán thật sự diễn ra–cách mà bạn huấn luyện “vị CEO” của bạn.

Dùng nó hay Mất nó 

Vậy chính xác thì quá trình cắt tỉa xi-nap hoạt động như thế nào?

Mặc dù sự hoàn thiện của quá trình trưởng thành của vỏ não trước trán sẽ xảy đến với tất cả mọi người, nhưng không phải vỏ não trước trán của tất cả chúng ta sẽ “được thiết lập” theo cùng một cách. Sự phát triển của bộ não không đơn giản được định hình bởi tuổi tác, mà còn được định hình rất nhiều bởi trải nghiệm.

Bộ não không cắt tỉa những xi-nap dư thừa của nó theo kiểu điên rồ. Những xi-nap nào được giữ lại và xi-nap nào bị héo tàn được quyết định bởi những xi-nap nào được sử dụng và cái nào được cho phép nghỉ ngơi.

Theo Meg Jay, tác giả cuốn The Defining Decade lý giải:

“Theo lối dùng nó-hay-mất nó, những kết nối thùy trán mà chúng ta sử dụng được bảo tồn và tăng cường; còn những kết nối mà ta không dùng thì sẽ héo mòn thông qua việc cắt tỉa. Chúng ta trở thành cái mà chúng ta nghe, thấy và làm mỗi ngày. Chúng ta không trở thành cái mà chúng ta không nghe, không thấy và không làm hằng ngày. Trong khoa học thần kinh, điều này được gọi là ‘sự sinh tồn của cái bận rộn nhất.’”

Hay như nhà khoa học thần kinh, tiến sĩ Jay Giedd nói:

“Nếu một thiếu niên [hoặc người trẻ ở độ tuổi 20] đang học nhạc hay chơi thể thao hay học tập, thì đó là những tế bào và kết nối thần kinh sẽ được gắn chặt. Còn nếu chúng cứ nằm dài trên đi văng hoặc chơi game hay xem MTV, thì đó là những tế bào và kết nối thần kinh sẽ sống sót.”

Về cơ bản, điều này có nghĩa là nền giáo dục, những trải nghiệm và các mối quan hệ bạn lựa chọn theo đuổi ở độ tuổi 20 sẽ quyết định quá trình cắt tỉa xi-nap của bộ não của bạn.  

Điều này có nghĩa là bạn cần chủ tâm trong việc điều chỉnh vỏ não trước trán của bạn để đạt được hiệu suất tối ưu trong vài thập kỷ tới! Bạn muốn trao cho vị CEO vỏ não trước trán khóa huấn luyện nào? Những kỹ năng và năng lực nào mà bạn muốn rèn luyện cho bộ não để thực hiện khéo léo trong quãng đời còn lại của bạn?

Một số người đánh giá thấp tầm quan trọng của độ tuổi đôi mươi khi nói rằng nó đơn giản chỉ là một buổi diễn tập cho những điều sắp đến. Nhưng nếu đúng là thế thì bạn cần tự hỏi bản thân rằng bạn đang chuẩn bị để đóng vai trò gì. Nếu bạn đang ôm hy vọng tóm được vai trò của người chồng biết yêu thương và chung thủy thì liệu việc tập dượt bằng những cuộc tình một đêm có giúp bạn chuẩn bị tốt cho vai trò ấy hay không? 

Hãy rèn sắt khi còn nóng, và Kim loại còn đang mềm dễ uốn 

Sự phát triển cuối cùng này của bộ não cũng giống như nâng cấp hệ thống dây điện–sau khi nó hoàn tất, vỏ não trước trán sẽ hoạt động nhanh hơn và hiệu quả hơn. Nhưng bạn thắng ở tốc độ thì bạn thua ở sự linh hoạt.

Điều này làm cho khoảng thời gian trước khi công việc thiết lập hoàn tất là một thời điểm của cơ hội lớn. Trong khi bộ não của bạn còn linh hoạt và dễ uốn nắn, bạn có thể–và phải–đóng một vai trò chủ động trong việc định hình cách mà đường dây (nơ-ron) được thiết lập. Sẽ không bao giờ mà việc định hình bản thân, học hỏi những điều mới mẻ và trở thành kiểu người mà bạn mong muốn lại dễ dàng như thế nữa.    

Đừng hiểu sai ý tôi, bộ não “có tính dẻo/dễ uốn nắn” trong suốt cuộc đời của chúng ta. Chúng ta luôn luôn có thể thay đổi những thói quen và hành vi của mình, cho dù chúng ta 20 hay 60 tuổi. Nhưng một khi bộ não tuổi vị thành niên hoàn tất quá trình phát triển và “cài đặt” thì việc thay đổi đường lối hành động của chúng ta sẽ trở nên khó khăn hơn. Tính dẻo của bộ não tuổi vị thành niên thì dễ uốn nắn, trong khi tính dẻo của bộ não lớn tuổi thì gian nan hơn nhiều–đòi hỏi nhiều sự nhào nặn và nhiệt để uốn nắn nó.

Hoặc hãy nghĩ về nó theo cách này: đến giữa độ tuổi 20, việc uốn nắn hành vi của bạn cũng giống như tạo con đường mòn đi qua một bãi cỏ. Một khi bộ não của bạn đã hoàn tất quá trình phát triển thì nó sẽ muốn chọn đi theo con đường dễ nhất–những con đường mà bạn đã tạo ra, những liên kết nơ-ron mà bạn đã tạo dựng. Sau độ tuổi 20, việc tạo ra một con đường mới sẽ đồng nghĩa với làm một con đường băng qua một cánh đồng đã chuyển từ bãi cỏ mềm mại thành một khu rừng cỏ mọc um tùm, dày đặc đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn để cày xới. Việc này có thể làm được, nhưng khó khăn.

Trong suốt thời vị thành niên và đến độ tuổi 25, chất xám được cắt tỉa khi những liên kết nơ-ron không được sử dụng “teo đi,” trong khi những liên kết nơ-ron nào được dùng đến thì sẽ được củng cố và tổ chức hiệu quả hơn. Như đồ họa ám chỉ, những chứng nghiện bắt đầu từ tuổi vị thành niên đã gắn chặt vào não bộ khi nó “đã thiết lập,” khiến ta khó mà vứt bỏ chúng ở tuổi trưởng thành.

Đây là lý do tại sao các nhà nghiên cứu phát hiện thấy sau tuổi 30, những suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và tính cách của bạn trở nên tương đối ổn định và cố định. Quả thực không có nhiều tranh cãi giữa các chuyên gia về điểm này: một số vị nói rằng hầu như không có thay đổi nào có thể xảy ra sau tuổi 30, còn vị khác thì bảo những thay đổi nhỏ có thể xảy ra, và đó chỉ là vấn đề về mức độ của việc chia rẽ trong quan điểm. Điều mà tất cả bọn họ đều nhất trí đó là đến tuổi 30, phần lớn con người của bạn đã được kết tinh, và như Jay giải thích, “Tính cách của chúng ta thay đổi nhiều trong những năm tháng ở lứa tuổi 20 hơn bất kỳ thời điểm nào trước hoặc sau đó.” Ở độ tuổi 30, chúng ta chỉ đơn giản là “tiếp tục với, hoặc chỉnh sửa những động thái mà chúng ta đã tạo ra trong những năm 20 tuổi.”

Lý do vẫn còn những người đàn ông (và phụ nữ) ở độ tuổi 30 chưa trưởng thành, đó là họ tin rằng họ có thể dành những năm tháng tuổi 20 để buông thả và tiệc tùng rồi đến một ngày khi họ bước sang tuổi 30 mọi chuyện sẽ đến với họ một cách mầu nhiệm và họ sẽ sẵn sàng để chuyển sang giai đoạn khác. Nhưng khi bộ não của họ “thiết lập”–tính dẻo đã cứng lại—thì những thứ đang diễn ra trong cuộc sống của họ vào thời điểm đó–thức dậy trên sàn nhà của ai đó và làm việc ở cửa hàng Starbucks–đã khắc sâu vào vỏ não của họ.

Nếu bạn không muốn trở thành chàng trai ở độ tuổi 44 đang sống như thể anh ta mới 23 tuổi (ngay cả khi bản thân anh ta đã quá mệt mỏi với cuộc sống ấy và sẵn sàng cho một giai đoạn khác), hãy tạo tác vỏ não trước trán của bạn khi bạn đang ở độ tuổi đôi mươi bằng cách tìm kiếm các trải nghiệm và cam kết mà chúng sẽ luyện tập và thách thức khả năng lên kế hoạch, đặt mục tiêu và kỷ luật bản thân của bạn. Kéo căng bản thân bạn ngay bây giờ sẽ củng cố những liên kết nơ-ron tốt nhất, tăng cường và làm cho vỏ não trước trán của bạn trở nên dày dạn và tạo ra một nền tảng nhận thức không đơn giản là chuẩn bị cho một vài năm vui vẻ, mà cho cả một cuộc đời hạnh phúc và mãn nguyện.

Đừng lãng phí độ tuổi 20 

Hiểu nhiều hơn về cách thức não bộ hoạt động cho thấy trái với quan điểm cho rằng những năm tháng tuổi 20 có thể tùy ý sử dụng và không quan trọng, những công việc mà bạn đảm đương, những mối quan hệ mà bạn thiết lập, và những quyết định bạn đưa ra trong thập kỷ này trên thực tế có thể có ảnh hưởng rất lớn đến kiểu người mà bạn sẽ trở thành và quãng đời còn lại của bạn sẽ thành ra thế nào.

Kiến thức này, kết hợp với hiểu biết về sức mạnh đặc biệt của bộ não độ tuổi 20 mà chúng ta đã thảo luận ở bài trước, hy vọng là thuyết phục được bạn rằng quan điểm “Ba mươi là độ tuổi 20 mới” quả thực là một thứ tào lao. Những người bảo với bạn rằng: “Đừng có lo. Bạn còn nhiều thời gian mà,” có thể có ý tốt, nhưng thật sai lầm–độ tuổi 20 không thể hoán đổi với mọi thập kỷ nào khác sắp đến. Chúng chắc chắn là không thể sử dụng một cách tùy tiện.

Độ tuổi 20 của bạn thật sự là một cơ hội chỉ đến một lần trong đời. Một sự hợp lưu của nhiều yếu tố tạo ra một khoảng thời gian mạnh mẽ nhưng ngắn ngủi, và bạn nợ chính mình để tận dụng nó một cách hiệu quả nhất.   

Nhưng điều đó có nghĩa là gì? Bạn phải bỏ qua việc phiêu lưu và khám phá ở độ tuổi 20 và an cư lập nghiệp càng sớm càng tốt? Hầu như không.

Trên thực tế, độ tuổi đôi mươi là thời điểm lý tưởng để phiêu lưu và khám phá, song các trải nghiệm mà bạn lựa chọn nên có yếu tố chủ tâm/được định trước. Chúng không nên chỉ cho phép bạn nhìn và thử những điều mới mẻ, mà còn nên mở rộng tầm nhìn của bạn, ảnh hưởng đến tính cách của bạn và giúp bạn học hỏi và phát triển. Hãy tìm kiếm những trải nghiệm vừa khai thác những đam mê của bạn và luyện tập và kéo căng những khả năng điều hành của trí óc bạn.

Về cơ bản, những công việc mà bạn theo đuổi càng hướng đến (dù gián tiếp) mục tiêu cuối cùng của bạn thì càng tốt. Bạn không cần phải hoàn thành mọi mục tiêu của mình ở độ tuổi 20. Khi tôi bảo rằng tuổi 20 là thời điểm hoàn hảo để khởi động những chuyện lớn lao, khởi động không có nghĩa là hoàn thành–mà nó có nghĩa là bắt đầu.

Mặc dù tôi mở đầu bài viết phần I bằng cách liệt kê một số thành tựu đáng chú ý của những người đàn ông ở đầu độ tuổi 20, tôi làm vậy nhằm thể hiện tiềm năng lớn lao nhưng thường bị xem nhẹ của đàn ông trẻ tuổi. Nhưng cũng có hiệu quả tương tự như bản danh sách ấy là bản danh sách cho thấy những việc mà đàn ông ở độ tuổi 20 đã làm nhưng chưa mang đến thành công ngay lập tức, song đã giúp họ bước đi trên con đường hướng tới nó:

Ở tuổi 20: Plato trở thành môn đồ của Socrates, Mối quan hệ này đã mở đường cho  Plato phát triển những lối tư duy mới mà cuối cùng sẽ trở thành nền tảng của tư duy phương Tây.  

Ở tuổi  21: Jack London đã lên tàu đi đến Klondike trong cơn sốt đầu tiên của những người đi tìm vàng. Cuộc phiêu lưu của ông ở phương Bắc sẽ tạo ra chất liệu cho nhiều bài viết và cuốn sách nổi tiếng nhất của ông.

Ở tuổi 22: Charles Darwin đã đăng ký với tư cách là nhà tự nhiên học của HMS Beagle trong chuyến hành trình dài 5 năm đến Nam Mỹ và Quần đảo Galapagos. Mặc dù cha ông khuyên ông đừng đi, cho rằng sẽ lãng phí thời gian, song những quan sát và ghi chép phong phú của Darwin và bộ sưu tập những mẫu vật mà ông thu thập được trong hành trình đã giúp ông phát triển thuyết tiến hóa của mình.  

Ở tuổi 25: Nhà thần thoại học tương lai Joseph Campbell đã thuê một cái lán ở Woodstock, New York và tham gia vào quá trình nghiên cứu độc lập chuyên sâu và nghiêm ngặt, đọc các tác phẩm kinh điển 9 tiếng một ngày, trong 5 năm liên tục.

Ở tuổi 26: “Johnny Appleseed” đã mang hạt táo đến Thung lũng Ohio. Vâng, anh ấy đang gieo hạt theo đúng nghĩa đen ở độ tuổi đôi mươi.

Ở tuổi 27: Kurt Vonnegut, Jr. đã nghỉ việc tại General Electric để trở thành một nhà văn toàn thời gian, còn Henry David Thoreau thì bỏ đi trong hai năm để sống một mình trong một túp lều ở đầm Walden.

Tuổi đôi mươi không phải là xoay quanh việc hoàn thành mọi mục tiêu của bạn, mà đúng hơn là tạo dựng một nền tảng sẽ cho phép bạn xây dựng chúng trong suốt phần đời còn lại của bạn. Như Jay diễn tả: “Có một sự khác biệt lớn giữa có một cuộc sống ở độ tuổi 30 và bắt đầu một cuộc sống ở độ tuổi 30.” Bắt đầu cuộc sống của bạn và tạo ra một nền tảng vững chắc bao gồm việc tìm kiếm nền giáo dục, những trải nghiệm và những cuộc theo đuổi phù hợp với các mục tiêu của bạn, thách thức bạn và do đó tạo ra cái gọi là “vốn bản sắc- identity capital.” Vốn bản sắc bao gồm các mục sơ yếu lý lịch như bằng cấp và công việc và những công việc tình nguyện, mà còn cả các kỹ năng giao tiếp với người khác của chúng ta, khả năng phục hồi khi đối mặt với thất bại, khả năng giải quyết vấn đề khi gặp áp lực, và hiểu biết về văn hóa, thế giới và bản chất con người. Các nghiên cứu cho thấy, Jay viết, “Những người trẻ ở độ tuổi 20 dành thời gian để khám phá và cũng đủ dũng khí để đưa ra những cam kết trong cuộc sống thì tạo dựng được bản sắc mạnh mẽ hơn.” Những bản sắc này gắn liền với lòng tự trọng cao hơn, tính kiên trì, những kỳ vọng thực tế, một ý thức sáng tỏ hơn về bản thân, hài lòng hơn với cuộc sống, quản lý stress tốt hơn, lý luận vững chắc hơn và khả năng chống lại sự tuân thủ. Tất cả những phẩm chất này sẽ giúp bạn đứng vững bất kể đường đời đưa bạn đến đâu. Vốn bản sắc đóng vai trò như tiền tệ của sự nghiệp và các mối quan hệ; bạn càng tích lũy nhiều thì bạn càng trở nên “giàu có hơn”, và bạn càng có thể mở ra nhiều cánh cửa hơn khi bạn bước vào tuổi 30 và quãng đời còn lại của bạn.

Đợi đã Brett! Tôi đã ngoài ba mươi và loạt bài viết này làm tôi thấy buồn ghê gớm!  Liệu còn có hy vọng nào cho tôi không?

Tôi chắc chắn đã nhận thấy khá nhiều bình luận ở bài đầu tiên: “Điều này thật não nề. Tôi ước mình đọc được nó sớm hơn trong đời. Giờ thì đã quá trễ với tôi.”

Hãy vui lên những bạn ở độ tuổi 30 và 40 (hay các bạn ở độ tuổi 70 hoạt bát, am hiểu công nghệ). Loạt bài này được thiết kế để truyền cảm hứng cho những chàng trai ở độ tuổi 20 nhằm hiểu được thập kỷ này trong cuộc đời họ ẩn chứa biết bao nhiêu là tiềm năng, và cần tận dụng triệt để. Nhưng tôi không muốn những người lớn tuổi hơn bỏ đi với cảm giác chẳng còn hy vọng nào cho họ và họ sẽ phải chấp nhận với bất cứ nơi nào mà họ đang đứng trong cuộc sống.

Tôi thực sự tin rằng lứa tuổi 20 là thời gian lý tưởng để đưa ra những quyết định quan trọng, khởi động những chuyện lớn lao và lập cam kết–những đặc tính độc đáo nhưng sớm tàn của bộ não vị thành niên khiến bạn dễ dàng làm điều đó hơn bao giờ hết. Nhưng làm chuyện lớn và có những thay đổi sau lứa tuổi 20 không phải là bất khả thi, chỉ là khó khăn hơn thôi. Có rất nhiều ví dụ trong lịch sử về những người đàn ông có đóng góp vĩ đại nhất cho xã hội lúc về già. Tôi cũng biết có nhiều Joes đã thay đổi cuộc đời họ sau tuổi 30 sau khi dành những năm tháng tuổi 20 sống buông thả và giờ đang có cuộc sống thành công, hạnh phúc và mãn nguyện. Đối với những người có kỷ luật và tận tâm, cánh cửa dẫn đến sự vĩ đại luôn rộng mở.

Vậy tóm lại: Nếu bạn là một người trẻ, tôi cầu xin bạn hãy rèn sắt khi còn nóng và đừng để vuột mất cơ hội của tuổi 20. Và nếu bạn hơi luống tuổi, đừng nói lời giá như, thay vào đó hãy tiến lên với sức mạnh của bạn. Bất kể bạn bao nhiêu tuổi, một thuyền trưởng mạnh mẽ và khôn ngoan luôn luôn có thể xoay chuyển con tàu.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây