Những Quan Điểm Về Mối Quan Hệ Con Người – Tự Nhiên Và Hiện Trạng Phát Triển Bền Vững Của Việt Nam

135

Sự bùng nổ của các cuộc cách mạng công nghiệp châu Âu trong những năm cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Đã đưa nền kinh tế của các nước Tây Âu vươn lên nhanh chóng, nổi bật là các nước: Anh, Pháp, Đức,… Đồng thời, trong giai đoạn đó cũng xuất hiện nhiều quan điểm đề cao phát triển kinh tế trong phát triển xã hội. Đồng nhất trong tăng trưởng và phát đã, và đã xem nhẹ mối quan hệ hài hòa giữa con người – xã hội – tự nhiên. Điển hình là quan điểm của một số nhà kinh tế như Adam Smith, J.M.Keynes, W.W.Rostow. Ngoài những giá trị khoa học, kinh tế, các lý thuyết này quá nhấn mạnh tốc độ tăng trưởng mà bỏ qua các hậu quả về môi trường và xã hội.

Từ năm cuối thế kỷ 20 trở lại đây, trước sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường tự nhiên. Và nhiều nguyên cứu cũng đã chỉ ra rằng, tình trạng đáng báo động của môi trường tự nhiên, sự bất ổn về kinh tế – xã hội, nguyên nhân là do con người. Quan ngại tương lai của Trái Đất, của con người, nhiều ý kiến và quan điểm đã điểm đã được đưa ra. Yêu cầu con người cần có những hành động cụ thể để bảo vệ môi trường tự nhiên như: Phong trào xanh, đạo đức sinh thái, phát triển bền vững, quan điểm xã hội hài hòa.

1. Một số quan niệm về mối quan hệ con người và tự nhiên trong triết học

1.1 Triết lý hòa hợp với tự nhiên trong quan điểm truyền thống phương Đông

Xuất phát từ mô hình vũ trụ: Quan niệm truyền thống Trung Quốc cho rằng con người là một bộ phận trong tam tai (thiên – địa – nhân) nên con người là bộ phận không thể tách rời của trái đất. Quan niệm của người Ấn Độ lại cho rằng mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là mối quan hệ giữa tiểu ngã và đại ngã, giữa bộ phận và toàn thể, vừa đồng nhất, vừa khác biệt.

Xuất phát từ bản chất con người: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo hầu hết đều quan niệm con người là kết quả của sự giao hòa những gì tinh túy của âm dương, trời đất mà thành.

Mối quan hệ của con người với tự nhiên
Triết lý hòa hợp với tự nhiên trong quan điểm truyền thống phương Đông

Nhìn chung, truyền thống hòa hợp với tự nhiên chủ yếu xem con người là bộ phận của tự nhiên, từ đó dẫn đến thái độ tôn trọng tự nhiên và mô phỏng trật tự nhiên. Đây là một truyền thống đáng quý, nó tạo nên tâm hồn, tình cảm, nét văn hóa phong phú, sinh động, độc đáo của phương Đông. Tuy nhiên, nếu xu hướng này bị đẩy tới cực đoan sẽ hạn chế khả năng sáng tạo và những sức mạnh to lớn trong việc tác động cải tạo thế giới tự nhiên của con người.

1.2 Triết lý chinh phục tự nhiên trong quan niệm truyền thống Phương Tây

Thời kỳ cổ đại: Hầu hết các nhà triết học đề cao năng lực tư duy của con người, một số nhà triết học đặc biệt đề cao con người cá nhân. Prôtago với luận điểm: “Con người là thước đo tất thảy mọi vật” – đặc biệt đề cao vai trò vị trí của con người trong thế giới hiện thực. Xôcrat với luận điểm con người cần nhận thức chính mình – đề cao năng lực tư duy của con người, nhờ đó con người có thể khẳng định vị trí trung tâm của vũ trụ.

Thời kỳ phục hưng và cận đại: Truyền thống tôn vinh con người thời kỳ cổ đại được khôi phục và phát triển mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực. Mối quan hệ con người và thế giới trở thành trọng tâm của các quan niệm triết học.

Nhìn chung, theo quan điểm truyền thống phương Tây, tính tích cực chủ động, sáng tạo của con người được đề cao trong quan hệ tự nhiên. Trên tinh thần đó con người đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc chinh phục tự nhiên, cải tạo hoàn cảnh. Nhưng cũng chính điều đó đã để lại những hậu quả nặng nề về mặt môi sinh mà các thế hệ ngày nay và mai sau phải gánh chịu

1.3 Triết học Mác về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên

Con người là bộ phận không thể tách rời của thế giới tự nhiên

Nguyên lý tính thống nhất vật chất của thế giới cho rằng, thế giới các sự vật, hiện tượng, đa dạng, phong phú nhưng đều là những biểu hiện khác nhau của vật chất đang vận động. Con người với tự nhiên là một, không đối lập nhau, điều đó được chứng minh bằng sự phát triển lâu dài của khoa học tự nhiên và triết học.

Bản chất con người: con người vừa mang bản chất tự nhiên vừa mang bản chất xã hội. Là kết quả sự tiến hóa của giới tự nhiên đồng thời là sản phẩm của quan hệ xã hội. Bản chất của con người là tổng hòa những quan hệ xã hội trên nền tảng sinh học.

Sự thống nhất biện chứng giữa con người và tự nhiên biểu hiện qua sản xuất vật chất, cải tạo tự nhiên (chúng quy định lẫn nhau).

Hoạt động có ý thức của con người, nhân tố quan trọng trong mối quan hệ con người – tự nhiên

Thứ nhất, tự nhiên tác động vào con người một cách tự phát, con người tác động vào tự nhiên một cách tự giác. Hoạt động có ý thức là điểm khác nhau căn bản giữa con người và loài vật, nhờ đó con người nâng mình lên cao hơn giới tự nhiên.

Thứ hai, quan hệ giữa con người và tự nhiên biểu hiện quan hệ khách quan và cái chủ quan, tự phát và tự giác, giữa tất yếu và tự do.

Thứ ba, nguyên tắc trong quan hệ giữa con người với tự nhiên là: Con người phải nắm vững quy luật của tự nhiên và biết vận dụng một cách chính xác trong hoạt động thực tiễn.

Bài học rút ra là, con người phải biết đánh giá tác động tới tự nhiên, môi trường trước khi thực hiện các hoạt động, phải tính tới cả những hậu quả gần gũi cũng như xa xôi. Để nhận thức, đánh giá những hậu quả đó là những quá trình lâu dài và bao gồm cả những yếu tố khoa học, yếu tố nhận thức, cả những yếu tố chính trị – xã hội. Cần các biện pháp thực tế để ngăn chặn những hậu quả môi trường và đã có nhiều hoạt động mang tính tự giác nhằm bảo vệ môi trường.

Mối quan hệ của con người với tự nhiên
Cần các biện pháp mang tính tự giác bảo vệ môi trường

Trình độ phát triển của xã hội vừa biểu hiện, vừa quy định trình độ tác động và tự nhiên của con người

Thứ nhất, nền sản xuất xã hội là hình thức biểu hiện của mâu thuẫn biện chứng giữa con người và tự nhiên. Khi xã hội mới hình thành, lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp, con người gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên một cách mù quáng vào tự nhiên. Khả năng của người tác động vào tự nhiên để đạt mục đích càng tăng làm nảy sinh mâu thuẫn phải giải quyết và lại nảy sinh mâu thuẫn mới dẫn đến những hậu quả tác động tiêu cực của sản xuất đến môi trường.

Thứ hai, mâu thuẫn biện chứng giữa con người và tự nhiên biểu hiện trong những quan hệ xã hội (quan hệ sản xuất). Quan hệ giữa con người và tự nhiên là do hình thái xã hội quy định và ngược lại. Các phương thức sản xuất có chiếm hữu tư nhân, nhất là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đã dẫn đến sự bóc lột, phá hoại, thống trị tự nhiên một cách quá mức.

Như vậy, khi trình độ phát triển của xã hội ngày càng cao thì khả năng chinh phục, cải tạo tự nhiên của con người càng gia tăng, mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên càng gay gắt. Để giải quyết mâu thuẫn này không chỉ cần đến những giải pháp kỹ thuật – công nghệ mà còn phải thay đổi căn bản mối quan hệ giữa người và người trong xã hội.

2. Quan điểm phát triển bền vững trong mối quan hệ con người với tự nhiên

Phát triển bền vững là một quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa tất các mặt của sự phát triển: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường,… Nhằm đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai.

Để giải thích tính tất yếu khách quan cũng như tính quy luật của quá trình phát triển của xã hội loài người theo hướng phát triển bền vững, cần nhắc đến cơ sở triết học sâu xa của nó là mối quan hệ giữa con người – tự nhiên – xã hội.

Thứ nhất, theo nguyên lý về sự phát triển: phát triển là xu hướng chung của xã hội loài người. Cái cũ đã lạc hậu, lỗi thời sẽ bị phủ định, cái mới ra đời sẽ ngày càng tiến bộ, hoàn thiện hơn. Phát triển bền vững là một hình thức phát triển trước đây đã bộc lộ nhiều khuyết điểm. Phát triển bền vững không chỉ là một chiến lược, một quan niệm đạo đức mà là một xu hướng tất yếu khách quan, một quá trình hòa nhập toàn diện giữa con người – xã hội – tự nhiên trên một trình độ văn minh mới.

Thứ hai, con người là hiện thân của sự thống nhất hòa đồng giữa tự nhiên và xã hội, là thực thể tự nhiên và xã hội, chịu sự tác động của hệ thống quy luật tự nhiên và xã hội.

Thứ ba, theo nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý tính thống nhất vật chất của thế giới, các mặt, các yếu tố của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội) chỉ là những bộ phận khác nhau của một thể thống nhất không tách rời. Do vậy, chúng phải tác động qua lại, quy định, ràng buộc, chuyển hóa lẫn nhau. Vì vậy, để phát triển bền vững phải đứng trên quan điểm toàn diện để phát triển cân đối hài hòa tất cả các mặt của quá trình phát triển.

Thứ tư, phát triển bền vững là nhu cầu tất yếu của sự tồn tại của con người và xã hội trong thực tiễn phát triển của thời đại ngày nay. 

3. Nhận thức đúng đắn của mối quan hệ con người với tự nhiên

3.1 Vai  trò  của  con  người  trong  mối quan hệ với tự nhiên.

Việc  con  người  ngày  càng  hiểu biết sâu sắc hơn về giới tự nhiên, có khả năng chinh phục hữu hiệu hơn đối với tự nhiên không có nghĩa là con người ngày càng trở thành “kẻ thù” hủy diệt tự nhiên. Giữa con người và tự nhiên có sự tác động qua lại, có mối quan hệ biện chứng khăng khít vậy trong thực tế sự trao đổi ấy ngày càng thể hiện tính một chiều, kho tàng tự nhiên phải chịu những gánh nặng nề hơn. Người ta chỉ chú trọng đến việc làm cho tự nhiên và xã hội đem lại cho con người những kết quả gần gũi nhất, rõ ràng nhất nhưng rồi sau đó người ta lại ngạc nhiên không hiểu tại sao những hậu quả xa xôi của những hoạt động nhằm đạt kết quả trước mắt hoàn toàn khác hẳn đi và trong nhiều trường hợp lại hoàn toàn trái ngược. Vì lẽ ấy, triết học Mác – Lênin đã khẳng định quan niệm: con người hòa hợp với tự nhiên thì sẽ là động lực to lớn thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, nếu con người hủy hoại làm tổn hại đến khả năng tự điều chỉnh của các hệ thống tự nhiên thì cũng là làm đến chính cuộc sống của mình.

Bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XX, cán cân sinh thái giữa con người với thiên nhiên trên hành tinh chúng ta đã lệch tới mức làm cho giới tự nhiên mất đi khả năng tự phục hồi. Ở khắp nơi, một khi bàn tay của con người hiện đại đã vô tình hay cố ý phá hủy một lĩnh vực nào đó của tự nhiên, thì ở đó cơ may phục sinh nó là cực kỳ nhỏ bé ngay cả khi con người thật sự phục hồi nó. Nguy cơ này đòi hỏi con người phải lưu tâm hơn nữa đến các quy luật phát triển sao cho sự phát triển của con người có thể vẫn không làm tổn hại đến giới tự nhiên, mà ngược lại làm giàu cho tự nhiên theo hướng con người hài hòa với tự nhiên. Việc nắm các quy luật tự nhiên, sự  phát triển của nhu cầu ngày càng kích thích thêm những hoạt động định hướng của con người nhằm chinh phục chế ngự các thế lực, các hiện tượng tự nhiên, bắt chúng phục vụ cho con người.

Mối quan hệ của con người với tự nhiên

Vượt trên những quan niệm đề cao môi trường địa lí môi trường tự nhiên hay sự khai thác một chiều của con người đối với tự nhiên, triết học Mác – Lênin không những khẳng định tính tất yếu phải đảm bảo sự thống nhất hài hòa giữa con người và tự nhiên trong quá trình phát triển mà còn chỉ ra vai trò của con người trong việc đảm bảo, duy trì sự thống nhất hài hòa ấy. Chính con người giữ vị  trí quyết định trong hệ thống “tự nhiên – con người– xã hội”. Cách thức mà con người tác động đến tự nhiên ra sao thì tự nhiên sẽ đối xử với con người như thế ấy. Con người và tự nhiên hòa hợp hay đối lập là do chính con người quyết định, mà nói một cách chính xác là do cách thức giải quyết mối quan hệ giữa con người và tự nhiên qua các hình thái kinh tế- xã hội quyết định. Tức là con người đối xử với tự nhiên tùy thuộc vào khả năng điều tiết và chiến lược phát triển của độ xã hội, tùy thuộc vào bản chất của chế độ xã hội.

Để điều khiển được mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, trước hết con người với tư cách là nhân tố có ý thức duy nhất cần phải nhận thức được những quy luật tồn tại và phát triển của tự nhiên và tiếp theo là phải biết vận dụng một cách đúng đắn, chính xác những quy luật đó vào quá trình hoạt  động thực tiễn của xã hội, mà quan trọng nhất là vào lĩnh vực sản xuất. Nói như Ăngghen: chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên khác với tất cả các sinh vật khác là chúng ta nhận thức được các quy luật của tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác.

Thiên nhiên là một người bạn của con người, điều đó không cần phải bàn luận gì thêm nữa, và vì thế nó không chịu được thái độ dã man đối với nó. Sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm  tài nguyên thiên nhiên, có thái độ quan tâm và chí tình đối với tự nhiên là điều kiện không thể thiếu được của tiến bộ khoa học kỹ thuật và của tiến bộ xã hội nói chung. Xã hội tư bản – con người phát triển kỹ thuật sản xuất thường quên một điều rằng tự nhiên không chỉ là của riêng của chúng ta, những người đang sống mà còn phụ thuộc về những con người trong tương lai, những thế hệ mai sau. Chúng ta hiểu bản chất tự nhiên, hiểu con người chưa đủ, nắm được quy luật tác động biện chứng giữa con người với tự nhiên cũng chưa đủ mà hơn thế chúng ta thấy được vị trí của con người trong việc đảm bảo sự hài hòa của  mối  quan  hệ  ấy  chính  con  người quyết định tương lai của mình. Con người không ngừng chinh phục và cải biến tự nhiên để thỏa mãn nhu cầu của mình nhưng đồng thời phải làm giàu tự nhiên và hòa thuận với tự nhiên.

Trước mắt con người vấn đề quản lý toàn bộ sinh quyển của hành tinh như là một hệ thống thống nhất vì lợi ích của mình đang được đặt ra. Bất kỳ một quốc gia nào cũng không đủ sức giải quyết độc lập nhiệm vụ này. Sự tác động lẫn nhau giữa con người và tự nhiên mang tính chất toàn cầu, nó đòi hỏi phải kết hợp mọi nỗ lực của tất cả các nước và các lục địa để bảo vệ của cải của trái đất vì lợi ích của toàn thể nhân loại.

Trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, triết học Mác– Lênin, một mặt là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận để nhận thức các quy luật tự  nhiên; mặt khác, quan trọng hơn, nó giúp chúng ta có những hướng hợp lí để sống hài hòa với tự nhiên, tạo nên sự thống nhất giữa con người và tự nhiên trong quá trình phát triển.

Đối với Việt Nam, trong tình hình phát triển kinh tế – xã hội hiện nay quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ giữa  con người và tự nhiên có ý nghĩa phương pháp luận to lớn. Đó không chỉ là cơ sở lý luận để chúng ta tin vào khả năng của con người và tự nhiên mà còn có thể giúp chúng ta thấy được con đường hiện thực để giải quyết những vấn đề cấp bách trong lĩnh vực này. Bởi lẽ, với quan điểm khoa học và cách mạng của con người trong cuộc đấu tranh để nhận thức và cải tạo thế giới, hơn bao giờ hết đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu và nhận thức những giá trị đích thực của triết học Mác – Lênin để phát triển, vận dụng một cách sáng tạo trong đời sống xã hội. Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam không chỉ là tiến đến xây dựng mối quan hệ công bằng, bình đẳng thực sự giữa con người và con người mà còn là xây dựng quan hệ thật sự hài hòa, thống nhất bình đẳng giữa con người và tự nhiên.

3.2 Một vài giải pháp nhằm giáo dục nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ở Việt Nam.

Thực tế nghiên cứu và giải quyết các vấn đề về mối quan hệ giữa con người và  tự nhiên – cụ thể là các vấn đề sinh thái của thời đại và trong điều kiện ở Việt nam hiện nay làm nảy sinh nhu cầu cấp thiết phải có một cơ sở lý luận làm nền tảng cho việc xem xét mối quan hệ giữa con người (xã hội) và tự nhiên, đặc biệt là vai trò ngày càng to lớn của con người và xã hội trong việc biến đổi tự nhiên.

Ở Việt Nam, do sự tồn tại đan xen của các nền văn minh khác nhau; sự gia tăng dân số quá nhanh so với sự phát triển kinh tế xã hội; hậu quả của chiến tranh… mối quan hệ giữa con người với tự nhiên bị xâm phạm. Sự hài hòa, thống nhất giữa con người và tự nhiên không được đảm bảo mà chỉ là sự tác động một chiều của con người vào tự nhiên làm môi trường tự nhiên bị tổn hại ở mức báo động. Mặc dù nền kinh tế thị trường cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ở nước ta chỉ mới thực sự hoạt động trong đời sống xã hội khoảng ít năm trở lại đây, song môi trường sinh thái từ thành thị tới nông thôn, từ vùng rừng núi đến vùng biển đã gánh chịu nhiều tác động tiêu cực của sự phát triển. Sự cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường là hai vấn đề cơ bản và nổi cộm hiện nay. Câu hỏi làm thế nào có thể trở lại sống hài hòa thực sự với tự nhiên trong thế giới hiện đại luôn là đề tài nóng bỏng.

Mối quan hệ của con người với tự nhiên

Nhận thức được mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là cơ sở của sự phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam hiện nay, nhấn mạnh vai trò nhân tố con người trong việc đảm bảo sự thống nhất giữa con người và tự  nhiên trong quá trình phát triển, tác giả cho rằng việc giáo dục nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ngày càng trở nên cấp thiết. Theo tác giả, để giáo dục nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong giai đoạn hiện nay cần:

Một là, thấu triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về tự nhiên, về vai trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên đối với tất cả các ngành, các trường đại học cao đẳng.

Hai là, xây dựng những môn học đề cập một cách trực tiếp đến vấn đề nóng bỏng này như    “con người và môi trường”, “môi trường và phát triển bền vững”, và đầu tư một cách thỏa đáng để tất cả các sinh viên đều được tiếp cận thực  tế, bằng trực quan sinh động tác động  để người học lĩnh hội được  một cách dễ dàng nhất. Có thể, trong chương trình  học  khuyến khích  sinh  viên  thực hiện những “phát minh xanh” áp dụng ngày vào đời sống. Qua đó giúp sinh viên nhận thức đúng đắn hơn về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.

Ba là, tăng cường sự liên kết quốc tế trong lĩnh vực giáo dục bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường – vấn đề toàn cầu hết sức cấp bách song phải công nhận một thực tế là vấn đề quản lý môi trường ở nước ta còn mới mẻ. Do vậy, sự hoà nhập của nước ta vào cộng đồng quốc tế, tiến hành toàn cầu hóa thương mại và bảo vệ môi trường là việc làm thiết thực. Theo tuyên bố của hội nghị liên hợp quốc về môi trường- con người tại Stockholm (6- 1972) chúng đã ta có định chế quốc tế và Việt Nam về bảo vệ môi trường. Gần đây, dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường đã được biên soạn và ban hành thông qua hoạt động của các tổ chức quốc tế và tiêu chuẩn hóa (ISO), đó là bộ ISO 14000 và ISO 14001, Việt Nam ta tiến hành soạn thảo những tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường. Rõ ràng xây dựng pháp luật và quản lý trong lĩnh vực môi trường cùng với các văn bản dưới luật tạo ra một hành lang pháp lý đồng bộ, cụ thể cho hoạt động của các xí nghiệp, các cơ sở dịch vụ và từng con người trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Điều quan trọng nhất  là  phải  làm  cho  những  điều  luật trong văn bản trở nên thực thi một cách nghiêm túc rộng rãi và công bằng đối với mọi người, đối với mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước.

4. Hiện trạng mối quan hệ con người – tự nhiên và sự phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay

4.1 Đánh giá tổng quát

Những thành tựu đạt được: Tình hình kinh tế – xã hội nước ta trong thời gian qua, đặc biệt là từ khi thực hiện chính sách đổi mới, đã có những bước phát triển đáng khích lệ, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người năm 2020 là 2,566 USD, cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu về các mặt chính trị, thể chế, an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội, phát triển con người và đã thực hiện tương đối thành công chiến lược Bảo vệ môi trường. Mối quan hệ con người – tự nhiên từng bước được điều chỉnh theo hướng giảm bớt những tác động tiêu cực và làm tăng những tác động tích cực tới môi trường. Điều đó đã cho thấy, việc điều chỉnh mối quan hệ con người – tự nhiên – xã hội để thúc đẩy sự phát triển xã hội theo hướng bền vững đã thực sự mang lại hiệu quả tích cực. Nó phản ánh xu hướng vận động tất yếu khách quan của đời sống xã hội, phản ánh chất lượng nhân văn của phát triển bền vững. Vì sự phát triển hài hòa của tự nhiên và xã hội, cá nhân và cộng đồng.

Những hạn chế: Ở nhiều nơi, quan điểm phát triển bền vững chưa được nhận thức sâu sắc và thể một cách cụ thể, nhất quán trong hệ thống chính sách, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết. Trong thực tế quản lý, điều hành vẫn còn hiện tượng thiên về tốc độ tăng trưởng mà chưa coi trọng đúng mức đến chất lượng tăng trưởng và tính bền vững của sự phát triển, nhất là trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Quá trình lập quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng, thực hiện chính sách bảo vệ môi trường chưa có sự kết hợp chặt chẽ, lồng ghép hợp lý, thậm chí còn tách rời, còn nhiều kẽ hở. Một trong những vấn đề được xã hội rất quan tâm hiện nay chính là sự mâu thuẫn giữa quy hoạch phát triển với chính sách quản lý môi trường. Cơ chế quản lý và giám sát phát triển bền vững chưa được thiết lập rõ ràng và có hiệu quả,… Xu hướng trong sản xuất và tiêu dùng xã hội đang diễn biến theo truyền thống của các quốc gia phát triển trước đây, tiêu tốn nhiều nguyên vật liệu, năng lượng và thải ra nhiều chất thải độc đã và đang sẽ tiếp tục làm cho môi trường tự nhiên bị ô nhiễm.

3.2 Hiện trạng một số lĩnh vực cần ưu tiên nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ con người – tự nhiên vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay

Những lĩnh vực cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững về môi trường bao gồm: Chống tình trạng thoái hóa đất, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước; Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản; Bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển; Bảo vệ, phát triển rừng và đa dạng sinh học; Giảm ô nhiễm khí ở các đô thị và khu công nghiệp; Giảm nhẹ và hạn chế những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, phòng và chống thiên tai; Quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại.

Những lĩnh vực cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững về kinh tế bao gồm: Duy trì phát triển kinh tế nhanh và bền vững; Thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường; Thực hiện quá trình “công nghiệp hóa sạch”; Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững.

Những lĩnh vực khác: Xóa đói, giảm nghèo, đẩy mạnh thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Phát triển sự nghiệp y tế, giáo dục, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cải thiện các điều kiện lao động và vệ sinh môi trường, đảm bảo anh sinh và phúc lợi xã hội; Giảm mức tăng dân số và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động; Củng cố, phát triển đời sống văn hóa, chính trị, phát triển con người.

Mối quan hệ của con người với tự nhiên

Có thể nói, sự phát triển trên từng lĩnh vực cụ thể trong thời gian qua đã đạt những thành tựu đáng kể. Song trước tác động của quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, tình hình tài nguyên, môi trường nước ta đang xấu đi nghiêm trọng. Những biểu hiện của nó là: tài nguyên đất, rừng, khoáng sản, đa dạng sinh học,… đang bị tàn phá và tiếp tục suy giảm nghiêm trọng. Môi trường đất, nước, không khí ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người.

Kinh tế phát triển chưa bền vững, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp, các cân đối vĩ mô chưa vững chắc. Xét về tiêu chí của phát triển bền vững, tỷ lệ sử dụng tài nguyên lớn, tiêu tốn nhiều tài nguyên thiên nhiên làm cho tỷ lệ giá trị gia tăng của nền kinh tế ngày càng kém, hiệu quả đầu tư cũng như sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp.

Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, còn nhiều hạn chế, yếu kém, gây bức xúc trong xã hội. Tỉ lệ thiếu việc làm vẫn còn ở mức cao; xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững; khoảng cách giàu nghèo gia tăng. Hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân chưa đáp ứng được nhu cầu. Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế.

Những nhân tố cơ bản có ảnh hưởng tiêu cực tới mối quan hệ con người – tự nhiên, cản trở sự phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay bao gồm: sự quản lý, điều hành của nhà nước và nhận thức của người dân còn hạn chế; dân số tăng nhanh; mặt trái của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; sự hạn chế của các quy trình kỹ thuật nông lâm, ngư, nghiệp.

Từ những phân tích hiện trạng mối quan hệ con người – tự nhiên và phát triển bền vững ở Việt Nam, có thể rút ra một số vấn đề chủ yếu:

  1. Mối quan hệ con người – tự nhiên và phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay đã được quan tâm và đạt một số thành tựu bước đầu nhưng nhìn chung giữa con người – xã hội – tự nhiên đã và đang nảy sinh những mâu thuẫn gay gắt, do vậy còn chưa thực hiện được phát triển bền vững, đòi hỏi phải có những giải pháp vừa toàn diện vừa cụ thể, vừa cấp bách vừa lâu dài.
  2. Thực trạng mối quan hệ con người – tự nhiên và phát triển bền vững ở Việt Nam cho thấy: mâu thuẫn giữa quan điểm, thể chế, chính sách đã lạc hậu, chậm đổi mới với những yêu cầu của thực tiễn biến đổi từng ngày. Điều này đã tạo ra những lỗ hổng trong quản lý dẫn đến những vấn nạn như tham nhũng, tiêu cực, quan liêu,… Tạo cơ hội cho những kẻ bất lương, tội phạm, những kẻ chạy theo lợi nhuận bằng cách phá hoại tự nhiên, hủy hoại môi trường, phá hoại sự cân bằng, hài hòa giữa con người với tự nhiên, cản trở sự phát triển bền vững; lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm được tuyệt đối đề cao, đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của người dân bị vi phạm nghiêm trọng, đòi hỏi phải sớm được khắc phục.
  3. Trong bước chuyển từ một nước nông nghiệp truyền thống sang một nước công nghiệp hiện đại đã nảy sinh mâu thuẫn giữa trình độ, năng lực của con người trong việc nhận thức và cải tạo các quy luật của tự nhiên và xã hội, giữa phương thức sản xuất và công nghệ lạc hậu với những yêu cầu bảo vệ tự nhiên, môi trường và phát triển bền vững trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải có sự đầu tư thỏa đáng trên mọi phương diện.

5. Phương hướng giải quyết hài hòa mối quan hệ con người – tự nhiên vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, quán triệt và thực hiện tốt những mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững: mục tiêu tổng quát là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Phát triển bền vững phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa các mặt của sự phát triển: môi trường, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và phát triển con người. Trong đó:

Mối quan hệ của con người với tự nhiên

Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là giải quyết hài hòa mối quan hệ con người – tự nhiên: khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường; bảo vệ các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh khuyển, bảo tồn đa dạng sinh học; khắc phục suy thoái, bảo vệ, cải thiện, phục hồi, tái tạo tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống.

Mục tiêu của phát triển bền vững về kinh tế là đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, nâng cao chất lượng tăng trưởng với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho phát triển bền vững về văn hóa – xã hội, môi trường; tránh nguy cơ rơi vào suy thoái, trì trệ và gánh nặng nợ nần cho các thế hệ tương lai.

Thứ hai, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ con người – tự nhiên vì sự phát triển bền vững.

Để đạt được mục tiêu đó cần quán triệt một số nguyên tắc sau đây:

  • Lấy con người là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển.
  • Phát triển kinh tế phải kết hợp đồng thời với phát triển văn hóa, chính trị, xã hội và bảo vệ môi trường trên cơ sở xây dựng mối quan hệ hài hòa con người – tự nhiên – xã hội. 
  • Lấy phát triển kinh tế là trọng tâm; khoa học công nghệ là động lực then chốt; văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội; ổn định chính trị, an ninh quốc phòng là điều kiện cơ bản; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường là yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển.

6. Một số giải pháp cơ bản để giải quyết hài hòa mối quan hệ con người – tự nhiên

6.1 Những giải pháp cơ bản về mặt môi trường:

  • Hoàn thiện quy định của pháp luật về quy định bảo vệ môi trường.
  • Tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức con người.
  • Tăng cường nguồn lực đầu tư vào bảo vệ môi trường.
  • Đổi mới kỹ thuật – công nghệ trong sản xuất và xử lý chất thải.
  • Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế trong hoạt động bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững.

6.2 Một số giải pháp cơ bản trên lĩnh vực kinh tế:

Ưu tiên thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường. Thực hiện quá trình “công nghiệp hóa sạch”, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững. Duy trì phát triển kinh tế nhanh và thân thiện với môi trường.

6.3 Một số giải pháp trên một số lĩnh vực khác:

Đưa ra giải pháp cơ bản cho các lĩnh vực ưu tiên nhằm xóa đói, giảm nghèo, đẩy mạnh thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Tăng cường phát triển sự nghiệp y tế, giáo dục, cải thiện các điều kiện lao động và vệ sinh môi trường, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội. Giảm gia tăng dân số và tạo thêm việc làm cho người lao động. Chăm lo củng cố, đời sống văn hóa, phát triển con người.

Kết

Trong suốt lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của xã hội, con người không ngừng tác động vào tự nhiên, chinh phục tự nhiên. Và trong mô hình phát triển truyền thống, mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên đã trở nên gay gắt. Đây là mô hình phát triển không bền vững với những hậu quả nặng nề về tự nhiên và xã hội. Trước sự kêu cứu của tự nhiên, hàng loạt quan điểm mới với mong muốn đưa con người gắn bó, hòa hợp với thiên nhiên. Các quan điểm này, mặc dù có sự khác biệt nhưng đều hướng hoạt động của con người hài hòa với tự nhiên. Trong đó, con người được xem là yếu quan trọng đóng vai trò chủ đạo.

Việt Nam cũng là một thành viên trong ngôi nhà chung Trái Đất nên quá trình phát triển không nằm ngoài quy luật chung. Vốn có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có điều kiện môi trường tự nhiên khá thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Song, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Môi trường đang xấu đi nghiêm trọng, nảy sinh các mối đe dọa đến sự phát triển bền vững. Để giải quyết hài hòa mối quan hệ con người – tự nhiên vì sự phát triển bền vững, đòi hỏi phải có những giải pháp toàn diện vừa cụ thể, vừa cấp bách vừa lâu dài trên tất cả các mặt của sự phát triển. Trong đó ưu tiên là lĩnh vực môi trường.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây