Phá Ngũ Ấm

106

Phải bám chấp (tin) vào cái tôi hiện tại, tinh tấn theo cái tôi hiện tại, kết hợp với quá trình văn tư tu liên tục(để cụ thể hơn và gần gũi hơn thì nó chính là chu trình PDCA cải thiện bản thân) thì mới sinh ra tuệ và cái tuệ này mới được nâng cấp dần, và nó sẽ gần với đạo.

Nếu không bám chấp vào cái tôi, không tin thì sẽ không tinh tấn, cũng sẽ không sinh tuệ được.

Có một số vấn đề chúng ta cần bàn luận thêm ở đây để các bạn cùng suy ngẫm:

Như vậy “hạnh phúc” chúng ta có thể đặt được mục tiêu cụ thể để đạt được thì chưa phải là hạnh phúc tuyệt đối.

Những mục tiêu cụ thể này vẫn thể hiện cái chấp ngã của bản thân, nên

Con người sinh ra là con người cũng là con của mẹ tự nhiên và cũng bình đẳng với muôn loài nên khi sinh ra hoàn toàn có thể sống hòa hợp với thiên nhiên, với người bằng tình yêu thương vô điều kiện.

Khi đấy con người sinh ra chính là bản thể của mình, và đạt được trạng thái hạnh phúc trong lúc sống hòa quyện với thiên nhiên.

Con đường nào đi tới với tự nhiên, con đường đấy càng thể hiện được sự bền vững, đây cũng chính là con đường được coi là gần với tự nhiên với bản thể nhất, và khi đó con người sống tựa vào muôn loài và đều được nương tựa vào mẹ tự nhiên.

Tuy nhiên, con người sinh ra, phần lớn chúng ta đang còn “tâm súc sinh – tâm tham” nên điều thực tế những con người đi theo con đường này thường sẽ bị đàn áp hoặc lợi dụng bởi những phần còn lại của xã hội, hoặc muốn sống hòa hợp với thiên nhiên cũng khó.

Con đường thứ 2: Dùng lao động để mở rộng trí huệ, lấy trí huệ để soi sáng tâm, “cải tâm nhờ trí huệ”, khi nhận được “trí huệ tuyệt đối” chúng ta cũng nhìn thấy được “chân tâm”.

Con đường này là con đường mà phần lớn xã hội bây giờ đang hướng tới, và đi theo con đường này trí huệ của chúng ta sẽ phát triển mạnh, nó kèm theo những hệ quả về mặt vật chất mà chúng ta đạt được khi có nhờ vào trí huệ mà chúng ta có thể cải tạo thế giới, tạo ra giá trị thực sự.

Tuy nhiên, con đường thứ 2 này lại là con đường phát triển cho cái tôi chấp ngã. Chấp ngã không chỉ coi cái tôi của mình là quan trọng. Không chỉ là tức giận khi bị người khác chê bai, chỉ trích mình mà khi làm một việc gì đó được người ta khen mà sướng cồn cào cả ruột gan, cái tôi cũng nổi lên.

Khi trí tuệ của chúng ta càng phát triển thì cái tôi của chúng ta càng tăng mạnh, nó làm nổi dậy cái tôi chấp ngã + sự “biết”. Nhưng cái “sự biết” này lại do dựa vào kiết sử (những định kiến mà do chính chúng ta ngộ nhận là “đạo” mà thực chất không phải là “đạo”).

Hạnh phúc từ tâm và tại tâm. Nên muốn có hạnh phúc phải sửa tâm.

Hiểu rằng mọi sự an vui hạnh phúc hay khổ đau phiền muộn đều do tâm thức mình tạo tác nên. Tâm ta tạo nên mọi thứ và chính tâm ta trải nghiệm những điều ấy.

Ngài Kalu Rinpoche nói: “Chẳng gì khác ngoài tâm tạo ra vũ trụ và chẳng gì khác ngoài tâm trải nghiệm điều ấy”. Sự việc này không tốt, con người này thật đáng ghét, đó là tâm ta tạo nên sự việc không tốt và con người đáng ghét đó; và chính tâm ta trải nghiệm sự bực tức, khó chịu và giận ghét đối với chúng, chứ không hề thực có con người, sự việc đáng ghét hay xấu nào cả.

Xấu hay tốt, đáng ghét hay dễ thương là tùy vào cảm xúc và nhận thức của ta. Ta có cảm xúc yêu thương, quý mến với người nào thì người đó là dễ thương. Còn cảm xúc khó chịu, giận tức với ai đó thì họ là người đáng ghét.

Vậy nên Shakespeare mới nói: “Không có sự vật hiện tượng hay hoàn cảnh tốt hay xấu mà chính cách nghĩ của con người khiến nó xấu hay tốt”. Nhận thức được như vậy thì ta không còn oán trách hoàn cảnh hay con người làm cho mình khổ nữa. Chỉ cần bạn không còn oán trách hoàn cảnh hay ai khác nữa về nỗi khổ đau của mình, thì nỗi đau khổ ấy lập tức hóa thinh không!

Thì hóa ra, các tâm lý phiền não như bất an, lo lắng, sợ hãi, sầu muộn… đều chẳng thật có, chúng chỉ là những cảm xúc bắt nguồn từ việc nhận thức sai lệch của ta mà ra. Đúng hơn, chúng như những con sóng ảo ảnh trên bề mặt tâm thức của ta vậy. Ấy thế mà bấy lâu nay ta cứ lầm tưởng chúng là thật có để rồi để chúng xô đẩy làm mình quay cuồng mãi trong mệt mỏi và khổ đau.

Chỉ cần bạn giác ngộ được rằng mọi sự phiền não bất an chỉ là những ảo ảnh và nở nụ cười đầy tỉnh thức trên môi, thì sự bất an phiền muộn ấy sẽ tan biến như làn khói tan vào hư vô, chỉ còn lại một nội tâm an bình tĩnh lặng!

Những tâm độc gây phiền não cho chúng ta đều có nguyên nhân của nó, chúng ta hãy tìm hiểu kĩ hơn qua các bài viết Ứng dụng Phật pháp trong phát triển bản thân và doanh nghiệp.

Tiếp sau đó: Muốn có hạnh phúc thực sự cần “Biết đủ”.

Và cuối cùng: Muốn có hạnh phúc trọn vẹn cần tựa vào vận động chung của tự nhiên, luôn hòa hợp với tự nhiên.

Nhận biết và cảm nhận được hạnh phúc thực sự là động lực thúc đẩy con người hành động.

Và có khi nào, trong cái hạnh phúc gọi là trọn vẹn của mình, chúng ta không thấy được sự bền vững. Sự hạnh phúc của chúng ta không lan tỏa, cộng hưởng thêm sự hạnh phúc của người khác.

Lý do của sự không bền vững, chính là sự ngộ nhận của chúng ta về hiểu “mình”. Cái “hiểu mình” này đã được hiểu sai thành việc làm thỏa mãn “cái tôi bản ngã”, “cái tôi ích kỉ”.

Và chỉ một số rất rất ít chúng ta nhận ra được điều này, đạt được trạng thái “ngộ”. Trạng thái đồng nhất được cái “mình” với “đạo” hay với “tự nhiên”. Và phải khi đó bạn mới đưa ra được cho mình những mục tiêu, những hành động chính xác nhất, đúng và tựa vào những vận động chung của tự nhiên, luôn cảm thấy hòa hợp với tự nhiên.

Và lạ thay, trong những lần giác ngộ này, những cái bạn nghĩ , mọi người nghĩ là đúng thì nó lại không còn chính xác nữa. Và những phần giác ngộ của bạn sẽ dần thay đổi tư duy, tư tưởng của bạn tương ứng với các tầng giác ngộ. Khi đấy các bạn mới hiểu được cái “mình” thực sự.

Các bài viết bổ trợ cho các bạn phần này: Hiểu “đạo”, hiểu “tự nhiên”Các trạng thái của sự tỉnh thức – giác ngộ

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây