Lý Quang Diệu – Thủ Tướng Đầu Tiên Của Singapore

308
Lý Quang Diệu

Thủ tướng Lý Quang Diệu – người khai sinh ra quốc đảo Singapore, được biết đến như là một huyền thoại của Châu Á. Từ một quốc đảo nhỏ bé với nền kinh tế lạc hậu, ông đã kiến thiết Singapore trở thành một quốc gia thịnh vượng và giàu có bậc nhất Châu Á, trở thành kỳ tích của thế giới. Nhưng trước khi trở thành thủ tướng, cuộc đời ông cũng trải qua nhiều biến cố, đặc biệt là vụ việc may mắn thoát chế trong cuộc thảm sát của Phát Xít Nhật ở Singapore. Chính sau biến cố này, Singapore mới có được một nhà lãnh đạo kiệt xuất.

Thế hệ thứ 4 của gia tộc di dân

Lý Quang Diệu sinh ngày 16 tháng 9 năm 1923 trong một gia đình giàu có tại Singapore. Ông là thế hệ thứ 4 di cư từ Trung Quốc sang vùng đất này lập nghiệp. Cha của ông là Lý Tiến Khôn lấy vợ là bà Thái Nhận Nương sinh ra 3 người con trai và 1 người con gái. Thời bấy giờ, Singapore là thuộc địa của Anh quốc nên Lý Quang Diệu sinh ra là công dân Anh, tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ của ông.

Ông nội của Lý Quang Diệu là Lý Văn Long, là một đại phú giàu có. Nhưng đến thập niên 1930 do cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu mà gia sản tộc họ Lý bị suy kiệt dần. Cha của ông trở thành một gia đình nghèo, tuy nhiên 4 anh em nhà ông vẫn được học hành tử tế. 

Thuở thiếu thời, Lý Quang Diệu theo học tại trường tiểu học Telok Kurau, thành tích học tập của ông không có gì nổi bật. Sau đó, ông Lý theo học tại học viện Raffles. Ông đã phải nỗ lực rất nhiều để theo kịp bạn bè vì ở đây có tới 150 học viên đứng đầu Singapore. Ông đã vào được top đầu và tham gia phong trào hướng đạo trong 3 năm.

Sau này, Lý Quang Diệu sang Anh vừa du lịch vừa học đại học. Tuy nhiên Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ đã khiến việc học của ông bị gián đoạn. Tháng 2/1942 Anh quốc khủng hoảng, thất bại trước người Nhật, ông bị vây bắt và suýt chết trong vụ thảm sát Túc Thanh, một trong những vụ hành động tàn bạo có quy mô lớn trong thế chiến. Đã có khoảng 50000 đến 100000 người chết trong vụ thảm sát này. Việc thực dân Anh thất bại trong các cuộc ngăn chặn thảm sát là bằng chứng cho thấy Singapore cần phải có độc lập tự do riêng của mình. Trong những năm tháng khó khăn  của đất nước, ông làm thư ký cho Cty nhập cảng vải vóc Shimola của người bạn của ông nội mình.

Chiến tranh kết thúc, Lý Quang Diệu quay lại nước Anh học đại học. Lúc đầu, ông học tại Trường Kinh tế danh tiếng London, sau đó tiếp tục tại đại học Cambridge ở Anh. Tại Anh ông kết hôn với bà Kha Ngọc Chi vào tháng 12/1947 một học giả xuất sắc người Singapore và sau này trở thành luật sư. 

Trở thành thủ tướng đầu tiên của Singapore

Năm 1949, Lý Quang Diệu trở về Singapore dù ông có cơ hội làm việc trong ngành luật tại Anh. Ở Singapore ông hành nghề luật sư và tham gia vào phong trào công đoàn. Năm 1954, Lý Quang Diệu đã tham gia thành lập và trở thành thư ký Đảng nhân dân Hành động PAP. Một liên minh xã hội các phong trào nói tiếng Trung và tiếng Anh nhằm mục tiêu chấm dứt sự cai trị của Thực dân Anh.

Năm 1958, ông giúp thương thuyết đưa Singapore trở thành một chính phủ độc lập. Tháng 12/1959 Anh trao quyền tự trị cho Singapore, nhưng vẫn kiểm soát các quyền ngoại giao và quốc phòng của đảo quốc này. Sau khi đảng của ông thắng cuộc bầu cử đầu tiên năm 1959, Lý Quang Diệu đã tiến hành tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng đầu tiên của Singapore khi ông mới 36 tuổi, cương vị mà ông năm giữ tới 3 thập kỷ tới. Tuy nhiên lúc này ông phải đối mặt với nhiều thách thức lớn và báo giới nước ngoài tỏ ra bi quan trước khả năng sinh tồn của quốc đảo nhỏ bé này.

Lý Quang Diệu ngay lập tức khỏi động một kế hoạch hành động 5 năm đầy tham vọng với mục tiêu xóa nhà ổ chuột. Xây dựng nhà chất lượng giá rẻ, công nghiệp hóa đất nước, chống tham nhũng. Ông nhấn mạnh Singapore sẽ trở thành một quốc gia đa sắc tộc. 

Singapore ly khai khỏi liên bang Malaysia 

Đảng PAP dưới sự dẫn dắt của Lý Quang Diệu bắt đầu hành động để hướng đến việc tách Singapore độc lập hoàn toàn khỏi Anh, Nhật và Liên bang Malaysia. Vì cho rằng Singapore là một đảo quốc quá nhỏ, không có đủ tài nguyên để có thể tự thân tồn tại, ngay cả nước uống cũng phải phụ thuộc phần lớn vào Malaysia. Năm 1961, Thủ tướng Malaysia đề xuất một liên bang bao gồm  Mã Lai, Singapore, Sabah, Sarawak và Brunei. 

Ngày 16/9/1963, Thủ tướng Lý Quang Diệu đồng ý với đề xuất này và đã phát động một chiến dịch sát nhập, kết thúc 44 năm đô hộ của người Anh, theo đó có đến 70% lá phiếu ủng hộ đề nghị của mình, Lý Quang Diệu tuyên bố nhân dân đứng về phía ông. Tuy nhiên, liên bang này không tồn tại được lâu.  Chính quyền trung ương Malaysia, dưới sự lãnh đạo của Tổ chức Liên hiệp Dân tộc Mã Lai (UMNO), tỏ ra quan ngại về thành phần đa số của người Hoa ở Singapore cũng như những thách thức chính trị của PAP tại Malaysia. Lý Quang Diệu công khai chống lại chủ trương dân tộc cực đoan Mã Lai (bumiputra). Mối quan hệ giữa PAP và UMNO trở nên căng thẳng gay gắt. Một số người trong UMNO muốn bắt giữ ông.

Năm 1964, căng thẳng sắc tộc giữa người Hoa chiếm đa số tại Singapore và người Mã Lai ngày càng tăng, xung quanh việc dân tộc nào sẽ đại diện cho liên bang Malaysia đã dẫn đến sự ly khai của Singapore.

Ngày 9/8/1965, Lý Quang Diệu bật khóc khi tuyên bố ông chấp nhận lời đề nghị của Malaysia, rằng Singapore sẽ ra khỏi liên bang để chấm dứt tình trạng bất ổn và đổ máu. Ông gọi đó là khoảnh khắc đau đớn và đi ngược lại những gì mà chúng ta mong muốn. Hai ngày sau, Lý Quang Diệu tuyên bố Singapore là một nước độc lập và ông phải đứng ra gánh vác trọng trách xây dựng lại đảo quốc mới này. 

Tìm kiếm sự hậu thuẫn quốc tế

Không may sau đó, ông Lý đã ngã bệnh, tự cách ly 6 tuần liền, Thủ tướng Anh bày tỏ quan ngại. Tuy nhiên, ông tuyên bố sẽ định hình lại hậu quả trước khi tiến bước chân trên bàn cờ chính trị. Tính dễ bị tổn thương của Singapore ngày càng được cảm nhận sâu sắc trước những mối đe dọa đến từ nhiều phía khác nhau. Trong đó có Indonesia và các thành phần cực đoan, những người này muốn mang Singapore quay trở lại với Malaysia.

Thủ tướng họ Lý vội vàng tìm sự nhìn nhận và hậu thuẫn quốc tế cho nền độc lập của Singapore. Singapore gia nhập Liên hợp quốc tháng 9/1965 và đồng thời thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN vào tháng 8/1967 để đẩy mạnh các mối quan hệ song phương và đa phương. 

Theo gương Thụy Sĩ, ông tuyên bố chính sách trung lập và không liên kết. Cùng lúc, ông giao cho Ngô Khánh THụy trọng trách xây dựng Lực lượng vũ trang Singapore và xin sự trợ giúp từ các quốc gia khác trong các lĩnh vực tư vấn, huấn luyện và cung ứng quân dụng.

Kiến thiết đất nước

Khi tách rời khỏi Malaysia có nghĩa là mất luôn thị trường chung và thị trường nội địa. Khó khăn ngày càng chồng chất khi quân đội Anh lui thoái làm mất hơn 50000 chỗ làm, mặc dù người Anh vẫn ủng hộ các cam kết trước đó, duy trì các căn cứ quân sự cho đến năm 1975. Lý Quang Diệu không làm muốn làm căng thẳng mối quan hệ với London, ông tìm cách thuyết phục Harold Wilson cho phép chuyển đổi các cơ sở quân sự cho các mục đích dân sự thay vì phá hủy chúng như luật của nước Anh. 

Lý Quang Diệu nhận thấy rằng sự tự chủ về chính trị phụ thuộc vào sức mạnh của ngành Kinh tế, vì vậy ông xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, hiện đại hóa và dựa vào xuất khẩu. Trong quá trình thực hiện ông gặp phải rất nhiều thách thức đến từ việc thiếu hụt nguồn tài nguyên. 

Lúc này Thủ tướng Lý đã thúc đẩy chính sách mở cửa cho vốn đầu tư, thu hút lao động nước ngoài và siết chặt các quy định về sắc tộc để hạn chế va chạm sắc tộc. Chiến lược cơ bản của Lý Quang Diệu lúc này là kêu gọi các công ty nước ngoài thành lập các xưởng vắt mồ hôi ở Singapore và hi vọng người dân Singapore chấp nhận một cuộc sống hà khắc. Tuy nhiên, ông cũng tiến hành các chương trình đảm bảo lợi ích cho tầng lớp lao động. Những hi sinh của cả dân tộc cuối cùng cũng gặt hái được thành công. Đến năm 1980 bình quân thu nhập trên đầu người của người dân Singapore đứng thứ 2 của châu Á, chỉ sau Nhật Bản.

Vì Singapore chưa bao giờ có một nền văn hóa chủ đạo để dân nhập cư có thể hòa nhập, cũng không có ngôn ngữ chung. Trong hai thập niên 1970-1980 với sự nỗ lực của chính phủ và Đảng cầm quyền, Lý Quang Diệu đã cố gắng kiến tạo nên một bản sắc văn hóa chung của Singapore.

Lý Quang Diệu chọn Anh ngữ là ngôn ngữ công sở và ngôn ngữ chung cho các chủng tộc khác nhau, trong khi vẫn công nhận tiếng Hoa, tiếng Mã Lai là ngôn ngữ chính thức. Hầu hết các trường hợp sử dụng tiếng Anh là để chuyển ngữ trong học tập, trong khi tiếng mẹ đẻ vẫn được dạy trong trường học. 

Lý Quang Diệu luôn khẳng định vai trò tối quan trọng của giáo dục. Ông nói tài nguyên thiên nhiên duy nhất của Singapore là con người. Ông xây dựng nên một nhà nước vú em, thúc giục sinh viên đại học sinh con, cấm chơi cao su, phạt những ai không xả nước bồn cầu, và trong những năm đầu buộc nam thanh niên để tóc dài phải cắt tóc.

Thủ tướng Diệu đã tạo ra được nhà nước có tình trạng tham nhũng thấp nhất châu Á với những trường công lập có lẽ là có chất lượng tốt nhất thế giới. Và ông còn tạo ra hệ thống lương hưu được nhiều học giả coi là mẫu mực. Ông Lý đã gặp nhiều chỉ trích rằng ông Lý đã có nhiều bộ luật can thiệp quá sâu vào đời sống cá nhân của người dân Singapore. Tuy nhiên ông đã phản biện trên một tờ báo vào năm 1987 rằng: “Nếu tôi không làm điều đó thì chúng ta sẽ không có ngày hôm nay”.

Sức ảnh hưởng khi rời khỏi ghế thủ tướng

Sau khi ông giữ chức Thủ tướng hàng thập kỷ, cùng Singapore từ quốc đảo nhỏ bé trở thành con hổ châu Á. Ngày 28/11/1990 Lý Quang Diệu quyết định về hưu và bàn giao chức vụ Thủ tướng cho Ngô Tác Đống con của Ngô Khánh Thụy. Thủ tướng Diệu là chính khách có quãng thời gian tại vị lâu nhất thế giới.

Khi Ngô Tác Đống đảm nhận vị trí lãnh đạo chính phủ, Lý Quang Diệu vẫn tiếp tục ở lại nội các trong cương vị bộ trưởng cao cấp và đưa ra những tư vấn. Trước công chúng ông vẫn thường nhắc đến Ngô Khánh Thụy cũng như là Thủ tướng của tôi để bày tỏ sự quan trọng cho sự thẩm quyền của Ngô. 

Quan điểm của ông vẫn luôn được lắng nghe trong công luận và trong các buổi họp nội các. Ông vẫn có sức ảnh hưởng đặc biệt to lớn trên quốc đảo này và ông cũng sẵn lòng sử dụng sức ảnh hưởng ấy khi cần thiết. ‘

Ngày 12/8/2004, Ngô Tác Đống rút lui để bàn giao chức vụ Thủ tướng cho Lý Hiển Long, con trai đầu của Lý Quang Diệu. Ngô trở thành Bộ trưởng cao cấp và ông đảm nhận một chức vụ mới được thành lập, Bộ trưởng Cố vấn. Có thể nói từ khi rời chiếc ghế Thủ tướng, hầu như các vấn đề của Singapore đều có tiếng nói của vị Thủ tướng về hưu đầy uy tín này. 

Phong cách lãnh đạo của Lý Quang Diệu

1. Học vấn là nền tảng

Ông Lý Quang Diệu luôn đứng trong danh sách 150 sinh viên xuất sắc nhất Singapore, thường xuyên dẫn đầu về điểm số tại các kỳ thi và nhận nhiều học bổng danh giá suốt thời gian đi học.

Ông theo đuổi ngành luật và tốt nghiệp hạng ưu từ trường Fitzwilliam thuộc Đại học Cambridge của Anh. Tấm bằng luật này đã dẫn ông tới điểm xuất phát trên con đường hoạt động chính trị của mình khi ông trở thành một trợ lý pháp lý cho Laycock & Ong, một trong những hãng luật ra đời sớm nhất ở Singapore.

2. Kiên định với lựa chọn dù đi ngược số đông

Ông Lý được cho là đã áp dụng nhiều biện pháp tương đối cực đoan trong quá trình xây dựng, kiến thiết Singapore. Nhưng ông làm tất cả những điều đó chỉ nhằm một mục đích duy nhất: kiến tạo sự phú cường, đưa đất nước đi lên từ khốn khó, trở thành một đô thị phát triển vượt bậc, theo Vulcan Post.

Trong hơn 30 năm cầm quyền, ông Lý áp dụng rất nhiều chính sách khác nhau và gặt hái không ít thành công. Ông tiến hành đổi mới đô thị và xây dựng nhà ở công cộng mới, giao quyền hạn lớn hơn cho phụ nữ, cải cách giáo dục và công nghiệp hóa.

Ông biến Singapore thành trung tâm vận tải và dịch vụ tài chính lớn với một trong những bến cảng tấp nập nhất thế giới. Theo Trung tâm Tăng trưởng và Phát triển Groningen, GDP đầu người của Singapore khi ông Lý lên nắm quyền năm 1959 là hơn 2.100 USD, và hơn 2.600 USD vào năm 1965, khi Singapore trở thành quốc gia độc lập. Con số này tăng lên hơn 14.200 USD vào năm 1990, khi ông rời ghế thủ tướng.

Tuy nhiên, một số chính sách của ông cũng vấp phải sự chỉ trích của dư luận. Các nhóm nhân quyền cho rằng ông kiểm soát quá chặt chẽ truyền thông trong nước và hạn chế tự do dân sự, thông qua các quy định nghiêm ngặt về phát ngôn và tụ tập ở nơi công cộng. Nhưng ông kiên định con đường của mình.

“Chúng ta sẽ không đạt được những tiến bộ về kinh tế nếu không quan tâm tới các vấn đề cá nhân. Ai là hàng xóm của bạn, cuộc sống của bạn ra sao, những âm thanh bạn tạo ra, thậm chí bạn nhổ nước bọt như thế nào và ở đâu”, Vulcan Post dẫn lại một câu nói nổi tiếng của ông. “Tôi kiên định với suy nghĩ của mình. Tôi mạnh tay để mọi việc trở nên đúng đắn, đúng là khắc nghiệt nhưng rất nhiều giá trị đang bị đe dọa. Cuối cùng cái mà tôi đạt được là gì? Một Singapore thành công”.

3. Tập trung vào cốt lõi vấn đề

Theo ông Heng Swee Keat, một người từng có cơ hội làm việc dưới quyền thủ tướng Lý, câu hỏi mà ông thường xuyên đặt ra là “thì sao nữa?”. Nếu bạn báo cáo cho ông ấy một thông tin nào đó mới mẻ, ông sẽ ngay lập tức đáp lại bằng câu hỏi “thì sao nữa” và lặp lại những câu tương tự như: “vậy nên?” hay “kết quả là?” để dồn bạn tiến thẳng vào cốt lõi của vấn đề và đúc rút ra ý nghĩa của từng mẫu thông tin. Thói quen của ông là bỏ qua tất cả những chi tiết gây nhiễu, không liên quan, để trực tiếp đi vào trọng tâm, xác định điểm mấu chốt của vấn đề.

Ông Heng từng có lần viết bản báo cáo dài ba đoạn để trả lời một câu hỏi mà ông Lý đưa ra. Theo Heng, câu trả lời của ông khá toàn diện. Nhưng thay vì khen ngợi, thủ tướng chỉ hỏi: “Tôi yêu cầu một lời giải đáp ngắn gọn, tại sao anh lại đưa lên một bản trình bày quá dài như vậy”.

4. Sức mạnh trong lời nói

Cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu thường xuyên có những bài diễn văn đầy nhiệt huyết, lay động lòng người do chính ông viết trước công chúng. Khi ông nói, rất khó để không lắng nghe. Sự trọng vọng mà người dân dành cho ông một phần xuất phát từ những điều như vậy.

5. Cứng rắn trong công việc

Giới chuyên gia từ lâu đã đánh giá ông Lý là một nhà lãnh đạo với nghiêm khắc. Ông từng bị phê phán vì áp dụng những biện pháp cứng rắn với phe đối lập và sử dụng các luật lệ về tội phỉ báng để chống lại đối thủ chính trị.

Năm 2010, ông cùng con trai, Thủ tướng Lý Hiển Long, kiện New York Times tội phỉ báng vì một bài viết liên quan đến gia đình ông của một nhà báo tự do. Tờ báo và tác giả sau đó phải trả tổng cộng khoảng 11.000 USD tiền bồi thường cho ông.

“Tại sao ta không đánh bại họ trước khi họ kịp làm điều đó với ta? Khi họ bắt đầu sẽ càng khó khăn hơn cho ta để có thể phá hủy họ hoàn toàn”, ông nói.

“Tôi chưa bao giờ cảm thấy lo lắng hay ám ảnh bởi những cuộc trưng cầu ý kiến hay thăm dò mức độ được dân chúng yêu mến. Theo tôi, người tỏ ra e ngại trước những thứ như vậy là một lãnh đạo yếu đuối. Giữa việc được yêu quý và bị người khác e dè, kiêng nể, tôi luôn cho rằng Machiavelli đã đúng. Nếu không ai sợ tôi thì tôi sẽ trở nên vô nghĩa”, ông chia sẻ, nhắc đến một triết lý của nhà ngoại giao, triết học gia chính trị Niccolo Machiavelli: nhà lãnh đạo kiệt xuất luôn là một người đáng sợ.

6. Trong tình cảm và đời sống

Ông Lý và vợ, bà Kha Ngọc Chi, có một chuyện tình rất đẹp và cảm động. Cuộc hôn nhân của hai người kéo dài 63 năm. Những ngày tháng cuối đời bên giường bệnh của vợ, chính ông là người chăm sóc cho bà. Mỗi ngày ông đều tận tay đo huyết áp cho vợ mình bởi bà không để ai khác làm việc đó. Thỉnh thoảng ông còn bị trầy xước cả mặt vì ngủ gật trong lúc đọc sách cho vợ nghe mỗi tối.

Sau khi bà Kha trải qua cơn tai biến thứ hai, con gái của hai người đã chia sẻ một đoạn đối thoại đầy xúc động giữa cha và mẹ mình:

“Chúng ta sống bên nhau đã gần nửa cuộc đời. Bà không thể bỏ tôi mà đi lúc này được đâu nhé. Tôi sẽ khiến mỗi ngày bà sống đều có ý nghĩa dù bà bị tàn tật đi chăng nữa”, ông nói.

“Ông lại hứa quá rồi đấy”, bà đáp.

“Tôi đã bao giờ để bà thất vọng chưa”, ông nhẹ nhàng nói.

7. Lý Quang Diệu nói về việc học tiếng Anh

Trong chuyến thăm Việt Nam hồi năm 2007, nguyên Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã gợi mở nhiều ý tưởng, đặc biệt về vấn đề giáo dục. Ông từng khẳng định với Chủ tịch nước Nguyên Minh Triết rằng: “Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục, sẽ thắng trong phát triển kinh tế”.

Theo ông Lý, chìa khóa để tránh tụt hậu trong thế giới hiện nay là tiếng Anh. Ông cho rằng, Việt Nam cần kiên trì theo đuổi chính sách “nhiều tiếng nói, một ngôn ngữ” để đưa tiếng Anh vào trường học.

“Ngày nay, Singapore có lợi thế lớn là nhờ vậy. Đây là phần thưởng ngoài dự đoán của Singapore khi thực hiện quy định này. Việt Nam nên có sách giáo khoa tiếng Anh ở các ngành quan trọng như kỹ thuật, công nghệ… bởi nếu chỉ dùng sách Việt Nam, chắc chắn sẽ tụt hậu. Nếu tất cả sinh viên Việt Nam sau này không thể nghe và nói tiếng Anh trôi chảy, chỉ có thể đọc thôi cũng đã là tụt hậu”, cựu Thủ tướng Singapore nhận định.

Ông Lý từng đưa ra nhận định xác đáng khi cho rằng, chính kiến thức đem lại cho bạn cuộc sống tốt đẹp: “Bạn phải xác định rõ ràng rằng kiến thức, học tập và ứng dụng kiến thức vào công việc là cái đem lại cho bạn một cuộc sống tốt. Ngược lại, những ai nghĩ rằng có thể trông cậy vào các mối quan hệ thân sơ, sự luồn lách, gian dối, người đó sẽ gặp trắc trở bởi đã xem nhẹ việc trau dồi tri thức”.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây