Những Câu Chuyện Về Ông Vua Thép Andrew Carnegie

132

Hiện nay, Hoa Kỳ là đất nước giàu có nhất thế giới. Người dân Mỹ có mức sống cao ngất ngưởng, họ sống tại những thành phố sang trọng, trong những tòa nhà chọc trời mọc như nấm ở khắp mọi nơi. Có thể nói để có một nước Mỹ như ngày nay, ông vua thép Carnegie thế kỷ 19 đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Andrew Carnegie (1935-1919) là một ông trùm thép tự chế, một trong những nhà tư bản nổi tiếng và vĩ đại nhất trong lịch sử ngành công nghiệp Mỹ, và là một trong số ít những người giàu nhất giàu nhất nước Mỹ ở thế kỷ 19. Năm 2007, tạp chí Forbes thống kê Carnegie là người giàu thứ 2 trong lịch sử nhân loại với tài sản 298,3 tỷ đô la sau lạm phát. 

Vào thế kỷ 19 thép của Andrew Carnegie đã xây dựng những ngôi nhà chọc trời đầu tiên trên thế giới ở Mỹ, sau đó các thành phố hiện đại đầu tiên cũng dần dần được mọc lên nhanh tới chóng mặt bằng thép của ông. Các cây cầu được nối dài từ bờ đông sang bờ tây qua các con sông lớn mà trước đây người ta chỉ có thể tưởng được một cách duy nhất để đi qua là bằng thuyền trên mặt nước, tất cả đều được xây lên từ thép của Andrew Carnegie.

Ông cùng với một đối thủ không đội trời chung của mình chính là ông vua dầu lửa John D. Rockefeller. Hai người họ chính là hai người đã cách mạng hóa nước Mỹ, đưa nước Mỹ vào một kỷ nguyên mới kỷ nguyên của hiện đại và phát triển, một người xây nên những ngôi nhà, những thành phố và con đường bằng sắt thép của mình, còn người kia thì thắp sáng cả nước Mỹ bằng dầu lửa của mình.

andrew carnegie
Chân dung vua thép Andrew Carnegie

Carnegie là một người hiếu thảo, ông cũng là một tấm gương từ thiện hào phóng và nổi tiếng nhất mọi thời đại, ông đã nêu một tấm gương tốt cho các doanh nhân thế hệ sau này như Bill Gates, Mark Zuckerberg noi theo như một thông lệ truyền thống để cuộc đời họ có ý nghĩa hơn và vẻ vang hơn, giống như một tượng đài ánh sáng cho các thế hệ sau này noi theo.

Từ cậu bé nghèo đến người kiến tạo nước Mỹ

Nhà công nghiệp và từ thiện Andrew Carnegie sinh ngày 25 tháng 11 năm 1835, tại Dunfermline, Fife, Scotland. Mặc dù ông ít nhận được một nền giáo dục đầy đủ và chính quy tại nhà trường nhưng Carnegie lớn lên trong một gia đình tin vào tầm quan trọng của kiến thức từ sách và tự học. Điều này khiến cho ông khao khát tìm kiếm tri thức suốt cả cuộc đời, ngoài ra ông sớm bộc lộ là người có kĩ năng toán học tuyệt vời và một trí nhớ nhạy bén những điều này cũng là nền tảng để ông trở thành một trong những người giàu có nhất lịch sử thế giới sau này. 

Ngay từ nhỏ, Andrew Carnegie đã có một niềm say mê đọc sách hiếm có. Ở chỗ làm người ta vẫn thấy Andrew thường mang theo sách để đọc vào bất cứ thời gian rỗi rãi nào. Bao nhiêu sách Andrew Carnegie đọc cũng hết. Không thể có tiền mua sách, Andrew lân la làm quen với tất cả những người có sách để mượn, để xin sách. Ngay từ lúc bấy giờ, nếu đến nhà Andrew, chắc ai cũng phải ngạc nhiên về cái thư viện sách khá phong phú của một chú thợ nghèo.

Khi đã thành đạt, Andrew Carnegie từng nói với nhiều người, những tri thức và hiểu biết của ông đều do tự học và tự đọc qua sách mà có cả. Có lẽ chính vì vậy mà Andrew Carnegie là người yêu sách vô cùng. Lúc bé, ông rất trân trọng cái thư viện gia đình nhỏ của mình và ao ước có một thư viện lớn hơn. Chính vì vậy mà khi đã thành danh, trở thành một nhà doanh nghiệp nổi tiếng, là người cực kỳ giàu có, Andrew Carnegie đã hiến rất nhiều tiền để xây dựng thư viện ở khắp nơi. Có lẽ không có ai có công quyên góp và hiến tặng nhiều thư viện như Andrew Carnegie.

Cha ông là một thợ dệt thủ công, một nghề thương nghiệp gần như bị loại bỏ bởi công nghiệp hóa. Khi công việc kinh doanh của cha mình thất bại, Carnegie và gia đình phải đối mặt với nạn đói. Trong hoàn cảnh khó khăn, họ quyết định thực hiện một khởi đầu mới ở Mỹ. Năm 1848, ở tuổi 13, khi còn là một cậu bé Carnegie chuyển đến Hoa Kỳ cùng với gia đình. 

Họ sống ở Allegheny, Pennsylvania, ở tuổi thanh thiếu niên, Carnegie có công việc đầu tiên tại một nhà máy bông gần Pittsburgh. Ông làm việc như một cậu bé quấn chỉ. Ông đã dành sáu ngày một tuần tại nhà máy, thường xuyên làm việc 12 giờ một ngày, với mức lương hàng tuần là 1,20 đô la. Mặc dù điều kiện khắc nghiệt, Carnegie đã tìm thấy một mục tiêu rõ ràng. Trong cuốn tự truyện của mình, ông nhớ lại “Tôi đã kiếm được hàng triệu đô la kể từ đó, nhưng không ai trong số hàng triệu người đó mang lại niềm hạnh phúc như thu nhập trong tuần đầu tiên của tôi. Tôi bây giờ là một trụ cột của gia đình”.

Một nhà sản xuất địa phương đã quan sát đạo đức làm việc của Carnegie và thuê ông chạy một động cơ hơi nước. Công việc này đã tăng lương lên 2 đô la mỗi tuần nhưng khiến ông vô cùng kiệt sức. Sau vài tuần, ông đã sẵn sàng nghỉ việc. Tuy nhiên, Carnegie đã nghĩ về sự hy sinh của cha mẹ mình và biết ông không thể bỏ cuộc. Một ngày nọ, nhà sản xuất cần người xử lý hóa đơn. Carnegie đã dành thời gian rảnh của mình để cải thiện các kỹ năng toán học và nắm bắt cơ hội để trở thành một nhân viên bán hàng.

Andrew Carnegie tin rằng không có công việc nào là thấp kém. Kể từ xuất phát điểm, Carnegie đã thể hiện một sự cống hiến hết mình cho công việc và tách ông ra khỏi các đồng nghiệp của mình.

Nhiều người trong chúng ta có những công việc tẻ nhạt và mệt mỏi. Đó là điều tự nhiên khi mà chúng ta dành ít năng lượng của mình với công việc. Tuy nhiên, đó là một sai lầm rất lớn. Một công việc buồn tẻ thường cung cấp một cơ hội vàng để nổi bật. Nếu đồng nghiệp của bạn bị mất đi cơ hội thì những nỗ lực của bạn có nhiều khả năng được chú ý. Trong những ngày đầu sự nghiệp của Carnegie, ông làm việc trong môi trường đặc biệt khó khăn, và ông đã luôn tìm mọi cách để những nỗ lực của mình được tỏa sáng.

Bất kể công việc, chức danh của bạn là gì hay tiền lương của bạn ra sao, mỗi ngày hãy tự cam kết với bản thân để trở nên tốt hơn. Sự nhiệt huyết của bạn không chỉ mở ra cánh cửa cơ hội mà còn khiến bạn yêu thích công việc của mình hơn. Theo lý thuyết tự nhận thức, hành vi nói lên thái độ cũng như thái độ cho biết hành vi.

Khoảng một năm sau, một người quản lý văn phòng điện báo địa phương đang tìm kiếm một người đưa tin mới. Carnegie được biết đến như một thanh niên đáng tin cậy và siêng năng. Với giá 2,50 đô la một tuần, Carnegie sẽ phải dành cả ngày để chạy đua quanh thành phố. Để làm tốt công việc mới này, ông đã ghi nhớ các đường phố ở Pittsburgh và địa điểm của các doanh nghiệp quan trọng. Một đêm nọ, ông chủ của Carnegie đã tuyên bố ông là người đưa tin tốt nhất trong văn phòng và hứa cho ông một phần thưởng. Khoảnh khắc tràn ngập niềm tự hào ấy đã khiến ông xúc động đến chảy nước mắt.

Ngay sau đó, Carnegie được yêu cầu thay thế một người thợ máy điện báo. Ông nhanh chóng được thăng chức thành nhân viên làm việc toàn thời gian. Nhờ việc dành nhiều thời gian để làm quen với âm thanh điện báo, Carnegie nhận tin nhắn nhanh hơn nhiều so với các người thợ máy khác. Khi một thảm họa xảy ra ở một thị trấn gần đó, ông được phái đi để làm việc với các đường dây điện báo.

Bước ngoặt cuộc đời

Với những tham vọng lớn lao của mình công ty điện báo ở địa phương đã trở nên quá nhỏ bé để có thể giữ ông ở lại, vào năm 1853 ông chuyển tới làm việc tại công ty Đường sắt Pennsylvania, với chức vụ trợ lý và sứ giả điện tín cho một trong những công ty lớn nhất đất nước vào thời điểm đó.

Ở đây ông gặp được Thomas Scott, người sẽ có ảnh hưởng lớn nhất tới sự nghiệp và cuộc đời của ông. Một người thầy đáng kính, người bạn tri kỷ và người đồng hành trong những năm đầu sự nghiệp. Có lẽ nếu như không có Thomas Scott không có sự dẫn dắt và hỗ trợ của ông thì Andrew Carnegie sẽ rất khó khăn trên con đường sự nghiệp của mình. Với sự trẻ trung, năng động, trí thông minh cùng với khả năng quyết đoán trong công việc, Thomas Scott rất yêu quý Carnegie và nhận thấy rằng trong con người cậu bé này có tố chất của một thiên tài. Điều này khiến cho Thomas Scott nhận cậu làm trợ lý riêng cho ông ta và quyết định bồi dưỡng dẫn dắt cậu bé này.

Scott đã dạy Carnegie về các khoản đầu tư và đưa ông đến một loạt các doanh nghiệp mới. Khi nội chiến nổ ra, Scott được chỉ định quản lý tuyến đường sắt ở phía Bắc, ông đã đưa Carnegie đi theo như một trợ thủ đắc lực và cánh tay phải của mình. Trong vai trò này, Carnegie nhận thấy rằng đất nước cần một cuộc đại tu cơ sở hạ tầng khổng lồ. Ông chắc chắn rằng thép sẽ là vật liệu xây dựng của Mỹ trong tương lai. Ông rót thu nhập đầu tư tích lũy của mình vào việc mở một nhà máy thép. 

andrew carnegie

Tới năm 24 tuổi, Carnegie đã đảm nhận vị trí giám đốc công ty. Cùng với Thomas Scott hai người họ có tham vọng mở rộng đường sắt về phía tây và thậm chí thâu tóm cả ngành đường sắt của quốc gia để trở thành công ty đường sắt lớn nhất trên thế giới. 

Trong khi làm ở công ty đường sắt cùng với Thomas Scott, Carnegie đã học hỏi được rất nhiều về sắt thép cũng như công việc kinh doanh, và cũng từ đó Carnegie bắt đầu có những vụ đầu tư riêng của mình, được sự ủng hộ của Thomas Scott, Carnegie đã có rất nhiều khoản đầu tư thành công mang lại lợi nhuận đáng kể.

Năm 1864, Carnegie đầu tư 40.000 đô la vào Story Farm một trang trại ở Venango County, Pennsylvania chưa đầy một năm sau ông thu về 1.000.000 đô la tiền mặt cổ tức, cùng với nhiều vụ đầu tư có giá trị khác. Tới năm 1865 ông nghỉ việc việc ở công ty đường sắt để tập trung vào các công việc kinh doanh riêng của mình.

Đế chế Carnegie 

Cũng trong năm 1865 Carnegie thành lập công ty Keystone Bridge, và bắt đầu dự án quan trọng đầu tiên của đời mình, xây dựng một cây cầu lớn nhất nước Mỹ bắc qua sông Mississippi để nối liền phía đông với phía tây của đất nước, điều chưa từng có trước đây.

Cây cầu mà Scott vạch ra…sẽ là cây cầu lớn nhất nước Mỹ. Vấn đề là, Carnegie không biết làm sao thế nào để xây nó. Cây cầu bắc qua sông Mississippi sẽ nối phía đông với phía tây điều chưa từng có trước đây. Vượt qua sông Mississippi, đó là chìa khóa cho thành công đối với bất kỳ công ty đường sắt nào. Một khi đã vượt qua được sông Mississippi bạn có thể tiến về phía tây.

Câu hỏi là: làm cách nào để vượt qua sông Mississippi? Cây cầu sẽ phải dài hơn 1 dặm. Một trong 4 cây cầu xây vào lúc đó đã sập. Và không ai xây một cây cầu đường sắt to cả. Nhưng Carnegie biết phải mạo hiểm thì mới thành công lớn. Ông đầu tư mọi thứ ông có vào cây cầu. Andy Carnegie chuẩn bị cẩn thận từng bước một. Ông tin mình có thể làm được. Thép là kim loại cứng nhất từng được sản xuất vào thời điểm đó. Được tạo thành bởi hỗn hợp sắt và các bon ở nhiệt độ hơn 2000 độ. Vấn đề là nó quá đắt đỏ và rất khó để sản xuất hàng loạt. 

Ở thời của Carnegie sắt rất hiếm, nó chỉ được dùng để sản xuất các đồ vật nhỏ. Nĩa, dao, và đồ trang trí. Cho tới tận lúc đó chưa ai từng dùng sắt để xây dựng các công trình lớn. Nhà phát minh người Anh Henry Bessemer, đã tạo ra thiết bị rút ngắn thời gian sản xuất thanh đường ray đơn bằng thép từ 2 tuần xuống 15 phút. 

Carnegie hiểu được vai trò của của công nghệ mới…Và bắt đầu vận dụng nó. Mỗi doanh nhân có một nét riêng, có một tài năng riêng biệt, một sản phẩm riêng biệt, khả năng riêng biệt. Điều quan trọng là đi tìm nó, và sau khi tìm thấy nó thì dùng nó làm vốn. 

Với thép trong tay, Carnegie đã có khả năng để bắt đầu xây dựng. Ở tuổi 33, Andrew Carnegie đã sẵn sàng đương đầu với những điều không thể…Xây dựng cây cầu lớn đầu tiên bắc qua sông Mississippi là điều tưởng như không thể đầu tiên để kết nối nước Mỹ.

Nhưng quyết định sử dụng thép đã cho Carnegie thấy sự tốn kém. Sau 2 năm lập kế hoạch Carnegie mới bắt đầu xây dựng. Dù tính toán rất chi tiết nhưng chi phí xây dựng liên tục tăng. Ngân quỹ không còn đồng nào, Carnegie buộc phải tạm dừng xây dựng. Giấc mơ đẹp của ông dần trở thành ác mộng. Nhưng ông sẽ không bỏ cuộc mà không chiến đấu.

Một nước Mỹ hiện đại đang hình thành. Các chuyến tàu đã tới 4 góc của châu lục. Các ngôi nhà trên toàn quốc sáng đèn mỗi đêm. Và tham vọng xây dựng đất nước đang được tiến hành bên bờ sông Mississippi…được dẫn đầu bởi Andrew Carnegie. Carnegie đang kiên định xây dựng cây cầu của mình bằng thép…thứ kim loại chưa được kiểm chứng.

Với một mức giá khổng lồ. Công trình xây dựng vượt dự toán nhiều lần khiến quỹ xây dựng của Carnegie nhanh chóng trống rỗng. Đó là một áp lực không nhỏ mà Carnegie phải giải quyết. Mọi người ai cũng từng sợ. Sự khác biệt giữa người thành công và người thất bại, theo tôi nghĩ, là bạn sợ theo cách nào? Bạn có cố gắng vượt qua nó? Hay bạn để nó đánh gục? Và tôi cho là đó là sự khác biệt thực sự giữa người thành công và những người còn lại.

Tuyệt vọng, Carnegie tiếp cận các nhà đầu tư, tìm thêm nguồn tiền mặt.

– Các ông sẽ rất vui khi biết rằng tiến độ xây dựng cầu St. Louis đang rất thuận lợi. Tôi tin tưởng rằng thép rất có tương lai; tuy nhiên, cung cấp một số lượng lớn thép là một khó khăn, khiến chúng tôi bị trì hoãn. Nó cũng được chứng minh là rất tốn kém. Theo dự đoán của tôi chúng ta sẽ cần thêm một triệu đô-la trước năm mới. Nhưng tôi hoàn toàn tự tin khi khánh thành mọi người sẽ tới chiêm ngưỡng cây cầu như là kỳ quan thứ 8 của thế giới.

Trân trọng,

Andrew Carnegie.

andrew carnegie
Cây cầu huyền thoại St Louis làm bằng thép đầu tiên bắc qua dòng sông Mississippi

Nỗ lực của Carnegie cuối cùng đã có kết quả: tài chính được đảm bảo. Và sau 4 năm, cây cầu được hoàn thành. Đó là một thành tựu vô cùng ngoạn mục. Sau thành công đó, Carnegie nhận thêm nhiều đơn hàng cho thép của ông, hơn nhiều lần khả năng ông có thể cung cấp.

Và khách hàng lớn nhất của ông là ngành công nghiệp mà ông nắm rõ nhất. Đường sắt đang tìm cách thay thế các cây cầu cũng như đường ray của họ bằng thép. Nhưng Carnegie không thể sản xuất đủ thứ kim loại mới này cho các đơn hàng. Ông cần phải tăng cường khả năng sản xuất của mình. Và để làm điều đó, ông cần huy động thêm vốn bổ sung. Vậy nên ông quay lại người thầy cũ của mình, Tom Scott.

Với sự giúp đỡ của Scott, Carnegie đã có số vốn hơn 21 triệu đô-la theo tỉ giá hiện nay. Với số tiền đó, ông bắt đầu xây dựng nhà máy thép đầu tiên của mình. Ông nhìn thấy tương lai và ông sẵn sàng đầu tư vào nơi mà những nhà đầu tư Mỹ khác đang sẵn sàng đầu tư: xây dựng các nhà máy khổng lồ. Với diện tích hơn 4 ngàn (4 mươi ngàn) mét vuông tại ngoại ô Pittsburgh… … nhà máy thép Carnegie là nhà máy lớn nhất quốc gia. Có khả năng sản xuất 225 tấn thép một ngày. 

Sau khi xây dựng nhà máy, Carnegie có thể cung cấp đủ số lượng thép mà quốc gia cần, thép cũng mang về cho ông một khối tài sản khổng lồ. Nhưng một thử thách mới lại đang đến gần và một lần nữa ông lại bị thách thức trước số phận, Sau nhiều năm phát triển quá mạnh mẽ ngành đường sắt đang phải vật lộn với vấn đề lợi nhuận, có quá nhiều công ty đường sắt vào thời điểm đó trong khi không có đủ lượng hàng hóa để vận chuyển.

Lợi dụng sự khan hiếm hàng hóa của đường sắt, ông trùm dầu lửa Rockefeller nắm lấy thời cơ để hạ giá vận chuyển dầu của mình. Thomas Scott cố gắng giữ giá để tránh bị phá sản tuy nhiên ông không thể sống mà không có dầu của Rockefeller. Nhưng thời đại của ông đã chấm dứt, sự nghiệp của ông bị tan rã và không bao giờ có thể khôi phục lại được nữa.

Năm 1881 Thomas Scott chết, Andrew Carnegie mất đi người thầy của mình người đã ảnh hưởng đến cuộc đời ông hơn bất kỳ ai khác. Và bây giờ Andrew Carnegie muốn trả thù. Sự phát triển của nước Mỹ sau cuộc nội chiến không phải là một thiên sử thi ngắn.

– Tàu hỏa kết nối phía Đông sang phía Tây là điều mà trước đây chưa từng có.

– Dầu lửa thắp sáng các ngôi nhà từ bờ bên này sang bờ bên kia đất nước. 

– Thép đã tái tạo lại cảnh quan. theo cái cách chưa bao giờ được ai nghĩ tới. 

Nhưng khi sự phát triển tưởng như không thể cản nổi ngành công nghiệp đường sắt, xương sống của kinh tế Mỹ, sụp đổ. Và quốc gia bị đẩy vào một cuộc suy thoái tồi tệ nhất từng được biết tới. Andrew Carnegie đang trên bờ vực mất tất cả. Không có đường sắt, ông không biết bán thép của mình cho ai cả và ông đổi lỗi cho John D. Rockefeller.

Thất bại trong việc tìm thị trường mới, Carnegie lại phát hiện ra một xu thế mới mà ông có thể tận dụng. Hàng ngàn người Mỹ thất nghiệp do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đổ về các thành phố như New York và Chicago, để tìm việc. Và để có chỗ ở cho sự gia tăng dân số đó, các tòa nhà đang được xây dựng càng nhanh càng tốt.

Tương lai của ngành thép là ở đây, không phải là ở các đường ray tàu trong quá khứ nữa, mà là những kết cấu thép, các cột, dầm, xà dùng để xây dựng nên các tòa nhà chọc trời và các thành phố hiện đại.

Phép màu lại đến với Carnegie một lần nữa ông đã nhìn thấy cơ hội trước những người khác và đã nắm bắt đúng thời điểm. Tòa nhà cao nhất thế giới đầu tiên được xây ở Chicago. Các bức tường gạch mỏng bao quanh những khung xà giày được sản xuất từ thép của Carnegie.

Trong vài năm tiếp theo, chỉ riêng tại Chicago, đã có hơn 100.000 tòa nhà mới được xây dựng từ thép của Carnegie. Các thành phố hiện đại được xây dựng nên ở khắp nước Mỹ bởi thép của Carnegie. Sự bùng nổ của các tòa nhà chọc trời, và các thành phố thép đã biến Andrew Carnegie thành người giàu thứ hai của nước Mỹ chỉ đứng sau ông vua dầu lửa John D. Rockefeller người có tài sản gấp 7 lần ông vào thời điểm đó.

andrew carnegie
Những tòa nhà cao lớn làm bằng thép của Carnegie mọc lên như nấm ở Chicago

Cạnh tranh để trả thù

Carnegie muốn trả thù cho cái chết của Thomas Scott mà ông đã đổi lỗi cho Rockefeller, và cho những khó khăn trước đây của ông do những tính toán và mưu mô kinh doanh thâm độc của Rockefeller gây ra. Ông cần phải vượt qua Rockefeller để trở thành người giàu nhất nước Mỹ.

Nhưng ông không có sự nhẫn tâm của Rockefeller cũng như những tính toán của ông không bao giờ có thể tàn nhẫn và thâm độc được như Rockefeller. Do đó ông cần sự hợp tác của một người còn tàn độc hơn cả đối thủ của ông ta. Một người hoàn hảo để giúp ông trả thù, Henry Frick là một tỷ phú tự lập ở tuổi 30. Ông ta là một trong những nhà cung cấp than lớn nhất miền Trung Tây Hoa Kỳ.

Frick nổi tiếng với biệt hiệu dành lấy mọi thứ mình muốn mà không quan tâm tới điều gì khác, ông ta bị ám ảnh bởi quyền lực và luôn muốn chinh phục tất cả, nhưng lại không quan tâm tới những người xung quanh nghĩ gì.

Sự hợp tác giữa Carnegie và Frick tương tự như các hợp tác kinh doanh tốt ngày nay. Bạn muốn một người nào đó hoàn toàn trái ngược và khác biệt với bạn mà bạn có thể chấp nhận. Việc giao quyền cho Frick đã khiến công ty thép Carnegie dần thành hình. Sếp của ông ta, Carnegie tin rằng Frick sẽ dùng sự cứng rắn để cắt giảm giá thành và giảm sự lãng phí…. tức là kiếm được lợi nhuận lớn hơn. Thâm độc và tàn nhẫn đã khiến cho Frick lèo lái công ty thép Carnegie mở rộng với tốc độ đáng kinh ngạc. Chỉ trong vòng 2 năm, lợi nhuận đã tăng gấp đôi. Với việc đẩy mạnh sản xuất, Carnegie và Frick đã mua lại hầu hết các đối thủ của họ trên khắp đất nước.

Frick sử dụng cả sự đe dọa và nỗi kinh hoàng để đàm phán hợp đồng với các nhà cung cấp, cắt giảm tối đa các chi phí trong khi vẫn thúc ép công nhân làm việc cật lực trong điều kiện khốn khổ nhất để tăng sản lượng. Những năm cuối cùng của thập kỷ, Công ty thép Carnegie kiếm được lợi nhuận lớn hơn bao giờ hết.

Để vượt qua người giàu nhất đất nước Rockefeller, không thể chỉ là một người kinh doanh thép có lãi. Andrew Carnegie phải trở thành người có lãi nhất. Và để làm điều đó, ông cần một vũ khí. Ông để ý tới một nhà máy thép đang gặp khó khăn ở ngoại ô Pittsburgh. Carnegie lên kế hoạch biến nó thành nhà máy lớn nhất trong đế chế luyện thép của mình. Nhiều triệu đô-la được đầu tư lắp mới máy móc mới cho nhà máy. Nhà máy luyện thép Homestead là cổ tích giữa hiện đại. Nhưng nó không thể được quản lý nếu thiếu một người quyền lực. Một trong những chi phí lớn trong nhà máy thép là nhân công. Carnegie biết rằng để có lãi ông phải giữ giá thành thấp. Và cách duy nhất lúc đó để giữ giá thép thấp là giảm tiền lương và tăng thời gian lao động. Để kiếm lợi nhuận hơn nữa, Carnegie cần tiếp tục giảm giá thành: Bao gồm cả tiền lương.

Carnegie bổ nhiệm Frick là chủ tịch của công ty ông ta. Dưới thời của Frick công nhân công ty thép Carnegie đối mặt với một nỗi kinh hoàng, điều kiện sống vô cùng tồi tệ sức khỏe bị bóc lột tới mức kiệt quệ mà lương bổng thì rất ít ỏi. Vài người công nhân đã chết do bị kiệt sức trong khi làm việc, một vài người khác thì ngủ quên trong các lò luyện thép với nhiệt cao khủng khiếp.

Với điều kiện sống và làm việc như vậy công nhân bắt đầu đình công, mới đầu là ít và lẻ tẻ sau đó là thành từng nhóm. Nhưng Frick vẫn không nhượng bộ ông hầu như bỏ ngoài tai mọi lời phàn nàn và kêu ca ông vẫn ép công nhân làm và ngày càng tàn nhẫn hơn.

Trong khoảng thời gian này Carnegie không muốn đóng vai phản diện nên đã trao toàn quyền cho Frick và bắt đầu đi du lịch ở Scotland, nhường đất diễn cho Frick. khác với Carnegie, Henry Frick không quan tâm tới người khác nghĩ gì trong những việc ông làm, ông chỉ quan tới một điều duy nhất là chiến thắng.

Frick đẩy mạnh sản xuất, bắt người của mình lao động vất vả hơn bao giờ hết. Trong trường hợp đình công, ông ta có một kho thép thành phẩm dự trữ. Ông ta không bao giờ thương lượng và đương nhiên điều kiện làm việc càng bị siết chặt hơn.

Cuối cùng công nhân cũng lập rào cản trước nhà máy chính của công ty Carnegie Steel, 2 ngàn công nhân tạo chướng ngại vật phía trước nhà máy. Để ngăn không cho Frick thay thế người khác, nhưng Frick không quan tâm và cũng chẳng hề nhường nhịn ông gọi quân tiếp viện.

Ông ta gọi tới lực lượng lính đánh thuê. Một đội thám tử Pinkerton họ được thành lập để ngăn chặn nạn trộm cắp đường sắt, bảo vệ an ninh và đôi khi bảo vệ cả Tổng Thống, sau đó họ trở thành lính đánh thuê vào thời điểm đó súng đạn của họ còn nhiều hơn cả của quân đội Hoa Kỳ.

Nếu ai có tiền họ sẽ chiến đấu vì người đó, họ không có quan hệ gì với Frick và cũng chẳng có dính dáng gì tới công nhân họ được mời tới vì tiền và họ sẽ phục vụ cho ai đã trả tiền cho họ.

Frick giải quyết cuộc đình công bằng cách này, ông cho bắn những người đình công trước cổng công ty một cách không thương tiếc sau cuộc xả súng 9 công nhân thiệt mạng và vô số người khác bị thương. Tình hình nghiêm trọng đến mức thống đốc Pennsylvania phải gửi quân đội tới lập lại trật tự.

Sau vụ việc trên đế chế của Carnegie bắt đầu lung lay. Ông rút ngắn chuyến đi du lịch của mình và trở về, trong khi đó thì Frick bị ám sát ông đã bị thương nhưng không ảnh hưởng tới tính mạng, ba ngày sau ông trở lại làm việc tại văn phòng và tin tưởng mạnh mẽ hơn bao giờ hết về những gì mình làm. Tự tin đến mức nghĩ rằng thượng đế luôn ở bên để bảo vệ ông ta và sớm muộn sẽ trao cho ông tất cả những gì ông mong muốn bao gồm cả vị trí của Andrew Carnegie.

Nhưng với Carnegie như thế đã là quá đủ ông mệt mỏi và tuyệt vọng về cuộc chiến tranh giành với Rockefeller, cho tới lúc này ông vẫn chưa bao giờ vượt qua được Rockefeller nhưng ông đã phải nhận lại nhiều tai tiếng nghiêm trọng ảnh hưởng tới công việc mà cả đời ông xây dựng, ảnh hưởng tới tiếng tăm và danh dự của ông.

Ông cho Frick nghỉ việc và đưa công đi trở lại như bình thường. Trong lúc này đế chế dầu lửa của Rockefeller vẫn luôn lớn mạnh và không ngừng mở rộng lãnh thổ. Andrew Carnegie không muốn tiếp tục cuộc chạy đua ông mệt mỏi muốn được nghỉ ngơi và làm những điều có ý nghĩa hơn trong cuộc sống thay vì tự biến mình thành một người ghê tởm của xã hội.

Năm 1901 ở tuổi 66 ông bán công ty thép của mình cho nhà tài chính huyền thoại JPMorgan với giá 480 triệu đô la và vượt qua Rockefeller trở thành người giàu nhất thế giới trong vài năm.

Ông dành phần đời còn lại của mình vào việc từ thiện và giúp đỡ người khác, ông xây dựng nhiều thư viện, trường học, nhà thờ và các công trình công cộng ở Mỹ và trên khắp thế giới, ông để lại cho thế giới nhiều di sản, và tiếng tăm của ông cũng được noi theo bởi các doanh nhân sau này.

Ông cũng dành thời gian đi du lịch gặp gỡ bạn bè và viết sách. Trong đó có cuốn tự truyện Andrew Carnegie nổi tiếng do chính ông viết được dịch sang tiếng việt. Bạn có thể tìm đọc cuốn sách này để biết rõ hơn về con người cũng như công việc kinh doanh của ông tại các nhà sách.

Những câu chuyện về Andrew Carnegie

Một người con hiếu thảo

Cha mẹ Carnegie nghèo tới nỗi khi sanh ông không có tiền mời y sĩ hay cô mụ. Ông bắt đầu kiếm ăn, lãnh mỗi giờ có hai xu, sau gây được một gia tài là bốn trăm triệu Mỹ kim.

Một lần tôi có cơ hội lại thăm nơi chôn nhau cắt rốn của ông ở Dunfermline, xứ Ecosse. Nhà chỉ có hai phòng: phòng dưới là xưởng dệt của thân phụ ông, phòng trên gác nhỏ xíu, tối tăm, thấp, sát mái, làm chỗ ăn ngủ cho gia đình. – Dale Carnegie

Khi gia đình Carnegie tới Châu Mỹ, cha Andrew dệt khăn trải bàn và đem bán dạo từng nhà. Mẹ ông giặt mướn tại nhà và khâu giày cho một người thợ giày. Andrew chỉ có mỗi một chiếc áo sơ mi mà mẹ giặt rồi ủi mỗi tối, khi ông đi ngủ rồi. Bà cụ làm việc từ mười sáu đến mười tám giờ mỗi ngày, và Andrew rất yêu quý vô cùng yêu quý. Khi ông hai mươi hai tuổi ông hứa với mẹ rằng: một khi mẹ còn sống thì ông không lấy vợ. Ông đã giữ được lời hứa đó. Ba chục năm sau khi cụ quy tiên rồi, ông mới lập gia đình. Lúc đó ông đã năm mươi hai tuổi, và phải 10 năm ông mới sanh cậu con một. Hồi nhỏ ông nói hoài với mẹ:

      – Má, sau này con sẽ giàu có để má có áo lụa bận, có người ở để sai và có riêng một chiếc xe để đi.

Ông thường bảo nhờ mẹ của mình mà ông thông minh, có nhiều khả năng và lòng yêu mẹ đã là nguyên động lực giúp ông thành công rực rỡ. Khi cụ mất, ông đã đau khổ trong nửa tháng, mỗi lần nhắc đến tên cụ là ông nghẹn ngào, không nên lời. Một lần ông trả hết nợ cho một bà già xứ Ecosse để bà này lấy lại được căn nhà đã cầm cố cho người khác, chỉ vì bà giống người mẹ đã thân sinh ra ông.

Tài năng của Andrew Carnegie

Ai cũng cho rằng Andrew Carnegie là ông vua thép mà ông không biết chút gì về sản xuất thép. Hàng trăm ngàn người làm việc cho ông chắc chắn hiểu kỹ thuật đó hơn ông. Như ông biết dùng người, và khả năng này đã làm cho ông hóa ra giàu có. Ngay từ hồi nhỏ ông đã tỏ ra có thiên tư xuất chúng, trong nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo, làm cho người khác vui lòng giúp mình.

Có lần ở Ecosse, hồi còn bé ông bắt được con thỏ cái. Ít lâu sau thỏ cái sinh được một bầy con, nhưng ông không có gì để nuôi chúng. Ông nảy ra một ý tài tình: ông bảo trẻ con hàng xóm hễ kiếm đủ rau để nuôi thỏ thì ông lấy tên mỗi đứa đặt cho một con thỏ. Kế hoạch đó kết quả lạ lùng.

Về sau, Carnegie dùng thuật tâm lý đó trong công việc làm ăn. Chẳng hạn ông muốn bán đường rầy cho công ty xe lửa Pennsylvania Railroad. Hội trưởng công ty hồi đó là J. Edgar Thomson. Andrew Carnegie cho cất ở Pittsburg một xưởng lớn dát mỏng thép mà ông đặt tên là “xưởng thép J. Edgar Thomson”. Tất nhiên là ông Thomson khoái chí và bằng lòng mua liền những đường rầy của xưởng mang tên mình.

Hồi đầu, Andrew Carnegie làm một anh đưa điện tín ở Pittsburg. Mỗi ngày lãnh được năm cắc mà ông đã lấy làm mãn nguyện lắm. Nhưng ông không biết châu thành Pittsburg và sợ mất việc nên phải học thuộc lòng tên và địa chỉ của tất cả các hãng trong khu vực buôn bán.

Ông chỉ thèm làm điện tín viên thực thụ, thèm muốn chết đi, và buổi tối ông học chữ moóc, sáng tới sớm để tập đánh tin. Một buổi sáng có tin quan trọng đặc biệt. Ở Philadelphia người ta gọi Pittsburg, gọi mấy lần mà chưa có điện tín viên nào tới. Andrew Carnegie chạy lại, nhận tin, chuyển tin và tức thì được nhắc lên chân điện tín viên, lương gấp đôi. Sau này ông thích kể lại lần thành công đầu tiên đó. Một bạn thân của ông tóm tắt luân lý trong truyện thành một câu ngộ nghĩnh dưới đây mà chúng ta nên ngẫm nghĩ kỹ:

      “Muốn trở nên một người ra sao thì phải hành động như đã là con người ấy”.

Nghị lực không có gì thắng nổi và lòng cao vọng phóng túng của Andrew Carnegie làm cho nhiều người để ý tới ông. Công ty Pennsylvania Railroad dựng một đường dây thép tư, Andrew Carnegie được công ty dùng làm điện tín viên rồi ít lâu sau lãnh chức thư ký riêng của Giám đốc phân khu.

Một ngày nọ, một việc bất ngờ đưa ông lên con đường giàu sang. Một người ngồi bên cạnh ông trong toa xe lửa đưa cho ông coi bản đồ một kiểu toa mới, có chỗ nằm mà người đó mới vẽ xong. Hồi đó ghế nằm chỉ là những băng dài đóng vào hai bên hông toa chở hàng. Bản đồ mới giống kiểu toa ngày nay. Carnegie có óc sáng suốt đặc biệt của người Ecosse. Ông hiểu rằng sáng kiến đó hứa hẹn được nhiều. Ông vay tiền, hùn thêm một phần vốn quan trọng vào xí nghiệp, được hưởng những số lời lớn và năm ông hai mươi lăm tuổi, nội việc hùn vốn đó đã đem cho ông năm ngàn Mỹ kim mỗi năm.

Một làn khác, một chiếc cầu cây trên đường hỏa xa cháy và sự giao thông phải ngưng trệ trong nhiều ngày. Lúc đó Andrew Carnegie làm giám đốc một ngành trong công ty. Ông hiểu rằng những cầu cây sẽ bị loại và thép sẽ là vật liệu trọng dụng. Ông vay tiền, lập một công ty làm những cầu sắt, và tiền lời ùn ùn vô mau quá, làm ông gần hoa cả mắt.

Ông mó cái gì là cái đó biến thành vàng. Ông lên như diều. Vận may, một vận may không thể tưởng tượng được bám riết lấy ông. Ông với vài người bạn mua một cái trại giá bốn chục ngàn Mỹ kim (đô la Mỹ), ở giữa một khu có mỏ dầu lửa, tại Pennsylvania và chỉ trong một năm lời được một triệu Mỹ kim. Khi con người quỷ quyệt đó hai mươi bảy tuổi thì lợi tức mỗi tuần đã được ngàn Mỹ kim rồi, mà mười lăm năm trước chỉ kiếm được hai cắc rưỡi mỗi ngày.

Việc dưới đây xảy ra năm 1862, Lincoln đương làm Tổng Thống. Nội chiến đương dữ dội. Sắp có nhiều sự thay đổi lớn. Biên giới mở rộng ra. Miền Tây xa xôi bắt đầu được khai phá. Những đường xe lửa sẽ đặt khắp trong nước. Nhiều thành thị lớn sẽ dựng lên. Châu Mỹ lảo đảo trước một kỷ nguyên mới mê hồn.

Và Andrew Carnegie, với những lò nấu thép phun khói và lửa của ông, bị lôi cuốn trong ngọn thủy triều đương dựng đó, ông dựng được gia tài khổng lồ ngoài sức tưởng tượng.

Vậy mà ông không phải là hạng người làm chết bỏ, Ông thích la cà. Ông bảo rằng những người cộng tác với ông biết nhiều hơn ông, và chính những người đó kiếm tiền cho ông. Người Ecosse có tính biển lận. Ông là người Ecosse mà lại không biển lận khi chia lời. Ông để các cộng tác với ông hưởng chung, và chắc chắn ông là người đã gây cho nhiều người nhất thành triệu phú. Trong đời ông, ông chỉ được học có bốn năm, vậy mà ông viết tám cuốn sách về du ký, tiểu sử, cảo luận và biên khảo kinh tế. Ông tặng sáu chục triệu Mỹ kim cho các thư viện công cộng và sáu mươi tám triệu nữa cho công việc cải thiện giáo dục.

Ông thuộc hết thảy những bài thơ của Robert Burns và có thể đọc thuộc lòng trọn bộ những kịch Macbeth, Vua Lear, Romeo và Juliet, Nhà buôn ở Venice của Shakespeare.

Ông không theo một tôn giáo nào cả mà tặng bản ngàn đàn ống cho các giáo đường.

Ông đã tặng tới ba trăm sáu mươi lăm triệu Mỹ kim. Các nhật báo tổ chức những cuộc thi và thưởng người nào chỉ được cho ông cách hữu ích nhất để tiêu hết đống vàng của ông, vì ông đã tuyên bố rằng chết giàu là chết nhục.

Carnegie – nhà từ thiện hào phóng nhất thế giới

Từ năm 1901 trở đi, công chúng bắt đầu chuyển sự chú ý từ khả năng kinh doanh tuyệt vời mà đã giúp ông tích luỹ được một gia sản lớn sang tấm lòng bác ái của ông khi ông đã có những đóng góp rất lớn cho các mục tiêu từ thiện. Có thể thấy rõ quan điểm của ông về các đối tượng xã hội, trách nhiệm. liên quan đến của cải trong cuốn sách có tên Thắng lợi của nền Dân chủ(1886) và trong cuốn Phúc âm về sự giàu có (1900). Ông mua lâu đài Skibbo, tại Sutherland, Scotland và dành một phần thời gian sống ở đó và một phần sống ở New York; sau đó cống hiến cuộc đời mình cho việc cung cấp vốn phục vụ lợi ích của công chúng, sự tiến bộ xã hội và giáo dục.

andrew carnegie
Bảo tàng Andrew Carnegie

Trong tất cả các ý tưởng của mình, ông bị chi phối bởi niềm tin mãnh liệt vào tương lai và chịu ảnh hưởng của những người nói tiếng Anh, niềm tin vào một chính quyền và liên minh dân chủ vì mục đích hòa bình, bác bỏ chiến tranh và tiến bộ giáo dục con đường không phân chia bè phái. Ông là người ủng hộ mạnh mẽ phong trào đòi cải cách, một phương tiện để mở rộng sự truyền bá tiếng Anh.

Chỉ Riêng trên tại Mỹ, Carnegie đã xây dựng được trên 1600 thư viện. Trong số các hoạt động từ thiện của mình, việc xây dựng các thư viện công tại Mỹ, Vương quốc Anh và tại các nước nói tiếng Anh khác là điều đáng chú ý nhất.

Thư Viện Carnegie, như chúng được gọi, nổi bật trên tất cả các mặt. Thư Viện đầu tiên được mở cửa vào năm 1883 tại Dunfermline, Scotland. Phương pháp của ông là xây dựng và trang bị, nhưng chỉ với điều kiện chính quyền địa phương cung cấp địa điểm và tiến hành bảo quản. Tổng cộng, Carnegie đã cấp vốn để xây dựng 3.000 thư viện tại hầu hết các bang của Mỹ trừ Alaska, Delaware và Rhode Island cũng như tại Anh, Ireland, Canada, Tiểu sử Andrew Carnegie Australia, New Zealand, West Indies và Fiji. Nơi sinh của Carnegie tại Scotland hiện nay là viện bảo tàng.

Ngoài ra, trước khi ông bán phân phát hết gia sản của mình, vào năm 1879, ông đã cho xây dựng các bể bơi rộng lớn tiện nghi để người dân thị trấn của ông tại Dunfermline, Scotland sử dụng. Trong năm tiếp sau đó, ông tặng 40.000 đô la để xây dựng thư viện miễn phí tại chính thành phố ấy. Vào năm 1884, ông tặng 50.000 đô la cho Đại học Y tế thuộc Bệnh viện Bellevue để xây dựng phòng thí nghiệm mô học, hiện nay được gọi là Phòng thí nghiệm Carnegie. Ông là chủ sở hữu Thị Sảnh Carnegie tại thành phố New York ngay từ khi xây dựng vào năm 1890 cho đến khi quả phụ của ông bán đi vào năm 1924.

Ông cũng thành lập Quỹ Anh hùng Carnegie tại Mỹ(1904) và tại Vương quốc Anh (1908), nhằm ghi nhận những hành động anh hùng và đóng góp 500.000 đô la vào năm 1903 để xây dựng Cung Hoà bình tại La Hay, và 150.000 đô la để xây dựng Cung Liên Mỹ Tại Washington, hiện là nơi của tổ chức Quốc tế các nước cộng hoà Mỹ.

Carnegie qua đời vào ngày 11 tháng 8 năm 1919, tại Lenox, Massachusetts, tại điền trang Shadowbrook của mình , vì bệnh viêm phổi phế quản. Ông đã cho đi 350.695.653 đô la (khoảng 76,9 tỷ đô la, điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm GDP năm 2015) tài sản của mình. Sau khi ông qua đời, 30.000.000 đô la cuối cùng của ông đã được trao cho các quỹ, tổ chức từ thiện và cho những người hưu trí.

Tư tưởng của Carnegie

Về sự giàu có

Ngay từ năm 1868, ở tuổi 33, ông đã tự mình soạn thảo một bản ghi nhớ. Ông viết:  “…  Sự tích lũy của cải là một trong những kiểu thờ hình tượng tồi tệ hơn. Không có thần tượng nào làm suy đồi hơn sự tôn thờ tiền bạc.” Để tránh làm suy giảm bản thân, ông viết trong cùng một bản ghi nhớ rằng ông sẽ nghỉ hưu ở tuổi 35 để theo đuổi hoạt động từ thiện vì “… người đàn ông giàu có chết đi sống lại bị ô nhục.” Tuy nhiên, ông đã không bắt đầu công việc từ thiện của mình một cách nghiêm túc cho đến năm 1881, ở tuổi 46, với món quà là một thư viện cho quê hương Dunfermline, Scotland.

Carnegie đã viết ” Phúc âm của sự giàu có “, một bài báo trong đó ông nêu lên niềm tin của mình rằng người giàu nên sử dụng sự giàu có của họ để làm giàu cho xã hội. Những điều sau đây được trích từ một trong những bản ghi nhớ của Carnegie cho chính mình:

“Con người không sống chỉ bằng bánh mì. Tôi từng biết các triệu phú đói khát vì thiếu chất dinh dưỡng mà một mình có thể duy trì tất cả những gì là con người trong con người, và tôi biết những người lao động, và nhiều người được gọi là người nghèo, những người say mê những thứ xa hoa vượt quá khả năng đạt được của những triệu phú đó. Chính trí óc làm cho thân thể giàu có. Không có giai cấp nào khốn khổ đáng thương như giai cấp sở hữu tiền bạc và không có gì khác. Tiền chỉ có thể là thứ hữu ích cho những thứ cao hơn bản thân nó một cách vô tận. Được tôn vinh hơn cả điều này, như đôi khi, nó vẫn là Caliban và vẫn đóng vai con thú. Khát vọng của tôi bay cao hơn. Tôi có thể là nó đã góp phần vào sự giác ngộ và niềm vui của tâm trí, cho những điều của tinh thần, cho tất cả những gì có xu hướng mang lại cho cuộc sống của những người đi vệ sinh ở Pittsburgh sự ngọt ngào và ánh sáng. Tôi coi đây là cách sử dụng tài sản cao quý nhất có thể.”

Ảnh hưởng trí tuệ

Carnegie tự nhận mình là người đấu tranh cho tư tưởng tiến hóa đặc biệt là công trình của Herbert Spencer, thậm chí còn tuyên bố Spencer là thầy của mình. Mặc dù Carnegie tuyên bố là đệ tử của Spencer nhưng nhiều hành động của anh ta đã đi ngược lại với những ý tưởng mà Spencer tán thành.

Sự tiến hóa của Spencerian là vì quyền cá nhân và chống lại sự can thiệp của chính phủ. Hơn nữa, sự tiến hóa của người Spencerian cho rằng những người không đủ khả năng để duy trì bản thân phải được phép diệt vong. Spencer tin rằng cũng giống như có nhiều loại bọ cánh cứng, được biến đổi để tồn tại ở một nơi cụ thể trong tự nhiên, thì xã hội loài người cũng “rơi vào phân công lao động một cách tự phát”. Những cá nhân sống sót cho đến thời điểm này, giai đoạn tiến hóa mới nhất và cao nhất sẽ là “những người mà sức mạnh tự bảo tồn là lớn nhất – là sự lựa chọn của thế hệ họ.”

Hơn nữa, Spencer cho rằng quyền lực của chính phủ được vay mượn từ người dân để thực hiện mục đích nhất thời là thiết lập sự gắn kết xã hội, bảo đảm quyền lợi và an ninh.’Sự sống sót của những người khỏe mạnh nhất’ của Spencerian ghi chắc chắn rằng bất kỳ điều khoản nào được thực hiện để hỗ trợ những người yếu ớt, không có tay nghề, nghèo và đau khổ trở thành kẻ bất đồng chính kiến ​​với sự tiến hóa. Spencer nhấn mạnh rằng mọi người nên chống lại vì lợi ích của nhân loại tập thể, vì số phận khắc nghiệt sẽ loại bỏ những người yếu đuối, đồi bại và tàn tật. 

Trọng tâm chính trị và kinh tế của Andrew Carnegie trong cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 là bảo vệ kinh tế học tự do. Carnegie kiên quyết chống lại sự xâm nhập của chính phủ vào thương mại, cũng như các tổ chức từ thiện do chính phủ tài trợ. Carnegie tin rằng việc tập trung vốn là điều cần thiết cho sự tiến bộ của xã hội và cần được khuyến khích. Carnegie là một người ủng hộ nhiệt tình cho “sự sống còn của những người khỏe mạnh nhất” về mặt thương mại và tìm cách đạt được khả năng miễn nhiễm trước các thách thức kinh doanh bằng cách thống trị tất cả các giai đoạn của quy trình sản xuất thép. Carnegie quyết tâm giảm chi phí cũng bao gồm cắt giảm chi phí lao động. Theo cách nói đáng chú ý của người Spencerian, Carnegie lập luận rằng các công đoàn cản trở việc giảm giá tự nhiên bằng cách đẩy chi phí lên cao, điều này đã cản trở tiến trình phát triển. Carnegie cảm thấy rằng các công đoàn đại diện cho mối quan tâm hạn hẹp của số ít trong khi hành động của ông mang lại lợi ích cho toàn bộ cộng đồng. 

Bề ngoài, Andrew Carnegie có vẻ là một nhà tư bản tự do nghiêm ngặt và là tín đồ của Herbert Spencer, thường tự coi mình là đệ tử của Spencer.  Ngược lại, Carnegie, một người khổng lồ của ngành công nghiệp, dường như thể hiện tất cả các phẩm chất của sự sống sót của người Spencerian của những người khỏe mạnh nhất. Hai người luôn tôn trọng lẫn nhau và duy trì thư từ cho đến khi Spencer qua đời vào năm 1903. Tuy nhiên, có một số khác biệt lớn giữa quan niệm tiến hóa tư bản của Spencer và thực tiễn tư bản của Andrew Carnegie.

Spencer đã viết rằng trong sản xuất, lợi thế của cá nhân vượt trội là tương đối nhỏ và do đó có thể chấp nhận được, tuy nhiên lợi ích mà sự thống trị mang lại cho những người kiểm soát một bộ phận sản xuất lớn có thể gây nguy hiểm cho cạnh tranh. Spencer sợ rằng sự thiếu vắng “sự tự kiềm chế thông cảm” của những người có quá nhiều quyền lực có thể dẫn đến sự hủy hoại của đối thủ cạnh tranh của họ. Ông không nghĩ rằng cạnh tranh thị trường tự do cần thiết phải có chiến tranh cạnh tranh. Hơn nữa, Spencer lập luận rằng những cá nhân có nguồn lực vượt trội cố tình sử dụng các kế hoạch đầu tư để loại bỏ đối thủ cạnh tranh là phạm tội “giết người thương mại”.

Carnegie đã xây dựng sự giàu có của mình trong ngành thép bằng cách duy trì một hệ điều hành tích hợp rộng rãi. Carnegie cũng mua lại một số đối thủ cạnh tranh trong khu vực và sáp nhập với những đối thủ khác, thường là duy trì phần lớn cổ phần trong công ty. Trong suốt hai mươi năm, các tài sản thép của Carnegie đã phát triển bao gồm Công trình thép Edgar Thomson, Công trình lò Lucy, Nhà máy sắt Union, Công trình nhà cửa, Công trình cầu Keystone, Công trình thép Hartman, Công ty Frick Coke, và Các mỏ quặng Scotia trong số nhiều tài sản liên quan đến ngành khác. Hơn nữa, thành công của Carnegie là nhờ vào mối quan hệ thuận lợi của ông với các ngành đường sắt, những ngành không chỉ dựa vào thép cho đường ray mà còn kiếm tiền từ việc vận chuyển thép. Các ông trùm ngành thép và đường sắt đã làm việc chặt chẽ để đàm phán giá thay vì quyết định cạnh tranh thị trường tự do. 

Bên cạnh sự thao túng thị trường của Carnegie, thuế quan thương mại của Hoa Kỳ cũng có lợi cho ngành thép. Carnegie đã dành sức lực và nguồn lực để vận động đại hội nhằm tiếp tục áp dụng các mức thuế thuận lợi mà từ đó ông kiếm được hàng triệu đô la mỗi năm. Carnegie đã cố gắng che giấu thông tin này, nhưng các tài liệu pháp lý được công bố vào năm 1900, trong quá trình tố tụng với cựu chủ tịch của Carnegie Steel, Henry Clay Frick, đã tiết lộ mức độ thuận lợi của thuế quan. Herbert Spencer hoàn toàn chống lại sự can thiệp của chính phủ vào hoạt động kinh doanh dưới hình thức giới hạn quy định, thuế và thuế quan. Spencer coi thuế quan là một hình thức thuế đánh vào đa số nhằm “lợi ích của một số ít các nhà sản xuất và nghệ nhân”.

Mặc dù Carnegie cống hiến cá nhân cho Herbert Spencer như một người bạn, nhưng việc ông tuân theo các ý tưởng chính trị và kinh tế của Spencer gây tranh cãi hơn. Đặc biệt, có vẻ như Carnegie đã hiểu lầm hoặc cố ý xuyên tạc một số lập luận chính của Spencer. Spencer nhận xét khi lần đầu tiên đến thăm các nhà máy thép của Carnegie ở Pittsburgh, nơi mà Carnegie coi đó là biểu hiện của triết lý của Spencer, “Sáu tháng ở đây sẽ biện minh cho việc tự sát.” 

Các điều kiện của xã hội loài người tạo ra cho điều này một nhu cầu cấp thiết; sự tập trung vốn là một điều cần thiết để đáp ứng các nhu cầu của thời đại chúng ta, và như vậy không nên nhìn vào sự đòi hỏi, mà nên được khuyến khích. Không có gì bất lợi cho xã hội loài người trong đó, nhưng phần lớn cái đó, hoặc chắc chắn sẽ sớm trở thành, có lợi. Đó là một sự tiến hóa từ không đồng nhất đến thuần nhất, và rõ ràng là một bước khác trong con đường phát triển đi lên.

Carnegie, Andrew 1901 Phúc âm về sự giàu có và các bài tiểu luận hợp thời khác. Về chủ đề từ thiện, hành động của Andrew Carnegie khác với triết lý của Herbert Spencer theo cách quan trọng và phức tạp nhất. Trong bài luận năm 1854 “Cách cư xử và thời trang”, Spencer gọi giáo dục công là “Những kế hoạch cũ”. Ông tiếp tục tuyên bố rằng các trường học và cao đẳng công lấp đầy vào đầu học sinh những kiến ​​thức vô dụng, vô bổ và loại trừ những kiến ​​thức hữu ích. Spencer tuyên bố rằng ông không tin tưởng vào bất kỳ tổ chức nào “chính trị, tôn giáo, văn học, từ thiện” và tin rằng khi họ mở rộng ảnh hưởng thì các quy định của họ cũng mở rộng. 

Ngoài ra, Spencer nghĩ rằng khi tất cả các tổ chức phát triển, chúng sẽ ngày càng trở nên hư hỏng do ảnh hưởng của quyền lực và tiền bạc. Thể chế cuối cùng mất đi “tinh thần ban đầu, và chìm vào một cơ chế vô hồn”.Spencer nhấn mạnh rằng tất cả các hình thức từ thiện nhằm nâng đỡ người nghèo và người bị áp bức đều là liều lĩnh và thiếu năng lực. Spencer nghĩ rằng bất kỳ nỗ lực nào để ngăn chặn “những đau khổ thực sự phải trả giá” của những người kém may mắn “để lại cho hậu thế một lời nguyền liên tục gia tăng”. Carnegie, một người tự xưng là sùng đạo Spencer, đã làm chứng trước Quốc hội vào ngày 5 tháng 2 năm 1915: “Công việc kinh doanh của tôi là làm càng nhiều điều tốt trên thế giới càng tốt; tôi đã nghỉ việc từ tất cả các công việc kinh doanh khác.” 

Carnegie cho rằng sự tiến bộ của xã hội dựa vào những cá nhân duy trì các nghĩa vụ đạo đức đối với bản thân và xã hội. Hơn nữa, ông tin rằng tổ chức từ thiện cung cấp phương tiện cho những người muốn cải thiện bản thân để đạt được mục tiêu của họ. Carnegie kêu gọi những người giàu có khác đóng góp cho xã hội dưới hình thức công viên, tác phẩm nghệ thuật, thư viện và các nỗ lực khác nhằm cải thiện cộng đồng và đóng góp vào “điều tốt đẹp lâu dài”. 

Carnegie cũng có quan điểm mạnh mẽ chống lại sự giàu có được thừa kế. Carnegie tin rằng con trai của những doanh nhân thịnh vượng hiếm khi tài năng như cha của họ. Bằng cách để lại số tiền lớn cho con cái, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp giàu có đã lãng phí nguồn lực có thể được sử dụng để mang lại lợi ích cho xã hội. Đáng chú ý nhất, Carnegie tin rằng các nhà lãnh đạo tương lai của xã hội sẽ vươn lên từ hàng ngũ người nghèo. Carnegie rất tin tưởng vào điều này vì ông đã vươn lên từ dưới đáy. Ông tin rằng người nghèo có lợi thế hơn người giàu vì họ nhận được sự quan tâm nhiều hơn từ cha mẹ và được dạy về đạo đức làm việc tốt hơn. 

Tôn giáo và thế giới quan

Carnegie và gia đình ông thuộc Giáo hội Trưởng lão ở Hoa Kỳ, còn được gọi không chính thức là Giáo hội Trưởng lão phương Bắc. Trong cuộc đời đầu tiên của mình, Carnegie đã hoài nghi về thuyết Calvin, và tôn giáo nói chung, nhưng đã hòa giải với nó sau này trong cuộc đời của mình. Trong cuốn tự truyện của mình, Carnegie mô tả gia đình mình là những tín đồ Trưởng Lão ôn hòa, viết rằng “không có một người Trưởng lão chính thống nào” trong gia đình ông; các thành viên khác nhau trong gia đình ông có phần xa rời chủ nghĩa Calvin, một số người trong số họ nghiêng về chủ nghĩa Thụy Điển nhiều hơn. Mặc dù khi còn là một đứa trẻ, gia đình ông đã dẫn đến những tranh chấp gay gắt về thần học và chính trị. Mẹ anh tránh chủ đề về tôn giáo. Cha của ông rời nhà thờ Presbyterian sau một bài giảng về việc nguyền rủa trẻ sơ sinh, trong khi theo Carnegie, ông vẫn rất sùng đạo.

Chứng kiến ​​chủ nghĩa bè phái và xung đột ở Scotland thế kỷ 19 liên quan đến tôn giáo và triết học, Carnegie giữ khoảng cách với tôn giáo có tổ chức và chủ nghĩa.Thay vào đó, Carnegie thích nhìn mọi thứ thông qua các thuật ngữ tự nhiên và khoa học nói rằng, “Tôi không chỉ thoát khỏi thần học và siêu nhiên, mà còn tìm ra chân lý của sự tiến hóa.”

Càng về sau, sự phản đối kiên quyết của Carnegie đối với tôn giáo đã dịu đi. Trong nhiều năm ông là một thành viên của Giáo Hội Madison Avenue Presbyterian, pastored 1905-1926 bởi Tin Mừng Sinh Xã Hội số mũ Henry Sloane Coffin , trong khi vợ và con gái của ông thuộc về Giáo Hội Presbyterian Gạch. Ông cũng chuẩn bị (nhưng không đưa ra) một địa chỉ trong đó ông tuyên bố niềm tin vào “Năng lượng Vô hạn và Vĩnh cửu mà từ đó mọi thứ tiến hành”. Có ghi chép về một thời gian ngắn thư từ vào khoảng năm 1912–1913 giữa Carnegie và ‘Abdu’l-Bahá, con trai cả của Bahá’u I’lláh , người sáng lập Tín ngưỡng Baháhí. Trong những bức thư này, một trong số đó đã được đăng toàn văn trên tờ New York Times, Carnegie được ca ngợi như một “người yêu thế giới nhân loại và là một trong những người sáng lập ra Hòa bình Toàn cầu”.

Hòa bình thế giới

Carnegie được tôn vinh như một nhà công nghiệp, nhà từ thiện và là người sáng lập Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế, 1960. Bị ảnh hưởng bởi “anh hùng sống được yêu thích trong cuộc sống công cộng” John Bright, Carnegie bắt đầu nỗ lực theo đuổi hòa bình thế giới khi còn trẻ, và ủng hộ những nguyên nhân phản đối sự can thiệp quân sự. Phương châm của ông, “Tất cả đều tốt vì tất cả đều phát triển tốt hơn”, không chỉ là sự hợp lý hóa tốt cho sự nghiệp kinh doanh thành công mà còn là quan điểm của ông về các mối quan hệ quốc tế.

Bất chấp những nỗ lực hướng tới hòa bình quốc tế, Carnegie đã phải đối mặt với nhiều tình huống khó xử trong nhiệm vụ của mình. Những tình huống khó xử này thường được coi là xung đột giữa quan điểm của ông về quan hệ quốc tế và các lòng trung thành khác của ông. Ví dụ, trong suốt những năm 1880 và 1890, Carnegie đã cho phép các công trình thép của mình đáp ứng các đơn đặt hàng lớn về tấm áo giáp cho việc xây dựng Hải quân Hoa Kỳ được mở rộng và hiện đại hóa, nhưng ông phản đối sự bành trướng ra nước ngoài của Mỹ. 

Mặc dù vậy, Carnegie từng là một nhà tài trợ lớn cho các mới được thành lập Tòa án Trọng tài quốc tế ‘s Peace Palace – đứa con tinh thần của Nga Sa hoàng Nicolas II. 

Tổ chức hòa bình lớn nhất và có ảnh hưởng nhất về lâu dài của ông là Carnegie Endowment for International Peace, được thành lập vào năm 1910 với khoản tài trợ 10 triệu đô la. Vào năm 1913, tại sự cống hiến của Cung điện Hòa bình ở The Hague, Carnegie dự đoán rằng chiến tranh kết thúc là điều chắc chắn sẽ đến, và sẽ sớm đến, ngày sau đêm. 

Năm 1914, trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất, Carnegie thành lập Liên minh Hòa bình Giáo hội (CPU), một nhóm lãnh đạo về tôn giáo, học thuật và chính trị. Thông qua CPU, Carnegie hy vọng sẽ huy động các nhà thờ, tổ chức tôn giáo và các nguồn lực tinh thần và đạo đức khác trên thế giới tham gia vào việc thúc đẩy sự lãnh đạo đạo đức để chấm dứt chiến tranh mãi mãi. Đối với sự kiện quốc tế đầu tiên của mình, CPU đã tài trợ cho một hội nghị được tổ chức vào ngày 1 tháng 8 năm 1914, trên bờ Hồ Constance ở miền nam nước Đức. Khi các đại biểu đến hội nghị bằng tàu hỏa, Đức đang xâm lược Bỉ.

Mặc dù khởi đầu không tốt, CPU vẫn phát triển mạnh. Ngày nay, trọng tâm của nó là về đạo đức và được biết đến với tên gọi Hội đồng Carnegie về Đạo đức trong các Vấn đề Quốc tế , một tổ chức độc lập, phi đảng phái, phi lợi nhuận, có sứ mệnh là tiếng nói cho đạo đức trong các vấn đề quốc tế.

Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ rõ ràng là một cú sốc đối với Carnegie và quan điểm lạc quan của ông về hòa bình thế giới. Mặc dù việc thúc đẩy chống chủ nghĩa đế quốc và hòa bình thế giới của ông đều thất bại, và Quỹ Carnegie đã không hoàn thành kỳ vọng của ông, nhưng niềm tin và ý tưởng của ông về quan hệ quốc tế đã giúp xây dựng nền tảng của Hội Quốc Liên sau khi ông qua đời, nhằm đưa hòa bình thế giới lên Mức độ khác.

Quan điểm về vấn đề Hoa Kỳ mở rộng thuộc địa

Về vấn đề mở rộng thuộc địa của Mỹ, Carnegie luôn cho rằng đó là một hành động không khôn ngoan đối với Hoa Kỳ. Ông không phản đối việc sáp nhập các đảo Hawaii hay Puerto Rico, nhưng ông phản đối việc sáp nhập Philippines. Carnegie tin rằng nó liên quan đến việc phủ nhận nguyên tắc dân chủ cơ bản, và ông cũng thúc giục William McKinley rút quân Mỹ và cho phép người Philippines sống với nền độc lập của họ. Hành động này đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với những người chống đế quốc Mỹ khác, những người đã sớm bầu ông làm phó chủ tịch của Liên đoàn Chống Đế quốc.

Sau khi bán công ty thép của mình vào năm 1901, Carnegie đã có thể tham gia đầy đủ vào sự nghiệp hòa bình, cả về tài chính và cá nhân. Ông đã cho đi phần lớn tài sản của mình cho các cơ quan gìn giữ hòa bình khác nhau để giữ cho chúng phát triển. Khi bạn của anh, nhà văn Anh William T. Stead, đề nghị anh thành lập một tổ chức mới vì mục tiêu của một xã hội hòa bình và trọng tài, câu trả lời của anh là:

Tôi không thấy rằng việc dành nỗ lực của mình để tạo ra một tổ chức khác là điều khôn ngoan. Tất nhiên tôi có thể sai khi tin điều đó, nhưng tôi chắc chắn không sai rằng nếu nó phụ thuộc vào tiền của bất kỳ triệu phú nào, nó sẽ bắt đầu như một đối tượng của sự thương hại và kết thúc như một sự chế nhạo. Tôi tự hỏi rằng bạn không thấy điều này. Không có gì cướp đi sức mạnh của chính nghĩa hơn là tiền của một triệu phú.

Carnegie tin rằng chính nỗ lực và ý chí của mọi người mới là yếu tố duy trì hòa bình trong quan hệ quốc tế. Tiền chỉ là một lực đẩy cho hành động. Nếu hòa bình thế giới chỉ phụ thuộc vào hỗ trợ tài chính, thì đó dường như không phải là một mục tiêu, mà giống như một hành động thương hại hơn.

Giống như Stead, anh ta tin rằng Hoa Kỳ và Đế quốc Anh sẽ hợp nhất thành một quốc gia, nói với anh ta rằng “Chúng tôi đang hướng thẳng đến Tái hợp Hoa Kỳ”. Carnegie tin rằng sức mạnh tổng hợp của đất nước sẽ duy trì hòa bình thế giới và giải trừ quân bị. Sự thành lập của Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế. Năm 1910 được coi là cột mốc trên con đường đi đến mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ chiến tranh. Ngoài món quà trị giá 10 triệu đô la cho việc thúc đẩy hòa bình, Carnegie còn khuyến khích cuộc điều tra “khoa học” về các nguyên nhân khác nhau của chiến tranh và áp dụng các phương pháp xét xử cuối cùng sẽ loại bỏ chúng. Ông tin tưởng rằng Endowment tồn tại để thúc đẩy thông tin về quyền và trách nhiệm của các quốc gia theo luật quốc tế hiện hành và khuyến khích các hội nghị khác để hệ thống hóa luật này. 

andrew carnegie
4 ông vua nền công nghiệp nước Mỹ

Di sản của Carnegie

Carnegie là người đóng góp thường xuyên cho các tạp chí định kỳ về các vấn đề lao động. Ngoài Nền dân chủ chiến thắng (1886) và Phúc âm của sự giàu có (1889), ông còn viết Chuyến đi huấn luyện của chúng tôi, Brighton đến Inverness (1882), Một tay bốn người Mỹ ở Anh (1883), Vòng quanh thế giới (1884) , Đế chế kinh doanh (1902), Bí mật kinh doanh là quản lý đàn ông (1903), James Watt (1905) trong Loạt phim Scots nổi tiếng , Những vấn đề của ngày nay (1907), và cuốn Tự truyện về Andrew được xuất bản sau khi ông Carnegie (1920).

Carnegie đã nhận được danh dự tiến sĩ luật (DLL) từ Đại học Glasgow vào tháng năm 1901, và nhận được sự tự do của thành phố của Glasgow “công nhận lòng khoan hồng của mình” sau cùng năm. Vào tháng 7 năm 1902, ông nhận được Tự do của thành phố St Andrews , “để làm chứng về lòng nhiệt thành to lớn của ông đối với phúc lợi của đồng loại ở cả hai bờ Đại Tây Dương”, và vào tháng 10 năm 1902 là Tự do của thành phố Perth “để làm chứng về giá trị cá nhân cao và ảnh hưởng có lợi của ông ấy, và để ghi nhận những lợi ích rộng rãi ban tặng cho vùng đất này và vùng đất khác, và đặc biệt là để tri ân những gì ông ấy đã ban cho việc thúc đẩy giáo dục Đại học ở Scotland” và Tự do của Thành phố Dundee. Ông nhận bằng Tiến sĩ Luật danh dự (LLD) từ Đại học Aberdeen năm 1906. Năm 1910, ông nhận Tự do của Thành phố Belfast. Carnegie nhận bằng tiến sĩ danh dự ngày 1 tháng 7 năm 1914 từ Đại học Groningen Hà Lan.

                                                                                                           Nguồn: Tổng Hợp

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây