Lịch Sử Israel

201

Chỉ chiếm 0,2% dân số thế giới, nhưng người gốc Do Thái đã dành được ít nhất là 20% tổng số giải Nobel từ trước tới nay, dân tộc nhỏ bé này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến thế giới như thế nào, hành trình lưu lạc trong hàng nghìn năm của họ ra sao?

1. Lịch sử sơ khai Israel

Phần lớn những gì các học giả biết về lịch sử cổ đại của Israel đến từ 3 nguồn: các cuộc khai quật khảo cổ, Kinh thánh tiếng Do Thái và các văn bản không được tìm thấy trong Kinh thánh, trong đó Kinh thánh Do Thái chiếm phần lớn nhất. 

1.1. Thời các Tổ phụ (1850-1500 TCN)

Người dân Israel (còn được gọi là “Dân tộc Do Thái”) có nguồn gốc từ người Hebrew cổ đại xuất hiện tại Trung Đông vào 4.000 năm trước. Theo Kinh thánh, người Do Thái và Ả Rập đều là con cháu của Abram (tên lúc sinh của Abraham), là người đã vâng theo lời của Thượng đế, rời bỏ quê hương ở thành Ur xứ Mesopotamia, Lưỡng Hà (nay là Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ) đến đập nghiệp tại xứ Canaan. 

Đó là vào khoảng năm 2000 TCN, Theo Sách Xuất Hành trong Kinh Thánh, Abram cùng gia đình rời bỏ quê hương ở Ur đi đến Harran. Tại đó, Abram đã nhìn thấy Thượng Đế trong giấc mơ và được Người chỉ đường tới vùng đất Canaan. Thượng Đế cũng lập Giao Ước với Abram rằng: “Ta là Thiên Chúa toàn năng, và Ta lập Giao Ước với ngươi. Ngươi sẽ là tổ phụ của nhiều dân tộc, và để đánh dấu Giao Ước này, ngươi sẽ đổi tên thành Abraham (có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc”). Ta sẽ giữ lời hứa, và xứ Canaan sẽ thuộc về ngươi và dòng dõi của ngươi đời đời; và Ta sẽ là Thiên Chúa của họ.” Xứ Canaan về sau được gọi là Đất Hứa (Promised Land) là vì vậy. Abraham chấp nhận Giao Ước, và nguyện sẽ tôn thờ Thượng Đế – Đức Jehovah – là Thiên Chúa duy nhất của vũ trụ. (trong Kinh Thánh Torah, Jehovah là tên riêng của Thượng Đế).

lịch sử israel
Cuộc hành trình của Abraham từ thành Ur tới xứ Canaan

Lịch sử của dân tộc Do Thái bắt đầu với câu chuyện của gia đình Abraham như thế. Họ trở thành một thị tộc (clan), rồi phát triển lớn hơn thành một bộ tộc (tribe), và cuối cùng cắm rễ để trở thành một dân tộc (nation) – dân tộc Do Thái và kiến tạo cho mình một đất nước. Cuộc hành trình ấy đã kéo dài hàng ngàn năm, với đầy bùn lầy, nước mắt, đồng hành cùng ý chí mãnh liệt của dân tộc.

Về cội nguồn dân tộc, cụ thể hơn theo Kinh Thánh, Thượng Đế tạo nên trái đất, sau đó tạo ra con người. Tên của con người đầu tiên là Adam. Con của Adam và Eva là Noah (theo Sách Sáng thế, ông Noah đóng con tàu lớn mà ngày nay gọi là tàu Noah để tự cứu ông và gia đình, bảo tồn thế giới động vật, thực vật khỏi bị diệt vong bởi trận trừng phạt đại hồng thủy của Thiên Chúa). Con trai lớn của Noah là Shem trở thành tổ tiên của các giống dân Do Thái và Ả Rập. Do đó, phát sinh danh từ “Semites” để gọi chung người Do Thái và Ả Rập, có nghĩa là “con cháu của Shem”. Con cháu của Shem dẫn đến Abraham. Abraham cưới Sarah nhưng không có con cho nên Abraham lấy Hagar làm vợ thứ. Hagar sinh cho Abraham một con trai là Ishmael, và rồi cùng lúc người vợ đầu Sarah may mắn có bầu và sinh con trai đặt tên là Isaac. Sarah sau đó đòi Abraham đầy Hagar và Ishmael ra khỏi bộ tộc. Kinh Koran của Hồi giáo theo sát Kinh Thánh Cựu Ước cho đến thời điểm này nhưng bắt đầu tách ra từ đây. Theo Kinh Koran, Ishmael đi tới Mecca và con cháu của Ishmael phát triển mạnh khắp bán đảo Ả Rập, trở thành người Hồi giáo. Còn con cháu của Isaac vẫn ở lại Palestine và trở thành tổ tiên của người Hebrew mà sau này chúng ta gọi là Israelites rồi Jews, gọi chung trong tiếng Việt là người Do Thái. Trong rất nhiều thế kỷ người, Hồi giáo và người Do Thái, mặc dù cùng chung một nguồn gốc, vẫn không hết thù ghét nhau phần lớn là do kỳ thị tôn giáo. Phải chăng đây là một lời nguyền nghiệt ngã mà Thượng Đế đã đặt lên số phận người Do Thái và người Ả Rập!

Tiếp tục với câu chuyện về gia đình Abraham. Sau khi Abraham chết, trách nhiệm lãnh đạo được truyền lại cho con trai của ông là Isaac, và rồi đến con trai của Isaac là Jacob. Jacob về phần mình có 12 người con trai và cũng là hạt nhân của 12 bộ tộc sau này phát triển thành quốc gia Do Thái. Tất cả từ Abraham, Isaac, Jacob cho đến 12 người con trai của Jacob được gọi là ‘tổ phụ’ (Patriarchs), tức là tổ tiên của dân tộc Do Thái. Chữ “Israel” lần đầu tiên được dùng trong Kinh Thánh có liên quan đến Jacob. Một đêm, Jacob nằm mơ vật lộn với một người lạ, và sau đó, chính người lạ ấy – hình bóng của Thượng Đế – đã chúc phúc và đặt cho Jacob cái tên Israel, có nghĩa là “Kẻ chiến đấu với Thượng Đế”. Kể từ đó, người Hebrew được gọi là Bnei Yisrael – “Son of Israel” (Những người con của Israel) – hoặc Israelites. Còn cái tên “Do Thái” lại bắt nguồn từ Yehuda (Judah) – một trong 12 người con trai của Jacob (bao gồm Reuben, Simeon, Levi, Judah, Dan, Naphtali, Gad, Asher, Issachar, Zebulun, Josheph, Benjamin). Vì vậy, các tên Israel hay Do Thái là ám chỉ những người có cùng nguồn gốc.

lịch sử israel
Bản đồ Canaan cổ với 12 bộ tộc

Theo thời gian, từ dân tộc Do Thái đã ra đời ba tôn giáo lớn nhất và ảnh hưởng nhất trên thế giới, khởi đầu là Do Thái giáo vào khoảng năm 1500 TCN, tiếp theo là Kitô giáo được Chúa Jesus sáng lập vào giữa thế kỷ 1 như một nhánh ly khai từ Do Thái giáo, và sau đó là Hồi giáo được nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào thế kỷ 6. Tuy nguyên thủy không phải là một nhánh ly khai từ Do Thái giáo hay Kitô giáo, nhưng Hồi giáo tự cho mình là sự tiếp nối hoàn hảo và thay thế cho hai tôn giáo nói trên. Sự ra đời của ba tôn giáo cùng những bản văn thiêng liêng đã tạo nên Kinh Thánh – cuốn sách được đọc rộng khắp nhất qua mọi thời đại. Kinh Torah của Do Thái giáo (hay còn được gọi là Kinh Cựu Ước theo Kitô giáo) đã đem lại nguồn cảm hứng cho 14 triệu tín đồ Do Thái giáo, hai tỷ tín đồ Kitô giáo, và được kể lại trong Kinh Koran cho 1,5 tỷ tín đồ Hồi giáo.

1.2. Canaan và người Canaan (Canaanites)

Canaan là một dải đất kéo dài từ sông Jordan đến bờ Địa Trung Hải và nằm ở nơi giao nhau của các nền văn minh, kết nối ba châu lục Phi, Âu và Á. Nếu như ngày nay người ta tin rằng con người có nguồn gốc từ châu Phi, thì tổ tiên của tất cả người châu Á và châu Âu chắc chắn đã đi qua vùng đất này.

Khi các Đế quốc lần lượt nổi lên thì vùng đất Canaan trở thành địa điểm chiến lược. Nó trở thành một hành lang nằm giữa biển và sa mạc, nối liền các mảnh đất trù phú như Ai Cập và Lưỡng Hà, cung cấp cho các đoàn thương nhân và các đạo quân chinh phục một con đường độc nhất xuyên giữa các quốc gia rộng lớn và hùng mạnh xung quanh. Những trận đánh dữ dội đã diễn ra trên và quanh vùng đất Canaan. Cũng giống như Việt Nam, vị trí địa lý khiến đây trở thành phước lành cũng như lời nguyền của các dân tộc nhỏ sống ở đó, trong đó có tổ tiên của người Do Thái. 

lịch sử israel
Sinh thái, cảnh quan tiêu biểu của Canaan

Có rất ít bằng chứng vật chất về người Do Thái đầu tiên. Phần lớn những điều chúng ta biết về người Do Thái là qua Kinh Torah – một tài liệu rất có khả năng thiếu sót nếu được xem là một tư liệu tham khảo lịch sử.

Như đã nói trong Kinh Thánh, sự tồn tại của người Canaan (gọi là Canaanites) có thể được xác nhận, cũng như người Moabites, Amorites, và Edomites ở phía đông, vương quốc Aram ở phía bắc. Những bảng đất sét Ebla (Ebla Tablets) có chạm khắc trong khoảng thời gian rất sớm là năm 2350 TCN được đào thấy ở thành cổ Ebla thuộc miền Bắc Syria cho biết manh mối về người Canaan. Những lá thư giao dịch Mari (Mari Letters là một bộ sưu tập các thư từ hoàng gia từ Mari, một nhà nước thành phố cổ trên sông Euphrates) và Amarna (Amarna Letters là thư từ ngoại giao trên bảng đất sét, chủ yếu giữa chính quyền Ai Cập và đại diện của họ ở Canaan và Amurru trong khoảng thời gian những năm 1300 TCN) đều viện dẫn đến những người du mục lang thang gọi là Habiru hay Apiru, tựa như rất giống người Hebrew. Habiru hoặc Apiru là tên gọi đã được tìm thấy trong các nguồn di tích khác nhau từ Sumerian, Ai Cập, Akkadian, Hittite, Mitanni, Ugaritic (trong khoảng thời gian giữa 1800-1100 TCN) dành cho một nhóm người xâm lăng du cư trong các khu vực của Fertile Crescent (vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu) từ đông bắc Mesopotamia và Iran đến biên giới của Ai Cập ở Canaan. Tùy thuộc vào nguồn và thời đại, những người Habiru này được mô tả là dân du mục hoặc bán du mục, phiến quân, ngoài vòng pháp luật, cướp, lính đánh thuê, tôi tớ, nô lệ, lao động phục dịch,…

Một giả thuyết khá thuyết phục hiện nay cho rằng người Do Thái cổ đại mà chúng ta gọi là Hebrew là pha trộn của người Canaan và người Habiru, hoặc dân cướp Shasu Bedouin là những người sau này khẳng định có nguồn gốc từ Ur. Theo thời gian có vẻ như họ đã đạt tới biểu tượng của nền văn minh, với một ngôn ngữ mẹ đẻ tinh tế. Tiếng Hebrew thuộc cùng hệ ngôn ngữ Semitic như tiếng Canaanite, Phoenician và Punic, nhưng cho đến nay chỉ có tiếng Hebrew là còn sót lại. (Semitic là nhóm các ngôn ngữ có liên quan với nhau được nói bởi 470 triệu người tại Tây Á, Bắc Phi, và châu Phi. Chúng là một nhánh của họ ngôn ngữ Phi-Á. Ngôn ngữ Semitic được nói nhiều nhất hiện nay là tiếng Ả Rập, Amharic, Hebrew, Tygrinia và Aramaic). Người Canaan cũng phát triển bảng chữ cái phụ âm đầu tiên của thế giới trong thế kỷ 18 và 17 TCN. Được phổ biến bởi người Phoenician thông qua thương mại, bảng chữ cái này hình thành các mẫu (template) cho các hệ thống mẫu tự Hebrew, và sau đó cho tiếng Hy Lạp, Latinh và tiếng Ả Rập.

Về chính trị, Abraham, Isaac và Jacob chỉ là những diễn viên nhỏ tại vùng đất Canaan giữa vô số những bộ lạc lớn hơn xung quanh. Trong suốt thiên niên kỷ thứ 2 TCN, Canaan chỉ là một tỉnh của một trong những cường quốc trong khu vực hồi đó: Ai Cập ở phía nam, Babylon và Mesopotamia ở phía bắc. Những cường quốc này tự tin là có những hệ thống quản trị tiên tiến, sở hữu công nghệ quân sự mới nhất, và buôn bán vượt ra khỏi biên giới. Không ai thoát khỏi ảnh hưởng của họ cả về vật chất cũng như nghệ thuật và kiến trúc, tinh thần.

Những truyền thuyết và các chuẩn mực xã hội của Mesopotamia rõ ràng đã ảnh hưởng và đem lại màu sắc cho những phong tục tập quán của người Do Thái những ngày đầu.

1.2.1. Di cư đến Ai Cập

Pharaoh Djoser (2650-2575 TCN) xây dựng kim tự tháp đầu tiên vào năm 2650 TCN tại Saqqara và khởi đầu cho Cổ Vương Quốc Ai Cập (Old Kingdom of Egypt) đóng đô tại Memphis. Cổ Vương Quốc này đã bị tan rã trước tình trạng hỗn loạn vào năm 2180 TCN. Trong khoảng 200 năm, Ai Cập bị chia đôi thành Vương quốc miền Bắc và Vương quốc miền Nam, cuối cùng thống nhất thành Vương Quốc Ai Cập (Middle Kingdom of Egypt) vào khoảng năm 2000 TCN dưới quyền trị vì của Pharaoh Mentuhotep II đóng đô tại Thebes.

Sau năm 1800 TCN, bùng nổ kinh tế ở Ai Cập đã lôi kéo hàng ngàn người ngoại quốc di cư đến đây, trong đó có cả người Palestine. Họ lập nên những cộng đồng riêng và có cả vua riêng của họ.

Tại Canaan, một trăm năm sau thời kỳ thủy tổ Abraham, vào thời đại của Jacob, đất Canaan rơi vào cảnh mất mùa đói kém. Dân Do Thái lại phải tiếp tục di cư tìm kiếm những đồng cỏ mới. Lúc này, đất Ai Cập với phù sa sông Nile là vựa lúa của vùng Địa Trung Hải và là miền đất hứa cho các dân tộc quanh đó tìm đến khi gặp đói kém hoạn nạn. Toàn thể gia tộc của Jacob với nhân số khoảng 70 người dưới sự dẫn dắt của Jacob di cư sang Ai Cập. Chuyến đi tị nạn tưởng chỉ một đôi vụ mùa, ngờ đâu thuận lợi mà kéo dài tới 400 năm. 12 người con trai của Jacob phát triển thành 12 chi tộc sống ở Goshen, vùng đất phì nhiêu của Ai Cập, thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi. Người Do Thái chuyển từ cuộc sống du mục sang cuộc sống định cư nông nghiệp. Rồi thời thế lại thay đổi, 70 người di dân nay phát triển thành hàng trăm ngàn người, và trở thành mối lo ngại cho người Ai Cập rằng sự phát triển của người Do Thái có thể gây tổn hại đến Đế chế Ai Cập. Các Pharaoh về sau quay lưng lại ngược đãi người Do Thái, bóc lột họ như nô lệ, ép họ phải đi lao dịch nặng nhọc và độc ác nhất là ra lệnh dìm chết tất cả những bé trai Do Thái mới lọt lòng nhằm dần dần tiêu diệt dân Do Thái.

Những tư liệu của Ai Cập chưa bao giờ đề cập đến sự tồn tại của người Do Thái dọc theo sông Nile. Thậm chí Kinh Thánh không nói gì trong quãng thời gian 400 năm giữa thời Joseph (con cả của Jacob) và Moses. Tuy nhiên điều đó không phải là không chứng minh sự có mặt của người Do Thái ở Ai Cập. Trong khoảng thời gian 1700-1550 TCN, một nhóm người gọi là Hyksos nổi lên và có vẻ như đã loại trừ tất cả các thủ lĩnh người bản địa. Câu hỏi rằng nhóm người này gốc gác ở đâu cho đến nay vẫn là một ẩn số. Một vài học giả cho rằng đó là người Semite, một vài người khác cho rằng đó là người Ấn-Âu (Indo-European) từ Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại). Nhiều sử gia, quay lại tham khảo sử gia Ai Cập Manetho (thế kỷ 3 TCN), suy luận rằng đó là người Do Thái.

1.1.3. Moses

Giữa hoàn cảnh nô lệ đầy khổ cực của người Do Thái, một cứu cánh đã đến như một phép màu, đã giải cứu dân Do Thái khỏi ách nô lệ. Đó là sự xuất hiện của Moses vào khoảng thế kỷ 15-14 TCN.

Theo lời kể lại trong Kinh Thánh, Moses là một người kiệt xuất: nhà lãnh đạo dân tộc, nhà thông thái, người mang tư tưởng kiến thiết xã hội, người thầy thực tế, một con người đầy lòng trắc ẩn, cấp tiến, và đôi khi cũng là một bạo chúa. Moses là người đã dẫn dắt dân Do Thái trong cuộc hành trình di dân (Exodus) ra khỏi Ai Cập. Moses cũng là người Hebrew đầu tiên ảnh hưởng lên thế giới cổ đại. Người Hy Lạp đã xếp Moses đứng cùng hàng với các vị thần và anh hùng của họ.

Nguồn thông tin duy nhất mà chúng ta có về cuộc đời của Moses là từ Kinh Torah. Không có bất cứ một hé lộ nào về công cuộc Exodus này trong các tư liệu của Ai Cập. Tuy nhiên vị trí tâm điểm của Moses đối với Do Thái giáo là không thể chối cãi.

Tên gọi “Moses” có thể có nguồn gốc Ai Cập. Theo lời kể trong Kinh Thánh, Moses được sinh ra ở Ai Cập, bố là Amram người Levite, và mẹ là Jochebed người Do Thái. Người Do Thái sống gần 400 năm trong sự hòa đồng với người Ai Cập trên vùng đất Goshen phía đông của đồng bằng sông Nile. Khi một Pharaoh mới lên cầm quyền và ra lệnh giết tất cả những trẻ sơ sinh trai Do Thái, người mẹ của Moses là Jochebed đã giấu ông trong 3 tháng, rồi thả trôi theo dòng sông Nile. Miriam, chị của cậu bé, dõi theo canh chừng chiếc thuyền con bé tí này cho đến khi nó trôi giạt vào nơi công chúa Thermuthis – con gái Pharaoh, đang tắm và phát hiện ra. Công chúa mang bé trai về cung và đặt tên là Moses. Từ đó Moses được nuôi dưỡng và lớn lên như một hoàng tử trong hoàng cung.

Một hôm, Moses giết chết một người lính Ai Cập khi chứng kiến người lính này đánh đập một người nô lệ Do Thái. Lo sợ bị phạt, Moses bỏ trốn hoàng cung chạy đến hoang mạc làm người chăn cừu cho linh mục Jethro người Midianites. Trong thời gian này, Moses cưới con gái của Jethro, Zipporah, và sinh con trai là Gershom.

40 năm sau, liên quan đến Exodus, theo Sách Xuất Hành 2-3 (Kinh Thánh Hebrew), một lần trong khi Moses dẫn cừu đi sâu vào vùng núi thiêng Sinai (thuộc bán đảo Sinai của Ai Cập ngày nay), bỗng nhiên Thiên Chúa hiện ra ở giữa một bụi gai đang bốc cháy. Rồi Moses nghe tiếng Thiên Chúa nói, “Ta đã thấy nỗi thống khổ của dân ta ở Ai Cập, nơi họ đang bị đối xử như nô lệ. Ta sẽ giải phóng chúng khỏi đất nước tàn bạo đó, và ban cho chúng một mảnh đất khác tốt lành, đượm sữa và mật. Vì thế, ngươi, Moses, phải dẫn dắt dân ta ra khỏi Ai Cập về Miền Đất Hứa”.

Thế là Moses, cầm theo cây gậy linh thiêng của Thiên Chúa ban cho, cùng với vợ con lên đường trở lại Ai Cập đặng giải thoát dân Do Thái. Biến cố ly kỳ này được ghi lại trong Sách Xuất Hành, mô tả chi tiết hành trình gian truân về Miền Đất Hứa (sử hiện đại gọi cuộc hành trình này là The Exodus) của khoảng bốn chục vạn dân Do Thái, chạy trốn khỏi Ai Cập, vượt qua Biển Đỏ (Red Sea), đi về hướng đông qua nhiều sa mạc hoang vu và lưu lạc ở đó suốt 40 năm, cuối cùng trở về chinh phục vùng đất Canaan mà Thượng Đế đã hứa cho họ từ thời Abraham. Riêng Moses, dù sống thọ đến 120 tuổi, Moses đã không được vào Miền Đất Hứa mà phải chết trong sa mạc.

lịch sử israel
Cuộc hành trình The Exodus vượt Biển Đỏ của Moses

Trong hành trình gian truân về Miền Đất Hứa, một sự kiện rất trọng đại đã xảy ra có liên quan đến “Mười Điều Răn” (The Ten Commandments) của Thiên Chúa. Đó là thời điểm khi người Do Thái dừng chân tại vùng núi thiêng Sinai. Từ ngọn núi này, Thiên Chúa đã truyền ban Mười Điều Răn và Lề Luật cho dân Do Thái thông qua Moses. Mười Điều Răn tuyệt đối này rất căn bản cho đời sống của người Do Thái giáo, được tìm thấy trong Sách Xuất Hành 20:1-17 và Sách Đệ Nhị Luật 5:6-21 của Kinh Thánh Hebrew.

Trước đây, Thượng Đế giao ước riêng với Abraham, còn lần này, Ngài giao ước với toàn thể dân tộc Do Thái qua những lần Moses lên đỉnh núi Sinai để trực tiếp gặp Ngài. Qua những lần gặp gỡ Thượng Đế, Moses chuyển giao lại cho dân tộc Do Thái các huấn thị của Ngài. Thượng Đế lúc này tỏ lộ danh xưng là ‘YHWH’, gọi là Jehovah, nghĩa là ‘Ta là kẻ ta là’. Và đặc điểm của Giao Ước lần này cũng rất rành rọt, đó là chừng nào dân Ngài chọn còn vâng lời Ngài, chừng đó họ sẽ được Ngài che chở.

Những tư liệu pháp lý liên quan đến sự kiện trên núi Sinai đã trở thành những tư liệu quan trọng nhất trong Kinh Thánh Hebrew. Theo Sách Sáng Thế, các nguyên lý căn bản của Do Thái giáo thực sự được mặc khải (một từ thần học hay được dùng trong Kitô giáo, có nghĩa là vén mở ra bức màn bí mật để cho thấy một điều gì đó) tuần tự theo dòng dõi các tổ phụ, từ Adam đến Jacob. Tuy nhiên, Do Thái giáo thực sự được hình thành như là một tôn giáo chỉ khi Moses nhận lãnh Mười Điều Răn trên núi Sinai, cùng với hệ thống tư tế và các nghi thức thờ phụng tại Ngôi Đền Jerusalem sau khi dân tộc này được giải cứu khỏi Ai Cập.

Nhiều câu hỏi rằng tại sao Moses lại dẫn dắt đoàn người quẩn quanh trong sa mạc tới 40 năm trước khi trở về Miền Đất Hứa? Làm sao một dân tộc quen sống trong cảnh sung túc rồi chịu làm nô lệ hàng trăm năm có đủ tính cách và bản lĩnh để có thể chinh phục vùng đất trước mặt và xây dựng một quốc gia hùng mạnh trong tương lai? Làm sao Giao Ước của Thượng Đế, vốn thuần túy chỉ là những hứa hẹn, được pháp chế hóa thành luật lệ và thiêng liêng hóa trong những ràng buộc mang tính tôn giáo?

Theo truyền thống Do Thái giáo, để có đủ năng lực tiếp nhận Miền Đất Hứa và xứng đáng làm người chủ của nó, Moses đã buộc phải dẫn dắt dân Do Thái trải qua những cuộc thanh tẩy đạo đức cùng thao luyện nghiệt ngã trong suốt 40 năm trong sa mạc cho đến khi một thế hệ mới trưởng thành có đủ bản lĩnh để chinh phục Miền Đất Hứa. Moses được mô tả trong Thánh Kinh là một lãnh tụ tôn giáo, người công bố luật pháp, nhà tiên tri đầu tiên của Do Thái giáo. Ông được xem là người viết Kinh Torah (5 sách đầu tiên của Kinh Thánh Hebrew, còn gọi là Ngũ thư Kinh Thánh hay Ngũ kinh Moses) trong quãng thời gian 40 năm trong sa mạc. Moses còn được coi là một thiên tài quân sự và là một vị anh hùng dân tộc của người Do Thái. Buổi đầu sự nghiệp của ông khá giống với vua Cyrus Đại Đế – vị Hoàng đế khởi lập Đế quốc Ba Tư. Ông cùng với vua Cyrus Đại Đế đều đóng vai trò vô cùng lớn lao trong lịch sử của dân tộc mình.

Trên thực tế, ngoài những hiểu biết dựa theo các tài liệu trong Kinh Thánh Hebrew, chúng ta không có những tư liệu lịch sử đáng tin cậy khác về hành trình của Moses, và vì vậy những câu chuyện trong Kinh Thánh Hebrew cho ta cảm giác về những huyền thoại không xác thực. Chúng ta chỉ có thể phán đoán rằng khi Moses dẫn người Do Thái đến đỉnh núi Sinai thì ông ta chỉ làm theo tập tục lâu đời của người Ai Cập có hàng ngàn năm trước đó trong những cuộc viễn chinh săn tìm đá quý. Câu chuyện về cuộc sống lang thang 40 năm trong sa mạc cũng thế, thoạt nghe tưởng như khó tin, song giờ đây lại có vẻ hợp lý với một dân tộc quen sống du mục; và cuộc chinh phục xứ Canaan nói cho cùng chỉ là trường hợp một bộ tộc du mục đói khát tấn công một cộng đồng định cư yên ổn để giành đất sống. Sau hết, phải chăng cuộc đối thoại giữa Moses và Thượng Đế trên đỉnh núi Sinai cũng chỉ là cách Moses đặt ra để dễ bề cai trị một đám dân du mục gồm hàng ngàn người cứng đầu cứng cổ trong hành trình Exodus đầy gian khó?

Khi đề cập đến câu chuyện 40 năm này, bà Golda Meir, người “đàn bà sắt” và cũng là thủ tướng thứ tư của Israel (1969-1974), đã có lần nói vui rằng: “Hãy để cho tôi nói cho các bạn nghe về một điều mà tôi chống lại Moses. Đó là ông ta đã dẫn dắt chúng tôi 40 năm lang thang trong sa mạc để rồi cuối cùng đưa chúng tôi đến một vùng đất ở Trung Đông (tức là Canaan) không có lấy một giọt dầu mỏ”. Quả là một nghịch cảnh.

Trong những ngày cuối đời, Moses chuyển giao quyền lãnh đạo sang cho Joshua, con một người gác trại thân cận của Moses. Không chỉ là một nhà lãnh đạo quân sự, Joshua giờ có trong tay quyền lực qua phước lành của Moses. Nhưng liệu Joshua có thể tập hợp và gắn kết các bộ tộc với nhau hay không?

1.3. Trở về Canaan

Sách Joshua (The Book of Joshua – cuốn thứ 6 trong Kinh Thánh Hebrew), kể lại chuyện đoàn người Do Thái do Joshua dẫn đầu đã vượt sông Jordan và bao vây thành cổ Jericho (thành cổ nằm gần Bờ Tây của sông Jordan), thổi vang kèn chiến thắng và kéo đổ tường thành vào ngày thứ bảy của cuộc tấn công. Câu chuyện trên được viện dẫn từ Kinh Thánh. Còn chuyện thực là như thế nào?

1.3.1. Cuộc tấn công Canaan của người Do Thái – sự thực hay hư cấu?

Bằng chứng khảo cổ cho thấy rằng các bức tường thành Jericho đã đổ rất lâu trước khi người Israel trở về. Một số học giả đặt câu hỏi cuộc tấn công quân sự của người Do Thái như mô tả ở trên có thực sự xảy ra hay không, và tin rằng người Do Thái đã mất tới trên 2 thế kỷ để xâm nhập Canaan. Những lời kể về cuộc chinh phục Canaan của Joshua trong các Sách Dân số (The Book of Numbers – cuốn thứ 4 trong Kinh Thánh Hebrew), Sách Joshua (The Book of Joshua – cuốn thứ 6 trong Kinh Thánh Hebrew), và Sách Thủ Lĩnh (The Book of Judges – cuốn thứ 7 trong Kinh Thánh Hebrew) cho thấy những bất đồng.

Tuy nhiên những hình ảnh trong Kinh Thánh cũng có những giá trị nhất định. Những khai quật cho thấy rằng những thành phố của Canaan như Lachish, Kiryat-Sepher và Eglon ở phía nam, Bethel ở giữa, và Hazor – một thành phố ở cực bắc, tất cả đều bị phá hủy vào cuối thế kỷ 13 TCN. Các bằng chứng khác khẳng định rằng cuộc tấn công vùng đồi núi Canaan đã xảy ra bắt đầu từ phía đông sang phía tây là ăn khớp với câu chuyện trong Kinh Thánh.

Ngôi Đền tại Shechem, một thành phố của Canaan, nơi mà Abraham được Thiên Chúa hứa cho Canaan một thiên niên kỷ trước, không có dấu hiệu bị phá hủy. Điều này nhất quán với khẳng định trong Sách Joshua rằng người Do Thái không bị cản trở trong cuộc tấn công ở đó. Xâu chuỗi tất cả những bằng chứng từ khảo cổ, các nguồn Kinh Thánh và địa chính trị của thời gian đó, chúng ta có thể dựng lại câu chuyện như sau.

Người Do Thái xuất hiện từ Sinai và đi vào khu vực Transjordan (Transjordan gồm các khu vực phía Đông của sông Jordan, bao phủ phần lớn Jordan ngày nay), chuẩn bị tiến vào Canaan từ phía đông. Họ trang bị vũ khí nhẹ và cảm thấy mệt mỏi sau 40 năm trong sa mạc. Cuộc tấn công vào các thành phố được phòng thủ kiên cố của Canaan dường như bị thất bại. Thêm nữa, người Canaan tổ chức quân đội theo kiểu tập đoàn quân (field army), vì thế các trận đánh đối diện trực tiếp trên chiến trường theo kiểu quy ước của người Do Thái không mang lại kết quả.

Do vậy, người Do Thái thay đổi chiến thuật sang chiến tranh du kích. Họ lấy được các thành phố Bethel, Ai và Gibeah bằng cách giả vờ rút lui và gài gián điệp vào thành Jericho trước khi bao vây. Thông thường người Do Thái sử dụng phương thức ngoại giao để chia rẽ các dân tộc khác nhau của Canaan. Thí dụ như họ lập được hiệp ước với người Hivites của thành phố cổ Gibeon và các thành phố lân cận, giúp họ phòng thủ khi bị bốn thành bang (city-states) của Canaan tấn công.

1.3.2. Các đợt tấn công

Có thể chia các cuộc tấn công của người Do Thái thành hai đợt. 

Đợt tấn công thứ nhất do các bộ tộc Rachel thực hiện (Rachel là tên người vợ chính của Jacob), dưới sự lãnh đạo của Ephraim và Manasseh thuộc gia đình Joseph (Joseph là con đầu của Jacob). Họ tiến quân qua các vương quốc Moab và Edom của Transjordan. Sau khi vượt qua sông Jordan và lấy được Jericho, họ trèo lên dãy núi và vượt qua ngọn Ephraim. Từ đó tỏa ra theo các hướng khác nhau.

Đợt tấn công thứ hai là của thế hệ tiếp theo. Các bộ tộc Leah (Leah là tên của người vợ thứ của Jacob) do Judah lãnh đạo (Judah là con thứ hai của Jacob). Sau khi đánh bại người Amorites, họ tiến vào Canaan về phía bắc của Jericho và tiếp tục di chuyển về hướng dãy núi Judaean Hills và vùng đồng bằng Shefelah Plain gần bờ biển. Trong khi đó, các thị tộc không phải Do Thái nhưng có quan hệ với Judah như Calebites, Kenites, và Kenizzites giúp đỡ họ chiếm Hebron và Sa mạc Negev.

lịch sử israel
Ngôi mộ được cho là của Judah ở Yehud , Israel

Sách Joshua nói rằng người Do Thái tiêu diệt 12 thành phố pháo đài, nhưng thừa nhận rằng còn lâu mới có thể khống chế toàn bộ khu vực. Sau những thắng lợi ban đầu, tình thế bị đảo ngược và người Do Thái bị đẩy ra khỏi các đồng bằng ven biển vào vùng đồi núi khô cằn, chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp ở các phần sau.

1.3.3. Các bộ tộc Do Thái

Người Do Thái sống cạnh các dân tộc khác ở Canaan. Ở biên giới phía bắc là người Phoenician, phía đông là người Ả Rập và các dân du mục Semitic khác như là Ammonites. Vào khoảng năm 1175 TCN, một nhóm người mới xuất hiện làm đảo lộn trật tự sắc tộc vốn rất mong manh của Canaan. Đó là người Philistines, một giống dân tiến bộ định cư dọc theo bờ biển phía nam của Canaan, tiền thân của người Palestine sau này.

Lúc này 12 con trai của Jacob (theo thứ tự sinh), Reuben, Simeon, Levi, Judah, Dan, Naphtali, Gad, Asher, Issachar, Zebulun, Joseph và Benjamin trở thành tổ tiên của 12 bộ tộc cùng tên của Israel, trừ trường hợp của Joseph, người có hai con trai Manasseh và Ephraim đã được Jacob nhận làm con nuôi và trở thành danh xưng (eponym) của bộ tộc, theo Sáng Thế Ký 48. Trong 12 bộ tộc này, bộ tộc được các độc giả hiện đại biết đến nhiều nhất là bộ tộc Judah.

lịch sử israel
Tranh khảm mô tả mười hai bộ lạc và tên tiếng Do Thái của họ, với các hình ảnh tượng trưng.
Asher: Một cái cây
Dan: Cán cân công lý
Judah: Kinnor, Cithara và vương miện, tượng trưng cho Vua David
Reuben : Cây độc mandrake (Sáng thế ký 30:14)
Joseph: Cây cọ và vỏ lúa mì, tượng trưng cho thời gian của ông ở Ai Cập.
Naphtali : Con gazelle (Sáng thế ký 49: 21)
Issachar : Mặt trời, mặt trăng và các vì sao ( 1 Sử ký 12:32)
Simeon : Tháp và tường thành của Shechem
Benjamin : Cái bình, cái muôi và cái nĩa
Gad: Lều, tượng trưng cho sự lưu lạc của họ với tư cách là những người chăn gia súc
Zebulun : Con tàu, do giáp với Biển Galilee và Địa Trung Hải.
Levi: Tấm lót ngưc linh mục Hoshen

1.3.4. Cuộc sống trên Miền Đất Hứa

Sách Joshua và Sách Thủ Lĩnh mô tả cuộc sống buổi đầu của người Do Thái sau khi trở về Canaan là một xã hội nghèo, nông nghiệp, tổ chức theo bộ tộc và bình đẳng. Những khai quật khảo cổ trong Hậu kỳ Thời đại Đồ đồng đã xác nhận những mô tả này. 

Người Do Thái tổ chức xã hội dựa trên một hệ thống chính quyền cộng hòa lỏng lẻo, gọi là edah, giống như hội đoàn hay hội đồng. Ranh giới các bộ tộc dịch chuyển theo thời gian dựa trên các tranh chấp với láng giềng. Tranh chấp biên giới nội bộ rất hiếm khi xảy ra, tuy nhiên Sách Joshua có ám chỉ bóng gió đến sự ly khai giữa các bộ tộc miền bắc và nam.

1.3.5. Từ liên minh bộ tộc sang chế độ quân chủ

Lúc đầu, người Do Thái không có vua. Họ chỉ liên kết với nhau dựa vào những điều răn của Thiên Chúa và chung sống dựa vào sự hiểu biết Thiên Chúa của họ. Từ khoảng năm 1200 TCN cho tới năm 1047 TCN, các bộ tộc người Do Thái sống bằng nghề canh nông và chăn nuôi, được tổ chức và cai trị không phải theo nguyên tắc nhà nước mà theo chế độ gia trưởng phụ quyền. Người đứng đầu cao tuổi nhất trong mỗi tộc họ tham dự vào hội đồng bô lão, đây là tòa án đưa ra phán xét cuối cùng trong bộ tộc. Các lãnh đạo của bộ tộc được gọi là thủ lĩnh, hay còn gọi là thẩm phán (judge), có trách nhiệm đặc biệt phân xử về đất đai, hôn nhân và các sự việc liên quan tới lề luật. Đồng thời, họ còn lãnh đạo những cuộc hành quân phối hợp giữa các bộ tộc trong những trận đánh với các dân tộc xung quanh, đặc biệt với quân Philistine.

Như đã đề cập ở trên, sự xuất hiện của người Philistines vào khoảng năm 1175 TCN đã làm đảo lộn trật tự sắc tộc vốn rất mong manh của Canaan. Trong khi người Do Thái và người Canaan sau nhiều căng thẳng đạt được thỏa thuận về những khu vực ảnh hưởng và ngưng chiến thì người Philistines đã xuất hiện và đe dọa sự ổn định hòa bình của khu vực. Ngày nay từ “Philistines” ám chỉ cho một cái gì đó quê mùa, nhưng người Philistines thời đó thực sự rất có tài về nghệ thuật. Họ cũng là giống người thông minh trong nghệ thuật chiến tranh. Người Philistines đã sớm biết sử dụng kiếm sắt và mũ đồng như trong Sách Samuel (The Book of Samuel – cuốn thứ 8 của Kinh Thánh Hebrew) đã miêu tả về người chiến binh Philistines khổng lồ Goliath. Tuy nhiên, mặc dù người Philistines rất cẩn mật dấu diếm cách sản xuất vũ khí của họ, người Do Thái vẫn ăn cắp được những bí mật này và sao chép lại.

Sau khi ổn định định cư dọc theo bờ biển phía nam của Canaan, từ những địa điểm dọc bờ biển như Gaza, Gath, Ashkelon, Ekron và Ashdod, người Philistines bắt đầu lấn sang vùng đất nội địa của Canaan. Các bộ tộc người Do Thái ở phía nam liên tiếp bị người Philistines tấn công (1180-1150 TCN). Tình trạng tranh chấp và chia rẽ giữa các bộ tộc cùng với những xung đột với các dân tộc bản địa xung quanh đặc biệt là với người Philistines dần dà vượt ra ngoài tầm giải quyết của các thủ lĩnh. Đã tới lúc người Do Thái đòi hỏi cần phải có một chính quyền trung ương, dưới sự cai trị của một vị vua. Thế là Saul (1043-1010 TCN) trở thành vị vua đầu tiên của Vương quốc Thống nhất Israel. Tiếp theo là David (1010-970 TCN) – con rể của Saul, và sau đó là Solomon (970-931 TCN) – con trai của David.

Israel chuyển dịch từ chế độ liên minh bộ tộc sang chế độ quân chủ.

2. Những vị vua vĩ đại ban đầu của Vương quốc Israel

Saul là một nông dân thuộc bộ tộc Benjamin, là bộ tộc chịu rất nhiều tổn thất do những cuộc tấn công của người Philistines. Tại thời điểm khi người Do Thái đòi hỏi cần phải có một chính quyền trung ương dưới sự cai trị của một vị vua, và sau rất nhiều lựa chọn khó khăn, Saul đã được nhà tiên tri Samuel xức dầu và trở thành vị vua đầu tiên của Vương quốc Thống nhất Israel gồm 12 bộ tộc.

Chú thích: Xức dầu hay anointing diễn tả hành động xoa dầu trên cơ thể, hay đổ dầu lên đầu. Việc xức dầu bao gồm nhiều mục đích và ý nghĩa khác nhau. Trong thời Cựu Ước, xức dầu được xem là một nghi thức quan trọng nhằm để xác chứng rằng: người được xức dầu được Đức Chúa Trời chỉ định để thi hành một sứ mệnh đặc biệt.

lịch sử israel
Saul – vị vua đầu tiên của Isreal

Saul rất hiểu hoàn cảnh lúc đó của người Do Thái, và theo Sách Samuel, Saul rất thành công trong việc chiến đấu với kẻ thù từ mọi phía – người Philistines, Edomites và Ammonites, người Gibeonites, và người du mục Moabites. Trong thời gian trị vì, Saul và vị tổng chỉ huy quân đội đã xây dựng nên lực lượng quân đội chuyên nghiệp đầu tiên của Israel gồm các đơn vị dựa trên đặc điểm của các bộ tộc và lãnh thổ. Tuy nhiên, theo Sách Samuel, Saul đã đôi lần không vâng lời nhà tiên tri Samuel và cuối cùng thì Samuel đã tuyên bố rằng Thiên Chúa đã từ chối Saul trong vai trò của một vị vua. Đến thời điểm này thì “nhân vật” David bước vào câu chuyện của cung đình.

Xem thêm: Câu chuyện của vua Saul theo Kinh Thánh

David, sau này trở thành con rể của Saul, thuộc bộ tộc Judah và là một người có biệt tài ngâm thơ. David đồng thời cũng là một tài năng lớn về quân sự. Theo lời kể trong Sách Samuel, David giết chết người khổng lồ Goliath của Philistines chỉ với một hòn đá và súng cao su (1024 TCN). Trong vai trò lãnh đạo quân đội, David luôn giành thắng lợi ở trong bất cứ trận đánh nào mà Saul phái tới. Mỗi lần trở về từ các trận đánh, phụ nữ nhảy múa và không tiếc lời ca ngợi David, tôn vinh chàng như một anh hùng quân đội vĩ đại hơn cả Saul. Điều này khiến Saul rất tức giận và ghen tuông trong nỗi lo sợ rằng David sẽ giành ngôi của mình. Lo sợ bị Saul ám hại, David phải bỏ trốn cùng với nhóm người thân tín của mình. Saul giết tất cả những ai đã che dấu David (1011 TCN).

Thiếu cánh tay quân sự tài ba của David, vài năm sau, trong một trận đánh với người Philistines tại núi Gilboa, quân đội của Saul chịu thất bại thảm hại và Saul tự vẫn (1010 TCN). Xác của Saul bị treo trên những bức tường của thành Beth She’an và được chôn ở Zelah. Con trai của Saul, Ish-Boshet, nối ngôi vua Israel được hai năm (1007-1005 TCN).

Sau cái chết của Saul, bộ tộc Judah ly khai khỏi sự cai trị của Gia đình Saul (House of Saul) bằng cách tôn vinh David làm vua của Judah (1010-1002 TCN). Chiến tranh giữa Ish-Boshet và David xảy ra sau đó với thắng lợi luôn nghiêng về phía David. Năm 1005 TCN, đội quân du kích của David đánh bại các lực lượng chính thống của Ish-Boshet. Năm 1002 TCN, David thống nhất Vương quốc Israel. Lịch sử Do Thái bước vào một giai đoạn mới dưới sự trị vì của David (1002-970 TCN). Ngôi sao sáu cánh đặc biệt của David (David Star) đã trở thành biểu tượng của dân tộc Do Thái mà ta có thể thấy trên quốc kỳ Israel ngày nay, cùng với những bài thánh vịnh bất hủ của ông.

lịch sử israel
Bảng chữ cái tiếng Do Thái cho thấy những chữ cái Hebrew nằm khớp với ngôi sao David

Vua David qua đời năm 970 TCN, nối ngôi là hoàng tử Solomon, một học giả đầy trí tuệ. Thời đại Solomon thịnh trị, thu phục được lòng tin của lân bang, mở rộng ngoại thương tới các xứ xa. Về mặt kinh điển, Kinh Torah được ghi thành văn bản dưới triều đại Solomon. Về mặt xây dựng đất nước, Solomon đã chia Israel thành 12 khu vực thuế và phát triển Vương quốc thành một trung tâm buôn bán hùng mạnh và thịnh vượng. Solomon đã mở rộng đất đai bằng tài đàm phán và ngoại giao của ông hơn là những người tiền nhiệm đã thực hiện bằng chiến tranh. Biên giới đế quốc của Solomon trải dài từ sông Nile đến sông Euphrates bao trùm cả những kẻ thù cũ, gồm cả Philistines. Bằng chứng về sự mở rộng của vương quốc đã được tìm thấy vào năm 1902 với việc phát hiện những di tích của Ir Ovot, một pháo đài cao nguyên ở Sa mạc Negev, miền Nam Israel. Di tích này được các nhà khảo cổ xác định là thuộc vào thế kỷ 10 TCN.

Tài năng thiên phú của David và Solomon còn được thể hiện nổi bật trong thi ca. Các thánh kinh trong Kinh Torah bao gồm nhiều đoạn văn được cho là của David và Solomon, nổi tiếng nhất là các thánh vịnh (Sách Thánh Vịnh – Book of Psalms – cuốn thứ 14 trong Kinh Thánh Hebrew), nơi mà thiên tài thi ca và niềm đam mê tôn giáo của David đã thể hiện một cách rõ nét. Các giáo sĩ Do Thái (Rabbis) cũng tin rằng Sách Châm Ngôn (Book of Proverbs – cuốn thứ 15 trong Kinh Thánh Hebrew) chính là tài hoa của Solomon.

Năm 960 TCN dưới thời Vua Solomon, Ngôi Đền Jerusalem đã được khởi công xây dựng, hoàn thành vào năm 825 TCN và được xem là kỳ quan đệ nhất của thế giới thời đó, hoàn thành giấc mơ dang dở của vua David. Có thể nói thời đại David-Solomon là thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử Israel. Nó vĩnh viễn là một hoài niệm đầy tự hào của dân Do Thái suốt mấy ngàn năm.

lịch sử israel
Phán quyết của Solomon, tranh vẽ trên gốm sứ bởi Castelli vào thế kỷ 18

3. Vương quốc Thống nhất Israel bị chia đôi và Jerusalem bị phá hủy

3.1. Ngôi đền Jerusalem bị phá hủy (586 TCN): Ly tán lần thứ nhất 

David và Solomon đã trở nên bất tử trong cả ba đức tin độc thần giáo, nhưng từ góc độ lịch sử, cái chết của Solomon đã để lại một khoảng trống dẫn đến sự chia cắt của Vương quốc Thống nhất Israel.

Trong nhiều thập kỷ, 10 bộ tộc phương Bắc không cảm thấy dễ chịu chấp nhận David là vua của họ. Sang đến thời Solomon, nhờ vào trí tuệ và sự khéo léo cho nên Solomon mới có thể tạm gắn kết những bộ tộc gây gổ này lại với nhau. Lý do chính của sự chia cắt là va chạm giữa Rehoboam – con trai và cũng là người kế thừa Solomon, và Jeroboam, một phiến quân thuộc bộ tộc Ephraim trong triều đình của Solomon. Năm 922 TCN, một cuộc nổi loạn đã chia Vương quốc Israel thành hai tiểu vương quốc. Jeroboam, người không thuộc hoàng tộc David, lãnh đạo cuộc nổi loạn của mười bộ tộc phương Bắc lập nên nước Israel lấy thủ đô là Samaria (gọi là Vương quốc Israel phương Bắc hay Vương quốc Samaria). Chỉ còn lại hai bộ tộc là Judah và Benjamin trung thành với hoàng tộc David làm thành nước Judah ở phương Nam, nơi có Ngôi Đền Jerusalem, lấy thủ đô là Jerusalem.

lịch sử israel
Vương quốc Israel và Judah

Vương quốc Israel phương Bắc (930-720 TCN) chỉ tồn tại được khoảng 200 năm. Năm 720 TCN, Vương quốc Israel phương Bắc bị xâm lăng bởi Đế quốc Assyria (một cường quốc ở vùng Mesopotamia, tọa lạc tại thượng nguồn sông Tigris với thủ đô là Niniveh). Tất cả 10 bộ tộc của Vương quốc Israel phương Bắc bị giết, bị lưu đày, và biến mất khỏi lịch sử. Lịch sử gọi sự kiện này là “Mười bộ tộc thất lạc” (The Lost Ten Tribes).

Vương quốc Judah phương Nam (930-586 TCN) tồn tại lâu hơn trong sự lệ thuộc vào người Assyria, sau đó trở thành chư hầu của đế quốc Tân Babylon rồi biến mất khi trở thành một tỉnh của đế quốc này vào năm 586 TCN, dưới cái tên Yehud. Thành phố Jerusalem bị tàn phá, Ngôi Đền Jerusalem bị san thành bình địa, dân nước Judah hoặc bị giết hoặc bị lưu đày sang Mesopotamia, đặc biệt là tới thủ phủ Babylon. Sự kiện này đánh dấu lần ly tán thứ nhất của dân tộc Do Thái cổ và cũng đánh dấu sự kết thúc thời kỳ được sách vở gọi là “Ngôi Đền thứ Nhất” (825-586 TCN).

3.1.1. Mười bộ tộc thất lạc

Chuyện gì đã xảy ra với 10 bộ tộc phương Bắc bị thất lạc cho đến nay vẫn là một bí ẩn. Nhiều người chạy tị nạn từ Israel xuống Vương quốc Judah phương Nam. Những người khác có thể pha trộn với những người phi Do Thái ở Samaria và trở thành Samaritans (một nhóm sắc tộc-tôn giáo của Levant, hậu duệ của cư dân Semitic cổ của khu vực) hoặc trộn lẫn vào quỹ gen (gene-pool) của người Kurd ngày nay… 

Hậu duệ của 10 bộ tộc thất lạc này dường như xuất hiện ở khắp mọi nơi. Người Do Thái Ethiopia cũng như người Do Thái Yemen tự cho là con cháu của bộ tộc Dan. Bằng chứng cũng cho thấy rằng bộ tộc linh mục (priestly sect) thuộc vùng Lemba của Nam Phi có dấu hiệu di truyền của bộ tộc linh mục Kohanim của người Do Thái. Một nhóm ở Ấn Độ gọi là Shimlung nói họ là dòng dõi của bộ tộc Manasseh. Thậm chí một số người không phải Do Thái cũng tự nhận có tổ tiên thuộc 10 bộ tộc Israel đã mất…

3.1.2. Lưu đày ở Babylon và trở về: Thời kỳ tự trị Do Thái

Năm 720 TCN có vẻ như đã đánh dấu sự sụp đổ của Do Thái giáo. Vương quốc Israel phương Bắc bị Đế quốc Assyria xâm chiếm. Tất cả 10 bộ tộc của Vương quốc phương Bắc biến mất khỏi lịch sử.

Vương quốc Judah phương Nam (930-586 TCN) bị các đạo quân xâm lăng Babylon hủy diệt vào năm 586 TCN. Số phận dân tộc Do Thái dường như đã xuống đến đáy. Nếu có một thời điểm nào đó trong lịch sử Do Thái giáo mà mọi ý nghĩa dường như cạn kiệt thì chính là lúc này. Người Do Thái giáo quằn quại trong đau khổ và tuyệt vọng. Đức tin của dân Do Thái đã trải qua một cuộc thử thách nặng nề khi họ chứng kiến cảnh Ngôi Đền bị tàn phá và bản thân họ bị lưu đày sang Babylon, mục đích để đồng hóa họ vào xã hội Babylon. 

lịch sử israel
Con đường của những người lưu vong đến Babylon

Các nhà tiên tri giải thích rằng đây là một hình phạt về tội bất trung của người Do Thái với Giao Ước. Không phải là Thiên Chúa bỏ rơi người Do Thái, là người Do Thái đã bỏ Ngài, khi họ tìm sự nương tựa nơi các thế lực ngoại bang và ngay cả khi việc thờ phụng của họ dường như chỉ mang tính chất hình thức trống rỗng.

Thế nhưng trong hoàn cảnh hầu như tuyệt vọng ấy, các tiên tri vẫn nhắc nhở dân Do Thái hãy bình tâm tín thác vào Thiên Chúa: Thiên Chúa là đá tảng của sự tin cậy. Nếu không làm được điều này có nghĩa là người Do Thái đã mặc nhiên chấp nhận một logic là thượng đế của kẻ thắng mạnh hơn thượng đế của kẻ bại, cũng có nghĩa là dấu chấm hết cho lòng tin vào Thiên Chúa và cũng là dấu chấm hết cho dân tộc Do Thái. Các nhà tiên tri Do Thái đã từ chối logic đó và chính sự từ chối đó đã cứu vớt tương lai cho đất nước Do Thái. Một vị tiên tri Do Thái giáo vào thế kỷ 6 đã ghi lại rằng thượng đế của người Babylon Marduk đã không thể đánh bại được Đức Jehovah; và lịch sử vẫn thuộc về vương quốc của Ngài.

Tuy nhiên cuộc sống lưu đày tại Babylon lại đã làm nảy sinh những hạt mầm mới, những truyền thống mới: đó là sự xuất hiện một tầng lớp tinh hoa trong xã hội và từ đây các học giả tôn giáo, các nhà hiền triết trỗi dậy trở thành lãnh tụ tinh thần của người Do Thái. Bắt đầu từ thời điểm này Babylon từng bước dần trở thành trung tâm sinh hoạt mới của người Do Thái bên ngoài Palestine. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử của dân tộc Do Thái, đặc biệt là đối với sự phát triển của văn minh Do Thái.

Năm 538 TCN, người Ba Tư chinh phục Đế chế Babylon và người Do Thái trở thành thần dân của Đế quốc Ba Tư. Hoàng đế Ba Tư là Cyrus nhận thấy cần xây dựng một cứ điểm tại Palestine – vùng đất trọng yếu như một cầu nối giữa Tây Á và Bắc Phi. Nơi đây vừa có thể làm bàn đạp lý tưởng để tấn công Ai Cập, vừa có thể dùng làm vùng đệm chống lại sự xâm lăng từ phía Đông của Hy Lạp. Do vậy nên Cyrus quyết định ban hành chỉ dụ trả lại tự do cho người Do Thái đang sống ở Babylon, cho phép họ quay trở lại đất tổ Judah, thành lập một nhà nước tự trị tên gọi là Yehud Medinata với lãnh thổ tương đương tỉnh Yehud trước kia. Ngôi Đền được xây dựng lại lần thứ hai, nhưng với kích thước khiêm tốn hơn. Bản văn cuối cùng của Kinh Thánh Hebrew được soạn thảo. Việc xây dựng lại Ngôi Đền Jerusalem mất khoảng 20 năm và lễ khánh thành Ngôi Đền vào năm 515 TCN, đánh dấu bắt đầu thời kỳ mà sách vở gọi là “Ngôi Đền thứ Hai”. Sau khi trở về từ Babylon, người Do Thái đã phỏng theo giáo chế của Ba Tư mà xây dựng nên một giai cấp tư tế với nền tảng là các học giả giáo sĩ Do Thái, từ đó hình thành một thực tiễn chính trị tôn giáo hợp nhất điển hình trong lịch sử tôn giáo Do Thái.

Nhà nước tự trị Yehud Medinata tồn tại trong 2 thế kỷ. Tiếp theo sau sự thống trị của Ba Tư vào thế kỷ 5 TCN, Canaan rơi vào tay Đế chế Macedonia của Alexander Đại Đế (336-323 TCN). Sau khi chiếm thành Tyre và Gaza, Alesander Đại đế của Macedonia đã dễ dàng hạ gục thành Jerusalem, sáp nhập Yehud Medinata vào đế chế của ông. Trong sự nghiệp chinh phục vĩ đại chưa từng có trong lịch sử của Alexander Đại Đế, Đế chế Macedonia trải dài một vùng lãnh thổ rộng lớn khắp châu Á, châu Âu và châu Phi. Sau khi Alexander chết năm 323 TCN, do bị bệnh hay ngộ độc, Đế chế Macedonia rơi vào cảnh tranh giành hỗn loạn và chia thành bốn vùng. Tướng Ptolemy Soter và Seleucus cuối cùng nắm quyền kiểm soát Ai Cập và Syria, lập nên các vương triều của riêng mình: nhà nước Ptolemaic với thủ đô ở Ai Cập tại phương nam và nhà nước Seleukos với thủ đô ở Syria tại phương bắc. Và 2 vương triều này thay nhau kiểm soát khu vực Yehud Medinata (vùng đất Palestine). Chỉ trong quãng thời gian 17 năm từ 319-302 TCN, Jerusalem bảy lần đổi chủ. Cả hai vương triều này duy trì chính sách tuyên truyền và phổ biến văn hóa Hy Lạp đối với Palestine trong một phong trào gọi là Hy Lạp hóa (Hellenism). Ptolemy thắng thế cho đến năm 198 TCN, khi Antiochus III (223-187 TCN) – một vị vua năng động dòng họ Seleukos, chinh phục và kiểm soát toàn bộ Palestine. Trong thời kỳ này, nhiều người Do Thái di cư xuống Ai Cập.

Cũng trong thời kỳ này, việc kết hợp văn hóa truyền thống Do Thái với văn hóa Hy Lạp đã có một ảnh hưởng không nhỏ đối với văn minh Do Thái và giúp người Do Thái tạo nên một nền văn hóa độc đáo của riêng mình vừa mang đặc trưng của người Do Thái vừa mang đặc trưng của người Hy Lạp.

Khi người Syria dòng Seleukos áp đặt nhiều biện pháp nhằm đàn áp tôn giáo và việc thực hành tôn giáo của người Do Thái trên vùng đất Palestine, một cuộc khởi nghĩa của người Do Thái đã nổ ra vào năm 166 TCN dưới sự lãnh đạo của Maccabees. Cuộc khởi nghĩa thắng lợi và nghĩa quân giành được quyền kiểm soát Judea (tên gọi của vương quốc Judah trong tiếng Hy Lạp và La Mã), lúc đó là một tỉnh của Đế chế Seleukos. 140 TCN, Maccabees lập nên triều đại bán tự trị Hasmoneans trực thuộc đế chế Seleukos, ông trị vì trong khoảng thời gian 164-63 TCN. Đến những năm 100 TCN, đế chế Seleukos dần tan rã, triều đại Hasmonean trở nên độc lập, hoàn toàn mở rộng sang các vùng lân cận như Samaria, Galilee, Perea. Một số học giả hiện đại coi thời kỳ này là một vương quốc độc lập của Israel.

lịch sử israel
Vương quốc Hasmoneans

Về việc phân chia giai đoạn, trong các sách lịch sử Do Thái, khoảng thời gian từ năm 3000-538 TCN được gọi là Thời Kỳ Kinh Thánh (Bible Time), và bốn thế kỷ tiếp theo từ năm 538-60 TCN được gọi là Thời Kỳ Tự Trị Do Thái. Thời gian từ 60 TCN-1948 CN gọi là Thời kỳ Nước ngoài Cai trị.

3.2. Ngôi đền Jerusalem bị phá hủy lần thứ hai (70 CN): Ly tán lần thứ hai

Thế kỷ 2 TCN, từ một vương quốc lạc hậu được thành lập vào năm 753 TCN với các khu định cư xung quanh Palatine dọc theo sông Tiber ở miền Trung Italy, quốc gia La Mã đã phát triển thành một đế chế hùng mạnh chưa từng thấy trên thế giới trước đó. Sau khi đánh bại Đế chế Macedonia và Seleukos vào thế kỷ thứ 2 TCN, La Mã đã trở thành người thống trị của Địa Trung Hải, mở ra lối vào Trung Đông. Người La Mã bắt đầu để mắt đến Judea.

Tại Palestine, từ năm 60 CN trở đi, Vương quốc Hasmoneans của Israel bị suy yếu bởi các mâu thuẫn bên trong và rơi vào sự thống trị của người La Mã. Tuy nhiên sự chuyên chế và tàn bạo của Đế quốc La Mã đã khiến người Do Thái liên tục vùng lên phản kháng vũ trang. Vào năm 66, mâu thuẫn giữa người Do Thái và người La Mã ở Judah đã lên đến đỉnh điểm và biến thành cuộc nổi dậy của người Do Thái chống lại La Mã. 

Đây là cuộc chiến quy mô nhất được ghi nhận trong thời đại này, đôi khi được gọi là “Cuộc nổi dậy vĩ đại”. Ban đầu người Do Thái chiếm ưu thế, cuộc khởi nghĩa lớn đến nỗi La Mã đã phải điều các lực lượng bên ngoài lãnh thổ Judea như Quân đoàn Syria tham chiến. Nhưng chiều hướng thay đổi vào năm 68. Đến đầu năm 70, La Mã đã huy động một lực lượng lớn quân đội bao vây Jerusalem. Sau một cuộc bao vây tàn khốc kéo dài 7 tháng, do phe khởi nghĩa đấu đá nội bộ dẫn đến việc đốt cháy toàn bộ nguồn cung cấp lương thực của thành phố. Người La Mã cuối cùng đã đánh bại lực lượng phòng thủ Do Thái đã suy yếu vào mùa hè năm 70. Sau đó, họ nhanh chóng triệt hạ các thành trì Do Thái còn lại như Herodium và Machaerus. Khi Judea thất thủ, đền thờ thứ hai của người Do Thái đã bị phá hủy, Do Thái giáo rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. 

lịch sử israel
Cuộc vây hãm Jerusalem (70 CN)

Sự kiện này đánh dấu lần ly tán thứ hai và cũng đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ Ngôi Đền thứ Hai (515 TCN – 70 CN) và sự sụp đổ của Judea trong vai trò trung tâm sinh hoạt của người Do Thái. Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa cũng đã làm thay đổi nhân khẩu học của người Do Thái vì nhiều phiến quân Do Thái bị phân tán hoặc bị bán làm nô lệ. Josephus – một nhà sử học cổ đại cho rằng hơn 1 triệu người đã bị chết trong cuộc bao vây Jerusalem, 97.000 người bị bắt làm và làm nô lệ, nhiều người khác chạy trốn đến các khu vực xung quanh Địa Trung Hải. Tuy số liệu sử học cổ đại có vẻ hơi thổi phồng, song qua đó ta cũng thấy được phần nào hậu quả tàn khốc của cuộc chiến.

Do nội chiến và hỗn loạn chính trị ở Rome, cuộc chiến tại Judea tạm lắng xuống vài năm. Bất chấp những biến động do cuộc nổi dậy gây ra, người Do Thái vẫn kiên cường. Việc phá hủy đền thờ và đất đai của Israel không ngăn được người Do Thái tiếp tục phát triển thành công ở Judea. 

4. Các cuộc khởi nghĩa Do Thái

Sau một vài thế hệ tồn tại dưới sự đô hộ của đế quốc La Mã, mong muốn độc lập của người Do Thái cuối cùng đã xuất hiện. Năm 115, trong khi hoàng đế La Mã Trajan và phần lớn quân đội của ông ta đang bận rộn với cuộc chiến tại Parthia, phiến quân Do Thái ở phía sau bắt đầu tấn công các đồn bốt nhỏ của La Mã bị bỏ lại. Một cuộc nổi dậy ở Syrene đã sớm lan sang Ai Cập và sau đó là đảo Cyprus, rồi kích động cuộc nổi dậy ở Judea. Tiếp đó, cuộc nổi dậy lan tới Lydda đe dọa nguồn cung cấp ngũ cốc từ Ai Cập ra mặt trận.

Cuộc nổi dậy của người Do Thái nhanh chóng lan rộng đến các tỉnh mới bị chinh phục. Các thành phố có dân số Do Thái đáng kể như Nisibis, Edessa, Seleucia, Arbela đã tham gia cuộc nổi loạn và tàn sát các đồn bốt La Mã nhỏ lẻ.

Đến năm 117, La Mã mới dập tắt được phần nào cuộc nổi loạn. Số người Do Thái thiệt mạng sau cuộc chiến ước tính khoảng 200.000. Trong khi đó, hơn 460.000 công dân La Mã thiệt mạng, chủ yếu là người La Mã gốc Hy Lạp tại Syrene và đảo Cyprus. Chính vì vậy, sau cuộc chiến, La Mã đã trục xuất vĩnh viễn cộng đồng Do Thái khỏi đảo Cyprus và Syrene, người Do Thái cũng bị trục xuất khỏi Rome sang các khu vực lân cận như bán đảo Iberia. 13 năm sau cuộc chiến này, vào năm 130, khi đó, hoàng đế La Mã Hadrianus muốn xây dựng một thành phố mới mang tên mình thay thế cho Jerusalem, cùng với đó là xây ngôi đền thờ thần Jupiter trên đống di tích đổ nát còn sót lại của đền thờ Jerusalem tại Núi Đền.

Đối với người Do Thái, đó là điều không thể chấp nhận được và cuộc khởi nghĩa Bar Kokhba đã bùng nổ vào năm 132. Cuộc nổi dậy do Bar Kokhba lãnh đạo đã nhanh chóng lan rộng từ trung tâm Judea ra khắp lãnh thổ, cắt đứt đồn trú của La Mã ở Jerusalem. Bất chấp sự hỗ trợ của quân tiếp viện La Mã từ Syria, Ai Cập và Ả Rập, những chiến thắng của quân khởi nghĩa đã giúp họ thành lập một quốc gia độc lập với lãnh thổ là phần lớn tỉnh Judea trong hơn 2 năm. Bar Kokhba – lãnh tụ cuộc khởi nghĩa được người Do Thái coi là đấng cứu thế, hy vọng sẽ khôi phục nền độc lập dân tộc của họ. 

Tuy nhiên, sau thất bại ban đầu, Hoàng đế La Mã Hadrianus đã tập hợp một lực lượng La Mã quy mô lớn từ khắp đế quốc, tiến hành xâm chiếm kiếm Judea vào năm 134 dưới sự chỉ huy của tướng Julius Severus. Quân La Mã bao gồm 6 quân đoàn thiện chiến cùng sự hỗ trợ của 6 quân đoàn bổ sung cuối cùng đã dập tắt cuộc nổi dậy của người Do Thái. Sau cuộc chiến, nhiều quân đoàn chủ lực của La Mã, như quân đoàn Deiotariana 22,

Quân đoàn Hispana 9 bị giải thể do thiệt hại nghiêm trọng về quân số. Cuộc khởi nghĩa Bar Kokhba dẫn đến sự suy yếu của các cộng đồng Do Thái Judea nhiều hơn cả trong cuộc khởi nghĩa đầu tiên vào năm 70. Theo nhà sử học Cassius Dio, 580.000 người Do Thái đã thiệt mạng trong chiến tranh và nhiều người khác chết vì đói và bệnh tật. Ngoài ra, nhiều tù nhân chiến tranh Judea đã bị bán làm nô lệ. Cộng đồng Do Thái ở Judea bị tàn phá đến mức mà một số học giả mô tả như là một cuộc diệt chủng. 

Trong nỗ lực xóa bỏ mọi ký ức về Judea hay Israel cổ đại, hoàng đế La Mã Hadrianus đã xóa tên này khỏi bản đồ sáp nhập với Syria, tạo thành tỉnh mới là Syria Palaestina, hi vọng sẽ cắt đứt kết nối của người Do Thái với quê hương lịch sử của họ. Bằng cách phá hủy sự liên kết của người Do Thái với Judea và cấm thực hành đức tin Do Thái, Hadrianus muốn nhổ tận gốc một dân tộc đã gây tổn thất nặng nề cho đế quốc La Mã. Ngoài ra, ông ta cũng đổi tên Jerusalem thành Capitolina và cấm người Do Thái cư trú trong thành phố, thỉnh thoảng họ chỉ được phép đến để cử hành thờ phụng trong vài dịp lễ. Các thế kỷ tiếp theo là hàng loạt diễn biến bất lợi cho người Do Thái. Năm 259, người Palmyra đã phá hủy khu định cư ở Nehardea, Babylon, người Do Thái đã phải chạy loạn đến các khu vực lân cận.

5. Sự ra đời của Kitô giáo

Vào cuối thế kỷ 1, Kitô giáo ra đời và khởi đầu như là một chi nhánh của Do Thái giáo. Chúa Jesus là người Do Thái vùng Galilee, sinh ra vào khoảng đầu thế kỷ thứ 1. Kitô giáo lấy Kinh Thánh, các hình thức thờ phụng, và học thuyết tận thế của mình trực tiếp từ Do Thái giáo. Vào thời gian này, Hoàng đế La Mã Constantine I có xu hướng thiên về Kitô giáo và từng bước làm cho Kitô giáo trở thành quốc giáo. 

lịch sử israel
Bức tranh về chúa Jesus: Adoration of the Shepherds của họa sĩ Hà Lan Matthias Stomer, 1632

Năm 313, ông đã hợp pháp hóa Kitô giáo với Sắc lệnh Milan. 

Năm 315 Constantine lên án người Do Thái là tội đồ trong cái chết của Chúa Jesus, xóa bỏ tội đóng đinh Chúa Jesus lên thánh giá khỏi những người tiền nhiệm của ông. 

Năm 323 Kitô giáo chính thức trở thành quốc giáo của Đế quốc La Mã. 

Năm 337 Hoàng đế La Mã Constantius II – con thứ hai của Constantine I và Fausta – ra sắc lệnh đặt Do Thái giáo ra ngoài vòng pháp luật, cấm người Do Thái làm chủ nô lệ đối với người không phải Do Thái, cấm hôn nhân giữa người Do Thái và người Kitô giáo, cấm các Rabbis hội họp.

Năm 355, quan hệ giữa La Mã và người Do Thái bất ngờ được cải thiện. Do Hoàng đế La Mã lúc bấy giờ là Julian có tư tưởng chống lại sự bành trướng của Kitô giáo nên đã cho phát triển các tôn giáo khác như Do Thái giáo. Nhưng cũng chẳng được bao lâu. Khi Julian qua đời, các hoàng đế kế nhiệm đã trở nên thân thiện hơn với Kitô giáo để củng cố quyền lực của mình, người Do Thái một lần nữa lại bị gạt ra bên lề.

Trong khi vẫn có Hoàng Đế La Mã ủng hộ quyền thực hành tôn giáo của người Do Thái, nhưng các giáo sĩ Kitô giáo luôn tìm cách ngăn chặn ảnh hưởng của Do Thái giáo bằng cách đòi tất cả người Do Thái giáo cải đạo sang Kitô giáo. Họ có cảm xúc mạnh về Palestine, nơi mà Chúa Jesus đã ra đời và bị đóng đinh trên thánh giá. 

Năm 390, La Mã tách Syria Palaestina thành nhiều tỉnh nhỏ hơn, lãnh thổ Jedea của người Do Thái nằm trong tỉnh mới là Palaestina Prima. Năm 438, lệnh cấm cầu nguyện của người Do Thái tại khu đền thờ Jerusalem được gỡ bỏ. Tuy nhiên, dân số Kitô giáo tại đây với số lượng áp đảo đã đụng độ và đuổi người Do Thái ra khỏi thành phố.

Trong thế kỷ thứ 5 và thứ 6, một loạt các cuộc nổi dậy ở Samaria. Người La Mã đã đàn áp thẳng tay dẫn đến sự hủy diệt gần như toàn bộ cộng đồng Do Thái Samaria.

Vào cuối thế kỷ 6, tại Palestine chỉ còn có 43 cộng đồng người Do Thái, chủ yếu là ở vùng Galilee và thung lũng Jordan. Người Do Thái bắt buộc phải di chuyển trung tâm sinh hoạt sang các vùng khác bên ngoài Palestine.

Mặc dù sống lưu lạc, ở những nơi này, các hoạt động của người Do Thái giáo trong việc nghiên cứu, thảo luận, bổ xung các điều luật, giới răn, và biên soạn Talmud được diễn ra rất mạnh mẽ. Cuốn Sách Talmud đồ sộ của cộng đồng Do Thái Babylon được hoàn thành vào thời gian này – khoảng năm 500 CN, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tâm linh, đạo đức và nề nếp sinh hoạt của người Do Thái trên toàn thế giới cho đến tận ngày nay.

6. Sự ra đời của Hồi giáo

Năm 622, Muhammad sáng lập ra Hồi giáo (Islam) ở bán đảo Ả Rập. 

lịch sử israel
Mohammed gặp Thiên thần Gabriel – người được phái xuống để thông báo rằng ông đã được chọn làm sứ giả của Thiên Chúa

Đầu thế kỷ thứ 7, người Do Thái đã liên minh với Ba Tư tham gia cuộc xâm lược Palaestina Prima vào năm 614, đánh đuổi quân đội Đông La Mã và giành quyền kiểm soát Jerusalem. Tuy nhiên, chỉ sau 3 tuần lễ, nhà lãnh đạo Do Thái đã bị ám sát trong một cuộc nổi dậy của người Kitô giáo, Jerusalem lại rơi vào tình trạng hỗn loạn. Sau đó Ba Tư rút lui, người Do Thái đầu hàng La Mã và bị những kẻ cực đoan Kitô giáo tàn sát dã man. Năm 637, Quân đội Hồi giáo Ả Rập đã đánh bại Đông La Mã, giành quyền kiểm soát khu vực này.

Ở một khía cạnh nào đó thì người Do Thái hoàn toàn ủng hộ cuộc chinh phạt của người Hồi giáo, vì dù sao điều kiện sống của họ cũng tốt hơn nhiều so với khi nằm dưới sự kiểm soát của Kitô giáo. Cuối thế kỷ thứ 7, đền thờ vòm đá thiêng được xây dựng tại Jerusalem khiến thành phố này trở thành nơi linh thiêng bậc nhất với cả ba tôn giáo bậc nhất là Hồi giáo, Kitô giáo và Do Thái giáo.

Năm 711, Quân đội Hồi giáo xâm chiếm phần lớn Tây Ban Nha. Lúc này, người Do Thái chiếm khoảng 8% dân số bán đảo Iberia. Dưới sự cai trị của Cơ đốc giáo, người Do Thái đã phải chịu sự áp bức dữ dội. Tuy nhiên, Hồi giáo thì khoan dung hơn người Do Thái được tự do tín ngưỡng cũng như người Kitô giáo, miễn sao họ đóng đầy đủ thuế Jizyah, một loại thuế dành cho những người không theo đạo Hồi.

Tại châu Âu, người Do Thái nhanh chóng trở nên giàu có bởi họ là cầu nối trao đổi đổi thương mại giữa người Công giáo và Hồi giáo. Điều này khiến người Do Thái được dung túng và họ lan tỏa khắp Tây Âu. Từ năm 912 đến 1013, dưới sự cai trị của người Hồi giáo ở bán đảo Iberia là thời đại hoàng kim của văn hóa Do Thái ở Tây Ban Nha. Các nhà thơ, học giả, nhà khoa học, chính khách và triết gia Do Thái phát triển mạnh mẽ. Việc làm ăn buôn bán của người Do Thái được phát triển mở mang, tất cả đều có mức sống cao, giáo dục cho tầng lớp trẻ rất được quan tâm và để lại một di sản trí tuệ bền vững và xuyên suốt qua nhiều thế kỷ sau này cho Do Thái giáo. Thời kỳ này kết thúc với vụ thảm sát ở Cordoba năm 1013, khi những người lính đánh thuê từ Bắc Phi đóng quân ở Cordoba đã nổi dậy và cướp phá. Tiếp theo là cuộc đàn áp đẫm máu năm 1066 ở Granada, tể tướng người Do Thái bị đóng đinh và hàng ngàn người Do Thái bị tàn sát. Đây là cuộc đàn áp đầu tiên của người Do Thái trên bán đảo Iberia dưới sự cai trị của đạo Hồi. Bắt đầu từ năm 1090, tình hình ngày càng xấu đi với cuộc xâm lăng của Almoravid – một triều đại Hồi giáo cực đoan từ Ma Rốc. Năm 1148, triều đại Almoravid đã bị lật đổ khỏi bán đảo Iberia. Tuy nhiên, khu vực này một lần nữa bị xâm chiếm, lần này bởi những người Hồi giáo Almohad từ Bắc Phi thậm chí còn cực đoan hơn. Trong Triều đại Hồi giáo Bắc Phi này, nhiều người Do Thái đã rời khỏi vùng Iberia để đến các vùng khác của châu Âu do lực lượng Kitô giáo kiểm soát.

Những làn sóng di cư Do Thái này tạo ra các cộng đồng Do Thái thành thị nhỏ khắp thế giới. Nếu lấy bản đồ thế giới, gắn đinh ghim đỏ lên những nơi có người Do Thái sinh sống năm 1170 thì tấm bản đồ đó sẽ rực một màu đỏ từ Anh, bán đảo Iberia cho tới Ấn Độ.

7. Cộng đồng Do Thái lưu vong

7.1. Ở châu Âu

Từ năm 1037, một đế quốc mới là Seljuk của người Hồi giáo Sunni hình thành ở Trung Á và nhanh chóng mở rộng. Họ xâm chiếm Jerusalem vào năm 1078, bắt bớ và đàn áp Kitô hữu cấm họ hành hương tới thành phố này. Để đáp trả, người Kitô giáo ở châu Âu đã tổ chức các cuộc thập tự chinh với mục tiêu chính là nhắm đến vùng đất Thánh Jerusalem.

Trên đường đi, họ tàn sát nhiều cộng đồng người Do Thái. Tuy đây không phải là chính sách thập tự chinh chính thức, nhưng ở cấp địa phương, các rao giảng rằng người Do Thái là kẻ thù của Chúa Kitô đã châm ngòi cho hàng loạt vụ bạo lực vào dân Do Thái.

Mùa hè năm 1096, những người thập tự chinh đã phá hủy phần lớn các cộng đồng Do Thái dọc theo sông Rhine và hàng loạt cuộc thảm sát lớn chưa từng thấy ở Pháp và Đức, ước tính có từ 5.000 đến 10.000 người Do Thái bị giết. Nhiều học giả cho rằng đây chính là Holocaust lần thứ nhất. Sau cuộc thập tự chinh thứ nhất, những người Kitô giáo đã thiết lập vương quốc Jerusalem tồn tại trong 2 thế kỷ.

Thành phần dân số chủ yếu của vương quốc này là người Kitô giáo bản địa, người Kitô giáo đến từ châu Âu, người Hồi giáo Sunni và một số rất ít người Do Thái. Ước tính tổng dân số Do Thái của 14 thành phố trong vương quốc chỉ có 1.200 người. Người Do Thái lúc này chủ yếu tập trung tại châu Âu, nơi mà họ ngày càng bị kỳ thị. Mặc dù chính sách của Nhà thờ Công giáo chính thức lúc bấy giờ là bảo vệ người Do Thái, vì chúa Jesus được sinh ra từ chủng tộc Do Thái. Nhưng trên thực tế, tín đồ Kitô giáo luôn kỳ thị và ghê tởm người Do Thái, những vụ trục xuất ngày một gia tăng.

Năm 1347, những tàu buôn từ Kaffa (Crimes) đã làm lây lan bệnh dịch hạch. Trong 5 năm, “Cái chết đen” bùng phát khắp châu Âu, giết chết gần nửa dân số châu lục. Dân chúng khi đó có ít hiểu biết khoa học về căn bệnh này nên họ cần phải tìm kiếm một lời giải thích và cộng đồng thiểu số Do Thái chính là vật tế thần.

Một tin đồn cáo buộc người Do Thái đầu độc giếng nước ăn dẫn tới bệnh dịch hạch. Hậu quả là dân Do Thái sống dọc sông Rhine và sông Rhone đã bị đàn áp và trục xuất. Bắt đầu từ mùa xuân năm 1348, những cuộc bạo loạn chống lại người Do Thái đã xảy ra ở các thành phố châu Âu, bắt đầu là những cuộc tàn sát quy mô nhỏ ở Barcelona và Toulon. Đến tháng 11 năm đó, chúng lan rộng qua Savoy đến các vùng lãnh thổ nói tiếng Đức. Vào tháng 1 năm 1349, các vụ đốt người Do Thái đã diễn ra tại Basel và Freiburg cũng như nhiều vùng khác trên khắp châu Âu. Tại Basel, 600 người Do Thái đã bị thiêu sống, 140 trẻ em Do Thái bị buộc phải cải đạo sang Công giáo. Sau vụ thảm sát chính quyền Basel đã ra sắc lệnh cấm người Do Thái định cư tại thành phố trong 200 năm.

lịch sử israel
Bức Le Triomphe de la Mort (“Thần Chết Khải hoàn”, vẽ khoảng 1562) của họa sĩ Phục hưng Pieter Bruegel phản ánh những biến động và sợ hãi mang tính toàn xã hội theo sau bệnh dịch hạch tàn phá châu Âu Trung Cổ

Ngày 14 tháng 2, cuộc thảm sát lan tới Strasbourg khiến hơn 2.000 người Do Thái bị giết trong các cuộc bạo loạn dữ dội. Trong cuộc thảm sát này, người ta đã chỉ ra rằng có nhiều kẻ đã cố tình lợi dụng giết chóc người Do Thái để trốn nợ. Bởi khi đó dân Do Thái đang giàu có và nắm giữ nhiều khoản tín dụng. Không những thế, họ còn được chia nhau chiến lợi phẩm từ những người Do Thái đã bị giết. Một số khác thì tống tiền người Do Thái để đổi lấy tự do. Cùng thời gian này, cộng đồng Do Thái ở Anh quốc đã bị tiêu diệt, tiếp theo là ở Mainz và Cologne. Tại Speyer, xác người Do Thái được cho vào trong các thùng rượu và ném xuống sông Rhine. Đến cuối năm, các cuộc bạo loạn lan tới khu vực Bắc Âu. Trong suốt thời kỳ kinh hoàng này, đã có hơn 500 cộng đồng Do Thái đã bị phá hủy.

7.2. Ở Ba Lan

Để lánh nạn, người Do Thái khắp châu Âu đã hướng tới Ba Lan và Litva, một miền đất tạm thời an toàn cho họ. Bởi trước đó từ năm 1343, vua Casimir III của Ba Lan đã mở rộng cửa chào đón người Do Thái đến định cư tại đất nước của mình.

Vua Ba Lan đối xử rất tốt với người Do Thái, không rõ nguyên nhân tại sao. Có ý kiến cho rằng do ông có một người tình Do Thái, hoặc cũng có thể ông muốn khai thác tiềm năng kinh tế từ dân Do Thái. 

Năm 1369, trong cuộc nội chiến tại Tây Ban Nha, 38.000 người Do Thái bị chết.

Năm 1394, 100.000 người Do Thái bị trục xuất khỏi Pháp bởi sắc lệnh của vua Charles VI. 

Tháng 3 năm 1492, Tây Ban Nha ban hành sắc lệnh Alhambra. Theo đó, người Do Thái một là phải cải đạo sang Công giáo hoặc không sẽ bị trục xuất. Kết quả là hơn 200.000 người Do Thái cải đạo và gần 100.000 người bị trục xuất. Gần 500 năm sau, vào năm 1968, sắc lệnh Alhambra này mới được Tây Ban Nha thu hồi. 

Sắc lệnh trục xuất khỏi Tây Ban Nha cùng với phong trào bài Do Thái ngày càng gia tăng trên khắp châu Âu, nhiều người Do Thái ở Tây Âu đã chạy sang Đông Âu, Trung Âu và Ba Lan, ở đó họ đã được hấp thu vào cộng đồng Do Thái Ashkenazi.

Những thế kỷ tiếp theo, Ba Lan vẫn là thiên đường của người Do Thái. Đến giữa thế kỷ 16, khi Liên bang Ba Lan-Litva được thành lập, vẫn tiếp tục là vùng đất lành cho người Do Thái. 

Vào cuối thế kỷ 16, người Do Thái Ashkenazi Ba Lan trở thành cộng đồng Do Thái lớn nhất thế giới, ước tính với hơn nửa triệu người. Họ thường xuyên cầu nguyện ở các Hội đường Do Thái giáo, tự do nghiên cứu Torah và Talmud, và nói tiếng Yiddish – một thứ tiếng Đức cổ địa phương trộn lẫn tiếng Hebrew. Người Do Thái tại Ba Lan có được những may mắn này là nhờ vào chính sách khoan dung tôn giáo và quyền tự chủ theo luật định xã hội của Ba Lan trong một thời gian dài. Những điều này đã kết thúc với sự chia cắt của Ba Lan bắt đầu vào năm 1772, đế quốc Nga trỗi dậy mạnh mẽ và nhanh chóng giành quyền cai trị các vùng đất Đông Âu, Ba Lan trở thành chư hầu của Nga. 

7.3. Dưới Đế chế Nga Hoàng

Chính sách của Nga với dân Do Thái nói chung là khắc nghiệt hơn nhiều so với trước. Vào khoảng những năm 1880, dân số Do Thái trên toàn thế giới khoảng 7,7 triệu người, 90% sống ở châu Âu, trong đó gần 4.000.000 sống tại vùng lãnh thổ Ba Lan. Để so sánh thì cùng thời gian này dân số Việt Nam có khoảng 10.000.000. 

Người dân Do Thái ở Ba Lan, phần lớn bị đẩy về phần lãnh thổ phía tây đế quốc Nga khi đó. Hầu hết người Do Thái bị cấm di chuyển đến các khu vực khác của đế quốc, trừ khi họ chuyển đổi sang chính thống giáo của Nga. 

Trong khi dân Do Thái tại các quốc gia châu Âu từng bước được trao quyền công dân hợp pháp thì từ năm 1881 đến 1906, Alexander III tiếp tục tăng cường chính sách bài Do Thái và hàng trăm sự kiện bài Do Thái đã diễn ra trên phần lãnh thổ phía tây đế chế Nga. Đáng chú ý là những cuộc xung đột tại Kiev, Warsaw và Odessa. 

Năm 1886, một sắc lệnh trục xuất được ban hành tại Kiev. Hầu hết người Do Thái bị đuổi ra khỏi Moskva vào năm 1891. Một làn sóng tàn sát lớn lại một lần nữa bùng nổ trong những năm 1903-1906. Chỉ riêng tại Odessa, họ phải chịu ít nhất là 5 cuộc tàn sát trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nơi các cuộc thanh trừng tại lãnh thổ đế chế Nga dẫn đến sự di cư đáng kể của người Do Thái. Hơn 2.000.000 người Do Thái đã chạy trốn khỏi đế chế Nga trong khoảng thời gian từ năm 1880 đến 1920, phần lớn là tới Vương quốc Anh và Hoa Kỳ.

7.4. Vương quốc Anh và Mỹ

Cuối thế kỷ 18, một làn gió mới đến từ Bắc Mỹ đã đem lại hy vọng hồi sinh cho người Do Thái. Ở Bắc Mỹ, quốc gia Hoa Kỳ được thành lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776 đã cho ra đời một bản Hiến pháp tiến bộ nhất của nhân loại quy định rằng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, một quốc gia ngoại giáo tuyên bố rằng người Do Thái được quyền sống và mưu cầu hạnh phúc như những người khác. 

Năm 1868, Benjamin Disraeli trở thành thủ tướng của Vương quốc Anh, mặc dù được cải đạo sang Cơ đốc giáo khi còn nhỏ, nhưng ông vẫn là người đầu tiên có nguồn gốc Do Thái trở thành lãnh đạo một chính phủ ở châu Âu. Cũng trong thế kỷ này, nhiều người Do Thái trở nên giàu có tại châu Âu, điển hình là gia tộc quyền lực Rothschild.

lịch sử israel
Quốc huy vĩ đại của gia đình Rothschild

Gia tộc Do Thái này có nguồn gốc từ Frankfurt, Đức. Họ đã tạo nên một đế chế tài chính-ngân hàng hùng mạnh nhất mọi thời đại. Ở thời kỳ đỉnh cao, người ta rằng gia đình Rothschild đã sở hữu một khối tài sản lớn nhất thế giới khi đó, cũng như trong toàn bộ lịch sử thế giới hiện đại. 5 chi thuộc nhánh gia tộc Rothschild tại Áo đã được nâng lên tầng lớp quý tộc, được phong 5 danh hiệu truyền đời “Nam tước” của hoàng triều Habsburg. Một nhánh khác thuộc gia đình Rothschild tại Anh cũng được nâng lên hàng quý tộc theo yêu cầu của Nữ hoàng Victoria. 

Tuy thế, ở Đông Âu, cuộc sống người Do Thái vẫn không có gì cải thiện. Ở Nga, người Do Thái bị o ép và bị dồn vào các khu định cư Do Thái tối tăm. Những cuộc tàn sát người Do Thái ở Nga năm 1881 đã làm thay đổi sâu sắc lịch sử người Do Thái, dẫn đến sự ra đời của Zionism (Phong trào Phục quốc Do Thái) – một chiến dịch nhằm vận động người Do Thái trở về và thành lập một nhà nước Do Thái trên mảnh đất Palestine, vùng xung quanh Jerusalem, được coi là quê hương tinh thần của họ. Khi đó, vùng đất này thuộc lãnh thổ đế quốc Ottoman. Từ năm 1882 đến 1904, làn sóng người nhập cư Do Thái lớn đầu tiên đã trở về Palestine và Israel.

Như vậy, sau gần 2000 năm lưu lạc mà không có một quốc gia riêng, cộng đồng Do Thái đã bắt đầu đặt viên gạch đầu tiên cho Nhà nước Israel trong tương lai. Tuy nhiên, chặng đường phía trước còn vô cùng khắc nghiệt. Dân tộc này sắp phải đối mặt với những điều kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại.

8. Diệt chủng Holocaust của Đức Quốc xã và những năm đầu thành lập quốc gia Israel

Năm 1903, báo Znamya tại St. Petersburg, Nga xuất bản bài báo (được cho là) giả mạo biên bản của cuộc họp phong trào Zion cuối thế kỷ 19, nơi các nhà lãnh đạo Do Thái thảo luận về mục tiêu bá quyền của người Do Thái toàn cầu. Theo đó Nghị định thư nêu lên kế hoạch lật đổ đạo đức của thế giới phi Do Thái, kế hoạch cho các chủ ngân hàng Do Thái kiểm soát nền kinh tế thế giới, kế hoạch kiểm soát báo chí và  kế hoạch hủy diệt nền văn minh nhân loại. Và rằng, người Do Thái không có ý định định cư ở Palestine hay bất kỳ quốc gia riêng biệt nào, họ đang là mối đe dọa của thế giới và các chủng tộc Aryan sẽ phải vĩnh viễn cư trú bên ngoài châu Âu.

Văn bản sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng và phát hành khắp châu lục. Henry Ford (người sáng lập tập đoàn xe hơi Ford ) đã tài trợ 500.000 bản in và phát hành khắp Hoa Kỳ. Điều đó đã làm bùng phát chủ nghĩa bài Do Thái đầu thế kỷ 20, cũng như trở thành một tài liệu tuyên truyền trong thời Đức quốc xã sau này.

8.1. Tuyên bố Balfour

Năm 1917, trong Thế chiến thứ nhất, đế quốc Anh đã đánh bại đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman và giành quyền kiểm soát Palestine. Với vị thế cường quốc số một thế giới khi đó, Anh quốc đã ra tuyên bố Balfour ủng hộ việc thành lập nhà quốc gia (national home) cho người Do Thái tại Palestine, dù khi đó dân Do Thái chỉ chiếm thiểu số ở đây. Thuật ngữ nhà quốc gia rất mơ hồ và chưa có tiền lệ luật quốc tế. Nhiều người Do Thái giải thích điều này có nghĩa là tất cả Palestine sẽ trở thành một quốc gia Do Thái. 

lịch sử israel
Tuyên bố Balfour

Tuyên bố này có nhiều hậu quả lâu dài. Nó làm tăng thêm sự ủng hộ rộng rãi cho chủ nghĩa Phục quốc Do Thái và được coi là đã gây ra xung đột Israel – Palestine mà hiện tại vẫn đang căng thẳng – một cuộc xung đột được mô tả là khó xử nhất thế giới. 

Cũng trong năm 1917, trong cuộc nội chiến Nga đã xảy ra hơn hai 2.000 cuộc thanh trừng khiến hàng chục ngàn người Do Thái bị giết và hàng trăm ngàn người khác trở thành vô gia cư.

Khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc đã mở ra thêm một thời kỳ phát triển hoàng kim nữa cho người Do Thái, mặc dù khá ngắn ngủi. Thời kỳ này nằm giữa hai cuộc Thế chiến thứ nhất và thứ hai, dân số Do Thái khi đó phát triển kỷ lục cao hơn cả hiện nay với 9,5 triệu người sống tại châu Âu, trong đó 6.760.000 người tại Đông Âu tại Ba Lan là 3.000.000, tại Liên Xô là 2,5 triệu, hơn 520.000 người sống tại Đức. Dân số Do Thái tại Mỹ là 4,4 triệu. Tổng dân số Do Thái trên toàn thế giới vào năm 1933 là 15,3 triệu người. Cùng năm này, dân số Việt Nam là khoảng 18,5 triệu. 

8.2. Diệt chủng Holocaust của Đức Quốc xã

Mọi việc kết thúc khi chủ nghĩa phát xít lên ngôi tại Đức. Chủ nghĩa phát xít coi người da trắng Aryan là trên hết, trong đó người Đức có dòng máu Aryan thuần khiết nhất. Người Digan và các sắc dân Slav như Ba Lan, Croatia, Bulgaria, Ukraine đều bị coi là thấp kém dưới tiêu chuẩn làm người. Còn người Do Thái thì bị coi là đặc biệt nguy hiểm đối với Đức – một loại phản chủng, có nghĩa là thực sự không phải là con người. 

Ngay sau khi Hitler được bổ nhiệm làm Thủ tướng Đức năm 1933, những trại tập trung đã bắt đầu được xây dựng, đầu tiên là trại tập trung Dachau vào tháng 3 cùng năm. Trại tập trung Dachau có vai trò như là một nguyên mẫu và là mô hình cho các trại tập trung Đức Quốc xã khác sau này. Chính phủ Đức bắt đầu cách ly người Do Thái khỏi xã hội dân sự, bao gồm việc tẩy chay các doanh nghiệp Do Thái vào tháng 4 năm 1933. Tháng 9, Đức Quốc xã ra Đạo luật di sản đất đai. Theo đó, người Đức có bất kỳ tổ tiên Do Thái niên đại từ năm 1800 đều bị cấm canh tác và đất đai của họ được phân chia cho người Đức thuần chủng.

Ngày 2 tháng 8 năm 1934, Tổng thống Đức Hindenburg qua đời, chức vụ Tổng thống bị bãi bỏ. Hitler thâu tóm hết quyền lực, chính thức trở thành lãnh tụ tối cao của đế chế. 

Vào tháng 5 năm 1935, người Do Thái bị loại khỏi các lực lượng vũ trang. Các thành viên quân đội bị cấm kết hôn với những người không thuộc chủng tộc Aryan. Tháng 9, luật Nuremberg được Quốc hội Đức thông qua. Theo đó, người Do Thái không còn là công dân Đức và không thể kết hôn với người Đức. 

Từ tháng 3 năm 1936, các bác sĩ Do Thái bị cấm hành nghề trên bệnh nhân người Đức. Tháng 7, Đức Quốc xã bắt đầu xây dựng trại tập trung Sachsenhausen. 

7/1937, trại tập trung Buchenwald bắt đầu đi vào hoạt động. 

3/1938, trại tập trung Flossenburg được mở cửa. Đến tháng 7, Tuyên ngôn về chủng tộc được xuất bản bởi phát xít Ý dẫn đến tước bỏ quyền công dân của người Do Thái tại Italy. Tháng 8, SS mở tổ hợp trại tập trung Mauthausen Gusen tại Áo. Tháng 10, công dân Đức gốc Do Thái bắt buộc phải có chữ J Màu đỏ trong hộ chiếu. 

8.2.1. Bước ngoặt đêm kính vỡ 

Ngày 7 tháng 11 năm 1938, một thanh niên người Đức gốc Do Thái đã bắn chết nhà ngoại giao Đại sứ quán Đức ở Paris.

Lợi dụng sự việc đó, Đức Quốc xã đã bắt đầu một cuộc chiến chống lại các cộng đồng Do Thái trên khắp nước Đức, được biết đến với cái tên “Đêm kính vỡ” và kéo dài suốt đêm ngày 9 và sáng 10 tháng 11. 

Hơn 90 người đã thiệt mạng, hơn 30.000 người Do Thái đã bị bắt và bị gửi đến các trại tập trung. Hàng ngàn cửa hàng, nhà cửa của dân Do Thái và hơn 200 giáo đường Do Thái đã bị đập phá hoặc đốt cháy. Đêm kính vỡ đã gây ra một làn sóng di cư mới của người Do Thái rời khỏi Đức. Sau đó, người Do Thái bị cấm buôn bán hàng hóa theo nghị định về loại bỏ người Do Thái khỏi đời sống kinh tế, và bị phạt số tiền tương đương 400.000.000 đô la để sửa chữa thiệt hại từ vụ đêm kính vỡ. Sự kiện này là một điểm ngoặt cho Đức Quốc xã bắt đầu các chiến dịch thanh trừng quy mô lớn. 

8.2.2. Các chiến dịch thanh trừng Do Thái quy mô lớn

8.2.2.1. Năm 1938-1939

Ngày 15 tháng 11, tất cả trẻ em Do Thái bị trục xuất khỏi các trường công lập Đức. Tháng 12, trại tập trung Neuengamme đi vào hoạt động.

Đầu tháng 9/1939, Liên Xô và Đức xâm lược Ba Lan, hàng ngàn người Do Thái Ba Lan bị lính SS giết chết. Ngày 2 tháng 9, trại tập trung Stutthof được thành lập. Ngày 21 tháng 9, Đức Quốc xã đưa tất cả người Do Thái tại Đức đến Ba Lan và dồn tất cả người Do Thái Ba Lan về tập trung tại các thành phố lớn.

8.2.2.2. Năm 1940

Năm 1940, trại tập trung Bergen-Belsen được đưa vào hoạt động. Tháng 5, trại Auschwitz 1 đã đi vào hoạt động. Auschwitz là tổ hợp trại tập trung và trại hành quyết nơi sẽ trở thành địa điểm chính thực thi của kế hoạch, giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái. Cuối tháng 4, khu ổ chuột Do Thái đầu tiên của Đức Quốc xã được thành lập tại thành phố Lodz, Ba Lan. Nơi đó tập trung và giam giữ hàng chục ngàn người Do Thái. Khu ổ chuột Ghetto là nơi Đức Quốc xã lập nên tại các thành phố lớn, đông dân Do Thái tại Ba Lan, mục đích là giam lỏng người Do Thái trước khi đưa đến các trại hành quyết. 

lịch sử israel
Cổng chính vào Auschwitz II (Birkenau)

Ngày 22 tháng 6, Pháp đầu hàng, Đức trực tiếp sáp nhập Alsace và Lorraine vào lãnh thổ của mình. 3.000 người Do Thái bị trục xuất đến khu vực miền Nam nước Pháp. Đầu tháng 9, trại tập trung Breendonk được mở tại Bỉ. Ngày 12 tháng 10, tất cả người Do Thái bị trục xuất khỏi Luxembourg. Ngày 15 tháng 11, Warsaw Ghetto – Khu ổ chuột Do Thái lớn nhất được thiết lập. Bằng việc xây dựng một bức tường rào bao quanh khu vực này, người Do Thái hoàn toàn bị cách ly với thế giới bên ngoài.

Đây là khu dân cư Do Thái với khoảng 400.000 người trên một diện tích chỉ 3,3 km vuông, nghĩa là mật độ dân số lên tới hơn 100.000 người trên một kilomet vuông, cao gấp 3 đến 4 lần các quận trung tâm Sài Gòn và Hà Nội ngày nay. Khu vực này, trước chiến tranh là trung tâm tài chính thương mại của Warsaw, nơi người Do Thái kiểm soát hầu hết giao dịch buôn bán thương mại. Giờ đây đã biến thành một khu ổ chuột đông đúc, bẩn thỉu và cũng như các khu ghetto khác, nghèo đói, dịch bệnh và chết chóc là hình ảnh đặc trưng ở đây 

8.2.2.3. Năm 1941

Tháng 3 năm 1941, khu ổ chuột Do Thái Krakow Ghetto được thiết lập. Tháng 5, trại tập trung Natzweiler Struthof được đưa về vào hoạt động. Tháng 8, trại Drancy được thành lập gần Paris. Cũng trong tháng 8, trại tập trung kiêm trại hủy diệt Janowska được thành lập.

Từ ngày 1 tháng 9, tất cả người Do Thái từ đủ 6 tuổi trở lên tại Đức và các vùng chiếm đóng phải gắn huy hiệu Ngôi sao David màu vàng trên trang phục. Huy hiệu này không để bêu xấu và làm nhục người Do Thái mà còn để phân biệt và kiểm soát họ. 

Ngày 3 tháng 9, khí độc lần đầu tiên được sử dụng để hành quyết người Do Thái tại trại Auschwitz Birkenau, Đức Quốc xã đã sử dụng Zyklon B – 1 loại thuốc trừ sâu giải phóng hidro xyanua khi cho tiếp xúc với nước và nhiệt độ. Mỗi boong ke phòng hơi ngạt chứa khoảng 1000 người. Khi bong ke đầy người, cửa phòng bị khóa chặt và những viên Zyklon B được thả vào phòng qua những lỗ thông hơi trên tường và bắt đầu tỏa khí độc. Những người bị nhốt trong phòng sẽ chết trong vòng 20 phút. Chết nhanh hay chậm phụ thuộc vào vị trí người đó đứng gần lỗ thông hơi hay không.

lịch sử israel
Zyklon B

Khi dọn xác nạn nhân, các tù nhân từng là nha sĩ được giao nhiệm vụ dùng kìm thu hồi răng vàng trong miệng các xác chết, và tóc của xác phụ nữ đều bị cắt. Theo những tài liệu của Đức Quốc xã, tóc của tù nhân được sử dụng trong công nghiệp dệt may.

Ngày 29 đến 30 tháng 9 năm 1941 xảy ra vụ thảm sát Babyn Jar sau khi Tập đoàn quân số 6 và đặc nhiệm SS tiến vào Kiev, Ukraine. Người Do Thái ở Kiev có khoảng 220.000 người trước cuộc xâm lược của quân Đức, phần lớn đã chạy trốn hoặc phục vụ trong hồng quân Liên Xô, khi đó chỉ còn khoảng hơn 50.000 dân Do Thái lại chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ em. Khi chiếm được Kiev, quân Đức ra thông báo về việc di tản người Do Thái khỏi thành phố. Tất cả dân Do Thái của thành phố Kiev phải có mặt vào thứ hai ngày 29 tháng 9, lúc 8h sáng, tại góc đường Mel’nikova và Dokterivskaya, khi đi mang theo quần áo ấm, giấy tờ, tiền bạc và các vật có giá trị. Cuộc kêu gọi này đã được tuân theo bởi nhiều người Do Thái hơn là dự kiến. Họ được dẫn theo từng nhóm ra khỏi thành phố, vào hẻm núi Babia, cả phụ nữ và đàn ông đều phải cởi bỏ hết quần áo của mình và sau đó bị bắn chết có hệ thống bởi súng máy. Trong vòng 36 tiếng đồng hồ vào hai ngày 29 và 30 tháng 9, 33.771 người Do Thái đã bị giết chết một cách dã man.  

Cho đến ngày 12 tháng 10, tổng cộng 51.000 người Do Thái tại Kiev đã bị giết. Quân đội Đức sau đó đặt thuốc nổ phá vỡ hẻm núi để các mảnh đá vỡ che giấu các xác chết. Các đồ dùng của người Do Thái bị lưu giữ trong một nhà kho và phân phối cho người bần cùng cũng như công dân gốc Đức ở Kiev. Những bộ quần áo đã được chất lên 137 xe tải và giao cho Cơ quan Phúc lợi nhân dân Đức Quốc xã. 

Ngày 1 tháng 10 mở cửa trại tử thần Majdanek. Ngày 8 tháng 12, trại tử thần Chelmno bắt đầu hoạt động. Ngày 21 tháng 12, tại trại tập trung Bogdanovka, Ukraine, bệnh sốt phát ban lây lan từ chấy và bọ chét đã bùng phát trong trại. Cố vấn người Đức đã khuyên viên trại trưởng người Rumani nên giết chết tất cả tù nhân. Lính Rumani cùng cảnh sát Ukraine đã tẩm dầu hỏa và thiêu sống hàng ngàn người Do Thái, số khác thì bị đưa vào xử bắn trong rừng. Chỉ trong vòng 10 ngày, hơn 40.000 người Do Thái đã bị giết chết tại đây. 

8.2.2.4. Năm 1942

Năm 1942 là năm mà Đức Quốc xã cho khởi động giai đoạn tàn sát cao nhất trong cuộc diệt chủng. Các trại hành quyết khét tiếng như Belzec, Sobibor và Treblinka được mở cửa. Cuối tháng 3, hơn 75.000 người Do Thái tại Pháp đã bị đưa đến trại tử thần Auschwitz.

Tháng 7, Đức Quốc xã đưa vào hoạt động trại hủy diệt Maly Trostinets tại Belarus. Ngày 22 tháng 7 bắt đầu chiến dịch Grossaktion Warsaw trục xuất người Do Thái từ khu ổ chuột Warsaw đến trại Treblinka. Trong chiến dịch này, người Do Thái bị khủng bố trong các cuộc vây bắt hàng ngày, diễu hành qua khu ổ chuột và tập hợp tại sân nhà ga xe lửa để gọi là đi tái định cư về phía đông. Từ đó, họ lên những chuyến tàu Holocaust đến trại hành quyết Treblinka. 

Treblinka là trại tử thần khét tiếng thứ hai của Đức Quốc xã chỉ sau trại Auschwitz Birkenau. Các chuyến tàu con thoi, mỗi chuyến chở 4 đến 7.000 người đều đặn chạy từ Warsaw đến Treblinka trong vòng 8 tuần lễ, khoảng 300.000 người Do Thái đã bị đưa tới tới trại hành quyết trong suốt chiến dịch này. Ngày 23 tháng 7, ngay sau khi đón chuyến tàu đầu tiên, trại tử thần Treblinka bắt đầu vận hành với công suất tối đa. Từ thời điểm đó tới tháng 10 năm 1943, ước tính đã có khoảng 700 đến 900.000 người Do Thái bị hành quyết tại Treblinka.

Từ tháng 8, người Do Thái tại Bỉ và Na Uy bắt đầu được đưa đến hành quyết tại trại tử thần Auschwitz. 

8.2.2.5. Năm 1943, cuộc nổi dậy tại khu ổ chuột Warsaw

Bắt đầu vào tháng 7 năm 1942, mỗi ngày có 6.000 người Do Thái bị chuyển đến trại tập trung Treblinka. Ban đầu, người Do Thái bị lừa rằng họ được đưa đi tái định cư về phía đông, nhưng khi biết được sự thật, những người Do Thái còn lại hiểu rằng trước sau gì cũng bị người Đức giết chết nên họ quyết định chống cự đến người cuối cùng. Một nhóm kháng chiến ngầm đã được thành lập tại khu ổ chuột – Tổ chức Do Thái Kháng chiến (ZOB) – và lượng vũ khí hạn chế được mua lại với chi phí rất lớn.

Vào ngày 18 tháng 01 năm 1943, khi lính Quốc xã bước vào khu ổ chuột để chuẩn bị cho một nhóm chuyển đi, một đơn vị ZOB đã phục kích họ. Giao tranh kéo dài trong nhiều ngày, và một số binh lính Đức đã bị giết trước khi họ rút lui. Vào ngày 19 tháng 04, chỉ huy Đức Quốc xã Heinrich Himmler đã thông báo rằng khu ổ chuột phải được giải tỏa để tôn vinh ngày sinh của Hitler vào ngày hôm sau, và hơn 1.000 lính SS đã xâm nhập khu vực giam cầm người Do Thái với xe tăng và pháo binh hạng nặng. Quân nổi dậy Do Thái phục kích, ném bom xăng, lựu đạn từ các con hẻm, cống rãnh và cửa sổ. Lính Đức chịu 59 thương vong và đã bị đẩy lùi, chỉ huy SS tại Warsaw bị thay thế sau thất bại này. 

Ngay sau đó, lính Đức tiến hành một cuộc tấn công mới được tổ chức tốt hơn. Vào ngày 24 tháng 04, Đức tung ra một cuộc tấn công toàn diện chống lại người Do Thái. Hàng ngàn người Do Thái đã bị tàn sát khi quân Đức cho nổ tung và đốt cháy từng tòa nhà tại đây. Quân nổi dậy rút lui xuống các đường cống thoát nước để tiếp tục chiến đấu. Nhưng vào ngày 8 tháng 5, hầm chỉ huy của họ rơi vào tay quân Đức và các lãnh đạo kháng chiến đã phải tự sát. Ngày 16 tháng 5, khu ổ chuột đã hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của lính quốc xã, Warsaw Ghetto bị san phẳng thành bình địa.

lịch sử israel
Đàn áp Warsaw Ghetto. Những người Do Thái bị bắt được hộ tống bởi Waffen SS , Phố Nowolipie, 1943

Quân Đức trục xuất nốt những người Do Thái Warsaw  cuối cùng đến trại hành quyết Treblinka. 

Ngày 2 tháng 8 diễn ra cuộc nổi dậy tại trại Treblinka, một tổ chức kháng chiến ngầm của người Do Thái đã mở kho khí, đốt cháy các tòa nhà, cho đổ bể chứa xăng và làm đám cháy lan ra các công trình xung quanh. Hơn 200 người Do Thái đã thoát ra được khỏi trại, nhưng đa số bị lính Đức và lính Ukraine giết hoặc bắt lại. Chỉ có 70 người sống sót cho đến thời điểm chiến tranh kết thúc. 

Một cuộc nổi dậy tương tự cũng diễn ra tại trại hành quyết Sobibor vào ngày 14 tháng 10, người Do Thái đã phối hợp với tù binh Liên Xô tổ chức một cuộc nổi dậy. Tuy nhiên, chỉ có 53 người sống sót sau cuộc đào thoát, số còn lại hơn 400 người đã bị giết chết.

8.2.2.6. Từ năm 1944-1945

Tháng 3/1944 quân Đức chiếm Hungary. 2 tháng sau, người Do Thái Hungary bắt đầu bị đưa đến trại tử thần Auschwitz.

Tháng 4 tại Hujowa Gorka gần trại tập trung Płaszów, người Đức đã khai quật và thiêu hủy xác của khoảng 10.000 người Do Thái để che giấu tội ác trước khi rút lui khỏi khu vực này. 

Bắt đầu từ tháng 7, Liên Xô và quân đồng minh dần chiếm ưu thế trên chiến trường. Ngày 23 tháng 7, Majdanek – trại tử thần lớn đầu tiên được giải phóng bởi Hồng quân Liên Xô. Ngày 7 tháng 10, nhà thiêu số 4 tại trại Auschwitz bị phá hủy trong cuộc nổi dậy của Sonderkommando. Sonderkommando là một đơn vị đặc biệt của Đức tạo ra, thành phần là những tù nhân người Do Thái bị ép buộc làm công việc hành quyết chính đồng bào của mình. 

Ngày 25 tháng 11, Himmler ra lệnh phá hủy các buồng hơi ngạt trại nhằm che giấu bằng chứng tội ác diệt chủng.

Ngày 27 tháng 1, phương diện quân Ukraine đã giải phóng trại tử thần Auschwitz, và ngày này đã được lấy làm Ngày Quốc tế tưởng niệm nạn nhân Holocaust. Từ đó tới tháng 5 năm 1945, các trại tập trung khác lần lượt được Liên Xô và quân đồng minh giải phóng.

Theo tài liệu của Bộ Tư pháp Tây Đức công bố năm 1967, Đức Quốc xã đã thành lập 1.200 trại tập trung lớn nhỏ trong Thế chiến 2. Còn theo Thư viện điện tử Do Thái, thì có tới 15.000 trại tập trung trên khắp các vùng chiếm đóng tại châu Âu. 

Trại tập trung ở đây là tên gọi chung cho các trại tù, trại lao động, trại trung chuyển quá cảnh và trại hành quyết hay còn gọi là trại tử thần. Các trại hành quyết được thiết kế và xây dựng dành riêng để giết tù nhân với số lượng lớn.

Hầu hết các trại hành quyết đều đặt tại Ba Lan, trong đó khét tiếng nhất là tổ hợp trại Auschwitz Birkenau đã giết ít nhất là 1,1 triệu người. Trại Treblinka giết khoảng 700 đến 900.000 người, chạy Belzec giết hơn 430.000 người.

Hơn 90% số người chết trong các trại hành quyết là người Do Thái. Trên khắp các vùng chiếm đóng tại châu Âu, Đức Quốc xã và tay sai đã giết hại một cách có hệ thống khoảng 6.000.000 người Do Thái, tức 2/3 dân số Do Thái ở châu Âu hay 1/3 dân Do Thái trên toàn thế giới. Dân số Do Thái châu Âu giảm từ 9,5 triệu xuống còn 3,8 triệu sau Thế chiến 2. Trong khi đó, dân số Do Thái tại Hoa Kỳ đã tăng lên 5.000.000 người

8.3. Thành lập nhà nước Israel (1948)

Tại vùng đất Israel, Palestine khi đó vẫn là lãnh thổ ủy trị Palestine của Anh quốc. Khi chiến tranh kết thúc, dòng người Do Thái đổ về vùng đất Israel Palestine ngày một gia tăng. Dân số Do Thái tại vùng này đã tăng từ 80.000 người năm 1920 lên tới 600.000 người sau Thế chiến 2. Đó là lý do các cuộc xung đột giữa người Ả Rập và Do Thái liên tiếp xảy ra tại đây.

Để giải quyết cuộc xung đột sắc tộc này, vào tháng 11 năm 1947, Liên Hiệp Quốc đã phân chia vùng đất Palestine thành hai quốc gia Do Thái và Ả Rập. Mỗi quốc gia sẽ bao gồm ba vùng lãnh thổ chính nằm xen kẽ nhau do phải chia theo sự phân bố của các sắc tộc. Riêng Jerusalem, bao gồm cả Bethlehem, vì tính chất tôn giáo thiêng liêng sẽ nằm dưới sự quản lý trực tiếp của Liên Hiệp Quốc.

Đa số người Do Thái chấp nhận đề xuất này, trong khi người Ả Rập phản đối bởi họ cho rằng dân Do Thái nhận được quá nhiều ưu ái với tổng dân số hơn 500.000, người Do Thái nhận được 56% diện tích, trong khi hơn 1,2 triệu người Á Rập chỉ được chia 42% lãnh thổ. Người Ả Rập hoàn toàn bác bỏ ý tưởng về một nhà nước Do Thái tại Palestine. Bạo lực giữa cộng đồng Ả Rập và Do Thái nổ ra ngay lập tức sau đó, tới cuối thời kỳ ủy trị của Anh quốc, người Do Thái dự định tuyên bố thành lập một nhà nước riêng rẽ, một động thái mà người Ả Rập quyết tâm ngăn chặn.

Ngày 14 tháng 5 năm 1948, những lực lượng Anh cuối cùng rời khỏi Palestine và người Do Thái đã tuyên bố thành lập nhà nước Israel. Ngay sau việc tuyên bố thành lập nhà nước Israel, lực lượng gồm năm quốc gia Ả Rập là Ai Cập, Syria, Iraq, Jordan và Leban đã tấn công nhà nước non trẻ này từ mọi hướng.

lịch sử israel
David Ben-Gurion công bố Tuyên ngôn Độc lập của Israel năm 1948

8.3.1. Chiến tranh giành độc lập

1.000 quân Leban, 5.000 quân Syria, 5.000 quân Iraq tấn công vào vùng lãnh thổ phía Bắc, 4.000 quân Jordan tấn công khu vực Jerusalem và vùng phụ cận, Cùng lúc đó, 10.000 quân Ai Cập tấn công từ phía nam. Mặc dù cuộc tấn công này bị lên án bởi Liên Xô, Hoa Kỳ và cả Tổng thư ký Liên Hợp Quốc nhưng lại được Trung Quốc và một số quốc gia khác ủng hộ. 

Trong những tháng tiếp theo của cuộc chiến, cả hai phe cùng dốc sức tăng cường nhân lực, nhưng Israel giành được ưu thế do việc tổng động viên toàn dân, kèm theo đó là lực lượng dồi dào từ dòng người tị nạn Do Thái tiếp tục đổ về Israel lên tới 7.000 người mỗi tháng.

Lực lượng Israel ban đầu chỉ có 29.000 quân, nhưng 6 tháng sau đã tăng lên tới 110.000 quân. Cùng thời gian, lực lượng Ả Rập chỉ tăng từ 40.000 lên 55.000. Về không quân, phía Israel cũng hoàn toàn áp đảo do họ đặt mua được số lượng lớn máy bay từ châu Âu, cũng như được bổ sung hàng loạt phi công Do Thái dày dặn kinh nghiệm từng phục vụ trong Thế chiến.

Với lợi thế về lực lượng, từ cuối năm 1948 đến giữa năm 1949, Israel liên tiếp bởi các chiến dịch phản công đánh lùi quân Ả Rập khỏi lãnh thổ. Kết cục trong năm 1949, Israel đã ký các hiệp ước ngừng bắn riêng rẽ với Anh Cập, Jordan và Syria, biên giới mới của Israel theo như thỏa thuận được ký kết đã tăng từ 56% lên 78% diện tích vùng lãnh thổ ủy trị Palestine. 

8.3.2. Chiến dịch Thảm thần

Do bất bình về cuộc xung đột Do Thái Hồi giáo tại Israel, những kẻ Hồi giáo cực đoan tại Yemen đã gây ra bạo loạn và tấn công cộng đồng Do Thái tại đây. Vì thế, bắt đầu từ tháng 6 năm 1949, Israel quyết tâm mở chiến dịch thảm thần đưa người Do Thái Yemen bèn trở về cố quốc.

Với sự hỗ trợ của Anh và Mỹ, chiến dịch thảm thần đã tổ chức hàng trăm chuyến bay để đưa 49.000 người Do Thái Yemen và vùng lân cận về định cư tại Israel. Lịch sử về người Do Thái Yemen cũng gây nhiều tranh cãi. Người ta không thể chắc chắn biến động nào đã đẩy người Do Thái tới Yemen trước kia, chỉ biết rằng họ có mặt tại vùng đất này ít nhất là 500 năm TCN. Chiến dịch thảm thần kết thúc vào tháng 9 năm 1950, số người còn sót lại cũng rời đi vài năm sau đó. Hiện nay theo thống kê, chỉ còn đúng 50 người Do Thái tại Yemen.

Như vậy, cộng với số người từ Yemen, dân số Israel đã đạt 1.260.000 người vào năm 1950. Ngày 5 tháng 7 năm 1950, Israel thông qua luật quay trở về. Theo đó, mọi người Do Thái đều có quyền đến đất nước này với tư cách là một người nhập cư.

8.3.3. Chiến tranh Suez

Quan hệ giữa Israel và các nước láng giềng chưa được bình thường hóa hoàn toàn sau cuộc chiến năm 1948, vào năm 1950, Ai Cập đóng cửa eo biển Tiran đối với tàu thuyền Israel. Tiếp theo vào năm 1956, Ai Cập quốc hữu hóa kênh đào Suez và cấm luôn tàu thuyền đi qua đây.

Vì thế, Israel cùng với Anh và Pháp đã tấn công bán đảo Sinai, Ai Cập. Dưới áp lực từ Hoa Kỳ, Liên Xô và Liên Hợp Quốc, ba nước này buộc phải rút lui. Tuy nhiên, Israel đã hoàn thành một số mục tiêu của mình như được tự do hàng hải qua eo biển Tiran. Để ngăn chặn xung đột, Liên Hợp Quốc sau đó đã phải đặt một lực lượng gìn giữ hòa bình dọc biên giới Ai Cập, Israel. 

Nhưng 10 năm sau, vào năm 1967, Ai Cập đã trục xuất lực lượng của Liên Hiệp Quốc khỏi khu vực này. Sau đó huy động 7 sư đoàn, bao gồm 100.000 lính, 2.000 xe tăng và bọc thép, hơn 1.000 khẩu pháo áp sát biên giới.

Cùng lúc đó, họ phong tỏa eo biển Tiran với tàu thuyền Israel. Ai Cập kêu gọi các nước Ả Rập thống nhất lại để cùng hành động đối phó với Israel. Đáp lại lời kêu gọi Syria, Jordan và Iraq đã đem quân tiến đến vùng biên giới Israel. 55.000 quân và 270 xe tăng của Jordan, cộng thêm một sư đoàn bộ binh và 100 xe tăng Iraq tiến vào Bờ Tây. Quân đội Syria có lực lượng 75.000 quân triển khai dọc biên giới phía bắc Israel. Về phía Israel, có 50.000 lính và 214.000 quân dự bị. Trên chính trường quốc tế, trước kia Israel được sự ủng hộ to lớn từ cả Hoa Kỳ và Liên Xô, nhưng về sau Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa đã quay qua ủng hộ các nước Ả Rập.

Israel chỉ còn biết cầu cứu sự hỗ trợ từ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cường quốc này còn đang loay hoay trong cuộc chiến tại Việt Nam. Vì thế, Israel đành phải tự lực cánh sinh và thấy rằng một đòn đánh phủ đầu vào quân Ả Rập có khả năng sẽ làm xoay chuyển tình thế.

Vào sáng sớm ngày 5 tháng 6 năm 1967, Israel đã huy động gần như toàn bộ lực lượng không quân gồm 200 máy bay tấn công vào hàng loạt sân bay của Ai Cập. Theo kế hoạch, hầu hết máy bay Israel bay thấp ngoài biển để tránh radar đối phương, sau đó bất ngờ lao vào đất liền nhắm vào các máy bay Ai Cập đang nằm trên mặt đất.

Cuộc tấn công chớp nhoáng 3 giờ đồng hồ đã phá hủy 240 máy bay Ai Cập, khiến lực lượng không quân nước này gần như bị xóa sổ, trong khi đó Israel chỉ thiệt hại 19 máy bay. Không quân phe Ả Rập lập tức được tăng cường bởi một số máy bay từ Libya, Algeria, Maroc, Kuwait và Ả Rập Saudi để bù đắp cho những tổn thất trong ngày đầu tiên của cuộc chiến.

Cùng thời gian không quân đang đánh phá Ai Cập, bộ binh Israel cũng tấn công dải Gaza và bán đảo Sinai. Chỉ trong 3 ngày từ mùng 5 đến mùng 8, quân đội Israel đã chiếm trọn bán đảo Sinai. Gần 3/4 xe tăng và xe bọc thép Ai Cập đã bị máy bay và xe tăng Israel tiêu diệt. Ở mặt trận bờ Tây, Israel triển khai khoảng 40.000 lính và 200 xe tăng để chống lại lực lượng Jordan và Iraq. Do được sự hỗ trợ rất tốt từ không quân nên từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 6, Israel đã đẩy lùi quân Jordan khỏi Bờ Tây. Tại Mặt trận cao nguyên Golan, tối ngày mùng 5, các cuộc không kích của Israel đã phá hủy 2/3 máy bay khiến không quân Syria tê liệt.

Tuy nhiên, bộ binh Syria vẫn cầm cự được tới ngày mồng 10. Kết cục sau 6 ngày chiến tranh, Israel đã chiếm được bán đảo Sinai, dải Gaza ra vùng bờ tây sông Jordan và cao nguyên Golan. Israel chỉ bị thiệt hại khoảng 800 lính, trong khi phe Ả Rập tổn thất tới 18.000 quân.

Khi Israel chiến thắng và xâm chiếm một số vùng lãnh thổ Ả Rập, hầu hết các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa phản ứng cực kỳ dữ dội và đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Israel. 

Liên Xô tuyên bố viện trợ không hoàn lại để bù đắp tất cả những tổn thất của Ai Cập. Đến giữa năm 1968, số lượng máy bay của không quân Ai Cập đã đạt mức trước chiến tranh và đến năm 1969 thì số lượng xe tăng của quân đội Ai Cập đã vượt mức trước chiến tranh. Theo thỏa thuận với các nước Ả Rập, những năm sau chiến tranh, Liên Xô đã đưa nhiều chuyên gia và cố vấn quân sự đến Ai Cập và Syria. Năm 1970, có đến 20.000 quân nhân Liên Xô tại Ai Cập, Ai Cập và Syria muốn dựa vào Liên Xô để gây chiến với Israel. Tuy nhiên, người Nga lại muốn giải quyết cuộc xung đột bằng giải pháp hòa bình. Vì quan điểm khác nhau cộng với một số mâu thuẫn trước đó nên ngày 4 tháng 10 năm 1973, Ai Cập và Syria đã đuổi hết cố vấn Liên Xô về nước.

Hai ngày sau, Ai Cập, Syria và các nước Ả Rập lại tấn công Israel. 

8.3.4. Chiến tranh Yom Kippur

Ai Cập tham chiến với lực lượng từ 300 đến 400.000 quân, hơn 1.000 xe tăng, hơn 500 máy bay các loại. Syria có 150.000 quân cùng 1.200 xe tăng và 300 máy bay. Iraq có 60.000 quân, 300 xe tăng. Jordan có 300 xe tăng. Ngoài ra còn một số quân tình nguyện từ Cuba và Triều Tiên. Về phía Israel, lúc đỉnh điểm đạt 415.000 quân, 1.700 xe tăng và 440 máy bay. Số quân này là rất lớn so với quy mô dân số Israel chỉ 3,3 triệu người vào năm 1973, trong khi dân số Syria cùng thời điểm là 7.000.000 người. Dân số Iraq là 10.000.000 và dân số Ai Cập là 35,6 triệu người. 

lịch sử israel
Xe tăng Centurion của Israel

Quân Ả Rập tấn công vào ngày 6 tháng 10, là ngày lễ Yom Kippur thiêng liêng nhất năm của người Do Thái, bắt đầu với giao tranh tại phòng tuyến kênh Suez. Sau nhiều đợt tấn công, đến ngày 7 tháng 10, 100.000 quân và hơn 1.000 xe tăng Ai Cập đã tràn qua bán đảo Sinai.

Chỉ trong 3 ngày đầu, quân Israel đã tổn thất nặng nề khi mất gần một nửa số xe tăng và 1/3 lực lượng không quân. Ngày 14 tháng 10, trong đó phản công quy mô của Israel, hai bên đã tạo ra một trận đấu tăng lớn thứ nhì trong lịch sử quân sự với sự tham chiến của 1.000 xe tăng mỗi bên.

Kết cục quân Ai Cập bị thiệt hại nặng hơn, sau đó dần mất ưu thế trên chiến trường. Tới ngày 19 tháng 10 thì quân Israel đã tràn qua cả bờ tây kênh Suez. Tại Cao nguyên Golan, sau ngày đầu giao chiến, quân Syria với lực lượng đông gấp 5 đến 10 lần Israel nên đã giành được một số thắng lợi khiêm tốn. Những ngày tiếp theo, hai bên giằng co khá quyết liệt cho đến khi chiến trường Sinai giảm nhiệt. Lực lượng Israel tại Sinai và quân dự bị đã được bổ sung tới cao nguyên Golan, đẩy lùi bước tiến của đối phương và tiến sâu vào nội địa Syria.

May mắn là Syria đã được hỗ trợ kịp thời bởi 30.000 quân cùng 500 xe tăng Iraq và Jordan. Liên quân Ả Rập đã tìm được bước tiến của Israel. Mọi chuyện chỉ kết thúc khi Liên Hiệp Quốc áp đặt lệnh ngừng bắn vào ngày 22 tháng 10 cũng như sức ép từ Liên Xô và Hoa Kỳ, cuộc chiến dần chấm dứt từng bước một.

Ngày 26 tháng 10, cuộc chiến chính thức kết thúc. Phía Ả Rập tổn thất từ 10 đến 19.000 quân, Israel thiệt hại 2.800 quân. Tuy nhiên, thiệt hại tài chính của Israel khá nặng nề, có thể tương đương với tổng sản phẩm quốc nội của nước này trong một năm. Israel sẽ cực kỳ khó khăn nếu không nhận được viện trợ hàng tỷ đô la từ Hoa Kỳ trong giai đoạn này. Có thể nói Hoa Kỳ và Liên Xô có công rất lớn trong việc thành lập nhà nước Israel. Tuy vậy, họ đều có những toan tính của riêng mình.

Hoa Kỳ thì muốn có một đồng minh chiến lược cài cắm giữa khu vực, còn Liên Xô trước kia cũng hỗ trợ người Do Thái về định cư tại đây với hy vọng là sẽ xây dựng được một quốc gia xã hội chủ nghĩa ở Trung Đông. Nhưng về sau, do không đạt được tham vọng nên Liên Xô quay qua hỗ trợ khối Ả Rập.

Rốt cuộc họ cũng thất vọng về khả năng chiến đấu của khối này. Sau cuộc chiến năm 1973, Tổng bí thư Liên Xô đã phải than vãn, đại loại là mặc dù họ cung cấp cho Ả Rập nhiều loại vũ khí tối tân hơn cả cho miền bắc Việt Nam. Thế nhưng khối Ả Rập vẫn thua bẽ mặt trước Israel và sau đó Liên Xô cũng đã giảm hẳn hỗ trợ quân sự cho khối Ả Rập. 

Từ năm 1973 đến nay, khu vực này không xảy ra cuộc chiến nào quy mô lớn như trước nữa, nhưng các cuộc xung đột vẫn liên tục tiếp diễn, Israel chiếm giữ bán đảo Sinai. Đến năm 1979 thì trao trả cho Ai Cập với điều kiện Ai Cập phải để tàu thuyền Israel tự do qua kênh đào Suez. Nhà nước Palestine đã được thành lập và tuyên bố lãnh thổ gồm dải Gaza ra và Bờ Tây, nhưng đến nay Palestine vẫn chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc. Dải Gaza ra và vùng Bờ Tây, bao gồm cả Đông Jerusalem, tồn tại trong tình trạng pháp lý mập mờ.

8.3.5. Hành trình tìm về đất tổ

Israel tuyên bố sáp nhập vào lãnh thổ của mình, nhưng không một quốc gia nào trên thế giới công nhận. Hầu hết các quốc gia cũng đặt đại sứ quán tại Tel Aviv, thay vì thủ đô Jerusalem. Cao nguyên Golan cũng được Israel sáp nhập và tất nhiên cũng không một quốc gia nào ủng hộ.

Mãi đến tháng 3 năm 2019 mới chỉ có Hoa Kỳ công nhận vùng này thuộc chủ quyền Israel. Nếu tính cả cao nguyên Golan thì diện tích Jerusalem hiện nay là 22.072 km vuông. Diện tích này gần bằng tổng diện tích hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh của Việt Nam.

Kể từ khi ban hành luật trở về, dân số Israel đã tăng mạnh từ 1.000.000 người năm 1949 tăng lên 2.000.000 vào năm 1960 và đạt 4.000.000 vào năm 1983. Nước bị ảnh hưởng nhiều nhất vì luật này có lẽ là Liên Xô. Chỉ tính riêng tại Nga, từ năm 1970 đến 1980, đã có hơn 250.000 người Do Thái rời đi, phần lớn trong số họ là nguồn nhân lực trí thức của quốc gia.

Vì vậy, năm 1972, Liên Xô đã áp đặt thuế tốt nghiệp (Diploma tax). Những trí thức Do Thái muốn ra đi bắt buộc phải đóng một khoản tiền cho chính phủ. Khi Liên Xô sụp đổ, làn sóng di cư tăng mạnh. Tính từ đó đến nay, đã có thêm 1,6 triệu người Do Thái di cư khỏi các nước thuộc Liên Xô, trong đó 61% sang Israel, số còn lại qua Hoa Kỳ và Đức.

Trước đó, vào năm 1951, Israel đã mở một chiến dịch đưa khoảng 130.000 người Do Thái Iraq về định cư tại Israel. Đây là một cộng đồng Do Thái 2.600 năm tuổi, tồn tại từ khi đế quốc Babylon lưu đày người Do Thái vào thế kỷ thứ 6 TCN.

Tại Bắc Phi từ năm 1961 đến 1964, 1 chiến dịch bí mật di cư gần 100.000 người Do Thái Maroc về Israel. Cộng đồng Do Thái tại Maroc cũng khá lâu đời, có lẽ đã tồn tại từ 2.000 năm trước. Tại Đông Phi, thời gian này cũng có một cộng đồng khá lớn người Do Thái sống tại Ethiopia.

Israel đã mở một số chiến dịch đưa họ về quốc gia Do Thái. Từ năm 1981 đến 84, khoảng 20.000 người Ethiopia theo đạo Do Thái đã được đưa về Israel. Giữa năm 1984, chiến dịch Moses di cư thêm 8.000 người Do Thái Ethiopia. Vào năm 1991, Israel mở chiến dịch Solomon, một chiến dịch không vận khổng lồ để đưa 14.000 người Do Thái Ethiopia đến Israel trong vỏn vẹn 48 giờ đồng hồ.

Theo ghi nhận, có tới 7 đứa trẻ đã được sinh ra trong thời gian di chuyển. Tất nhiên, chủ trương đưa người Do Thái da đen đến Israel cũng vấp phải nhiều làn sóng phản đối từ nhóm người Do Thái khác. 

9. Các nhánh dân Do Thái

Người Do Thái không phải là đồng nhất mà được chia thành nhiều nhánh, có nhánh luôn duy trì một vị trí ưu tú trong xã hội Israel, đó là người Do Thái Ashkenazi. Trong một số trường hợp, thái độ của họ với các nhánh Do Thái khác bị coi là có biểu hiện phân biệt chủng tộc. 

Các nhánh cơ bản của người Do Thái hiện nay bao gồm: 

  • người Do Thái Ashkenazi với tổng dân số ngày nay khoảng 10 đến 11.000.000; 
  • người Do Thái Sephardi tổng dân số ngày nay khoảng 2,3 triệu; 
  • người Do Thái Mizrahi hay người Do Thái phương Đông tổng dân số ngày nay khoảng 4,6 triệu; 
  • người Do Thái Ethiopia với dân số khoảng 150.000 người. 

9.1. Người Do Thái Ethiopia

Về người Do Thái Ethiopia, có giả thuyết cho rằng người Do Thái lần đầu tiên đến Ethiopia cách đây 3.000 năm, sau khi tách ra khỏi vương quốc Israel cổ đại. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây cho thấy người Do Thái Ethiopia chỉ là các bộ lạc bản địa tiếp nhận Do Thái giáo từ Yemen. Các nghiên cứu về ADN cũng chỉ ra họ không có liên quan về di truyền với ba nhánh còn lại. 

Người Do Thái Ethiopia nói chung chỉ là một nhóm sắc tộc tôn giáo. Ba nhánh còn lại có tổ tiên chung từ vùng Israel cổ đại 3 thiên niên kỷ trước. Nghiên cứu về gen đã chứng minh ba nhánh này có quan hệ di truyền gần gũi với những người phía Bắc Lưỡng Hà, hơn là các dân tộc Ả Rập láng giềng. Những dân tộc có ADN gần gũi với người Do Thái nhất là người Kurd, người Turk và người Armenia.

lịch sử israel
Người Do Thái Ethiopia

9.2. Người Do Thái Mizrahi

Người Do Thái Mizrahi hay người Do Thái phương Đông có dân số khoảng 4,6 triệu, bao gồm chủ yếu là cộng đồng Do Thái tại Babylon, ngày nay là Iraq. Cộng đồng tại Ba Tư ngày nay là Iran và cộng đồng Do Thái Yemen. Hiện nay, hơn 90% người Do Thái Mizrahi đã được chuyển về định cư tại Israel.

lịch sử israel
Nhà bác học người Do thái Mizrahi Serge Haroche đạt giải Nobel Vật Lý năm 2012

9.3. Người Do Thái Sephardi 

Nhánh Do Thái Sephardi tổng dân số ngày nay khoảng 2,3 triệu. Người Do Thái Sephardi sống tại Bắc Phi và bán đảo Iberia. Người Do Thái có mặt tại bán đảo Iberia từ thời La Mã, bao gồm những người Do Thái bị bán làm nô lệ, những người bị trục xuất khỏi Rome sau chiến tranh Do Thái – La Mã và những làn sóng nhập cư từ Bắc Phi theo chân quân đội Hồi giáo. Hiện nay, hơn 60% người Do Thái Sephardi sống tại Israel. 

lịch sử israel
Người Do Thái Sephardi 

9.4. Người Do Thái Ashkenazi

Người Do Thái Ashkenazi đã tách ra khỏi cộng đồng Do Thái trong thời gian đền thờ thứ nhất bị phá hủy từ 2.500 năm trước. Sau đó, họ đến La Mã và phát triển mạnh mẽ ở đây. Dân số Do Thái tại La Mã phát triển lên tới cả triệu người rồi đột ngột phân rã vào khoảng năm 1.000. Khi đó 400 gia đình Do Thái đã di cư tới Trung Âu rồi tới Đông Âu.

lịch sử israel
Người Do Thái Ashkenazi với các đặc điểm của Đại chủng Âu

Nghiên cứu di truyền chỉ ra rằng tất cả 11.000.000 người Do Thái Ashkenazi ngày nay đã phát triển chỉ từ 400 gia đình này. Do phải trải qua một nút thắt cổ chai từ cả triệu người xuống còn 400 gia đình, rồi lại phục hồi lên hàng triệu người.

Thậm chí, một nghiên cứu trên Tạp chí Di truyền học Hoa Kỳ chứng minh rằng 40% người Do Thái Ashkenazi ngày nay được sinh ra chỉ từ 4 bà mẹ sống trong khoảng một nghìn năm trước. Điều đó cho thấy nhánh này có thông tin di truyền thuần khiết và cực kỳ đông nhất.

Ashkenazi là nhánh dân Do Thái có lịch sử đau thương nhất, đồng thời cũng là nhánh Do Thái đạt được nhiều thành tựu nhất. 

Họ đã nếm trải tất cả những cuộc thanh trừng từ thời La Mã đến thời Trung cổ, và cuối cùng là thời phát xít. Trước nạn diệt chủng của Đức quốc xã, người Do Thái Ashkenazi chiếm khoảng 90% dân số Do Thái thế giới. Ngày nay họ chiếm chưa đến 70%. 

Tổng dân số Do Thái Ashkenazi hiện nay là 10 đến 11.000.000 thì có đến 5 hoặc 6.000.000 sống tại Mỹ, 2,8 triệu sống tại Israel, số còn lại chủ yếu sống tại châu Âu, Canada và Úc.

Các nghiên cứu thường cho thấy người Do Thái Ashkenazi có chỉ số IQ trong khoảng từ 107 đến 115. Đây là chỉ số rất cao so với mức trung bình. IQ của họ cao nhất là trong lĩnh vực toán học và ngôn ngữ. Tại Mỹ. tuy chỉ chiếm khoảng 2% dân số nước này, nhưng người Do Thái Ashkenazi chiếm tới 27% giải Nobel mà Hoa Kỳ có được trong thế kỷ 20; 25% số người giành huy chương toán học Fields; 38% số đạo diễn giành giải Oscar. Ở quy mô thế giới, người gốc Do Thái chiếm 0,2% dân số nhưng lại giành được ít nhất 20% tổng số giải Nobel. Đó là điều thật đáng ngưỡng mộ.

10. Kết

Quay trở lại khu vực Trung Đông, như đã nói ở trên, các dân tộc có ADN gần gũi với người Do Thái là các dân tộc ở vùng phía bắc Lưỡng Hà, trong đó người của Kurd có quan hệ di truyền gần gũi nhất. Tuy nhiên, cho tới ngày nay, người Kurd với dân số lên đến 35 đến 40.000.000 người vẫn phải sống nhờ vào lãnh thổ các nước khác như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Iraq và Syria.

Người Kurd vẫn ở đó cả ngàn năm qua, họ vẫn ở khu vực đó mà vẫn chưa thể có được quốc gia riêng. Nói vậy để thấy rằng người Do Thái thành lập được nhà nước của mình sau hơn 2000 năm sống lưu vong là điều đáng khâm phục.

Vì khó khăn lắm mới tạo dựng được quốc gia nên người Do Thái phải nỗ lực để củng cố nền quân sự của mình, đủ sức răn đe các quốc gia láng giềng có thâm thù lâu đời. Israel áp dụng một chế độ quân dịch bắt buộc cho cả nam và nữ, 3 năm nghĩa vụ cho nam và 2 năm cho nữ giới. Đối với người Do Thái, được phụng sự quốc gia là một điều thiêng liêng như diễn viên Wonder Woman – Gal Gadot đã khẳng định: “Tôi đã thực hiện nghĩa vụ quân sự 2 năm. Tôi chắc chắn có một ý thức mạnh mẽ về bản sắc Do Thái của mình. Tôi được nuôi dưỡng trong một gia đình rất Do Thái, vì vậy, tất nhiên di sản dân tộc vô cùng quan trọng đối với tôi.”

Không chỉ về con người, nền công nghiệp quốc phòng của Israel phát triển không thua kém gì các cường quốc quân sự. Quốc gia này tự phát triển và sản xuất được nhiều loại tên lửa phòng thủ, máy bay chiến đấu cùng các khí tài hiện đại. Israel được cho là một trong 9 quốc gia trên thế giới sở hữu vũ khí hạt nhân, dù nước này không thừa nhận cũng không phủ nhận. Các tổ chức quốc tế ước tính quốc gia Do Thái có từ 80 đến 200 bom và đầu đạn hạt nhân.

Gần đây, Việt Nam nổi lên là khách hàng tiềm năng nhập khẩu vũ khí do Israel sản xuất. Có thể kể ra các hợp đồng như hệ thống tên lửa phòng không SPYDER, hệ thống pháo phản lực EXTRA và AccuLAR, tổ hợp radar cảnh giới, xe bọc thép RAM 2000, súng trường tấn công TAR-21, dây chuyền sản xuất súng trường Galil ACE, máy bay không người lái UAV Heron. Ngoài ra, Việt Nam cũng có thể đang để mắt tới tiêm kích thế hệ mới của Israel. 

Về mặt kinh tế, Israel có mức thu nhập bình quân đầu người khá cao, tương đương với các quốc gia phát triển trên thế giới. Theo Ngân hàng Thế giới, GDP đầu người Israel năm 2018 là 41.614 đô la, thấp hơn Anh và Đức nhưng cao hơn Pháp, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Chỉ số phát triển con người của nước này cũng thuộc tốp đầu thế giới. Tuy nhiên, những thành tựu đó không là gì so với sức ảnh hưởng của người Do Thái từ thời cổ đại đến nay. Ví dụ như các tôn giáo lớn như Cơ đốc giáo, Hồi giáo, Do Thái đều khởi nguồn từ tổ phụ của người Do Thái là Abraham. Còn Moses là một nhà tiên tri quan trọng của cả ba tôn giáo độc thần này. Chúa Jesus, người đã sáng lập ra Cơ đốc giáo một nhân vật có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử nhân loại. Năm 1999, Đại học Cambridge công bố bình chọn nhà tư tưởng số một trong Thiên niên kỉ. Kết quả là Karl Marx đứng đầu còn Albert Einstein đứng thứ hai. Tất nhiên, Việt Nam cũng không thể nằm ngoài vùng ảnh hưởng. 

Nếu phải kể tên ba người Do Thái mà dân Việt Nam ai cũng biết thì đó chính là Chúa Jesus, Albert Einstein và Karl Marx.

Mặc dù hầu hết người Việt đều biết đến và thần tượng Albert Einstein nhưng nhà bác học này lại không ảnh hưởng mấy đến tiến trình lịch sử nước ta. Chúa Jesus và Karl Marx mới là những người gián tiếp hay trực tiếp định hình nên nước Việt Nam như nó vốn có bây giờ.

Để kết thúc series này, xin được trích dẫn một nhận xét của văn hào Mark Twain về người Do Thái, người Ai Cập, người Babylon, người Ba Tư phát triển sinh sôi nảy nở trên mặt đất với danh tiếng vang dội, lẫy lừng và ánh sáng huy hoàng, nhưng sau đó đã trở nên phai mờ, nhạt nhòa như những giấc mơ và rồi đã biến mất.

Người Hy Lạp và người La Mã chạy theo vết xe đổ đó, họ cũng tạo ra tiếng tăm lẫy lừng thật lớn, nhưng rồi thời đại huy hoàng của họ cũng trôi qua. Những dân tộc khác cũng đã nổi lên và giơ cao ngọn đuốc vinh quang của họ trong một thời gian, rồi ngọn đuốc đó đã đốt cháy hết và họ ngồi chốc ánh hoàng hôn hoặc họ đã biến mất. Người Do Thái đã chạm trán và đánh bại tất cả những đế chế đó. Và bây giờ người Do Thái mãi mãi không bị suy yếu. Tất cả các quyền lực khác đã biến mất, nhưng người Do Thái vẫn tồn tại.”

Phụ lục: Các cột mốc thời gian

  • 3760 TCN: Bắt đầu lịch Do Thái.
  • 1812 TCN: Ngày sinh theo truyền thống của Abraham.
  • ~1700 TCN: Jacob lãnh đạo người Do Thái di cư đến Ai Cập.
  • 1300 TCN: Moses dẫn người Do Thái chạy trốn khỏi Ai Cập về Miền Đất Hứa (Exodus). Trên đường đi, Moses nhận Mười Điều Răn của Thiên Chúa tại núi Sinai, Ai Cập.
  • 1175 TCN: Người Philistines xuất hiện ở Canaan.
  • 1200-400 TCN: Giai đoạn Kinh Torah được biên soạn.
  • 1000-586 TCN: Thời gian áng chừng của các vương quốc Israel theo Kinh Thánh.
  • 1043-1010 TCN: Người Do Thái thành lập vương quốc Israel, trị vì bởi Saul.
  • 1002-970 TCN: David trị vì Israel, lấy Jerusalem làm thủ đô.
  • 970-931 TCN: Solomon nối ngôi David và bắt đầu quy hoạch xây dựng lại Jerusalem.
  • 922 TCN: Vương quốc Israel bị chia thành Israel ở phương Bắc và Judah ở phương Nam. Jerusalem trở thành thủ đô của Judah.
  • 825 TCN: Ngôi Đền Jerusalem được hoàn thành.
  • 720 TCN: Người Assyria xâm lược Israel và trục xuất 10 bộ tộc người Do Thái.
  • 625 TCN: Đế quốc Assyria bị liên minh của Đế quốc Babylon và Median tiêu diệt.
  • 586 TCN: Vua Nebuchadrezzar II của Babylon phá hủy Ngôi Đền của Solomon  và bắt dân Do Thái về Babylon làm nô lệ. Kết thúc thời kỳ Ngôi Đền thứ Nhất (825 TCN – 586 TCN).
  • 538 TCN: Đại đế Cyrus của Ba Tư tiêu diệt Đế quốc Babylon và cho phép người Do Thái trở về Jerusalem. Một số người lựa chọn không trở về: bắt đầu thời kỳ Cộng đồng Do Thái lưu vong.
  • 538 TCN : Sau khi trở về từ Babylon, các học giả Do Thái bắt đầu sử dụng chữ viết Aramaic để viết chữ Hebrew.
  • 515 TCN : Khánh thành Ngôi Đền Jerusalem xây dựng lần thứ hai. Bắt đầu thời kỳ Ngôi Đền thứ Hai.
  • 480-440 TCN: Ezra giúp thiết lập lại trật tự của Judah và qui điển hóa Tanakh. Tanakh – Kinh Thánh Hebrew – trở thành kinh sách căn bản của Do Thái giáo, đặt ra những lề luật cho đời sống hàng ngày, giữ gìn văn hóa và lễ nghi Do Thái.
  • Thế Kỷ 5 TCN: Canaan rơi vào tay Đế chế Macedonia của Alexander Đại Đế.
  • 198 TCN: Antiochus III của dòng họ Seleukos chinh phục Palestine.
  • 166 TCN: Cuộc khởi nghĩa của người Do Thái dưới sự lãnh đạo của Maccabees dẫn đến việc thành lập vương quốc Do Thái độc lập dưới sự trị vì của các vua Do Thái triều đại Hasmoneans (164-63 TCN).
  • 63-65 CN: Đại giáo chủ của phái Pharisees Joshua Ben Gamla ban hành sắc lệnh tôn giáo “takkanah” yêu cầu tất cả các ông bố Do Thái phải gửi con trai 6-7 tuổi tới trường tiểu học.
  • 63: Quân La Mã xâm lược Israel.
  • 66: Các đội quân La Mã đụng độ với người Do Thái ở Jerusalem, khởi đầu cho cuộc Đại khởi nghĩa của người Do Thái.
  • 70: Quân La Mã đánh chiếm Jerusalem và san bằng Ngôi Đền. Người Do Thái di cư khắp Đế quốc La Mã. Kết thúc thời kỳ Ngôi Đền thứ Hai (515 TCN – 70 CN).
  • 70-313: Đế quốc La Mã cai trị Palestine.
  • TK 1 – TK 6: Babylon là trung tâm sinh hoạt của người Do Thái lưu vong.
  • 200: Sách Mishna hoàn thành.
  • 313-636: Đế quốc Byzantine cai trị Palestine.
  • 500: Sách Talmud (Pháp điển) của Babylon hoàn thành. Thời kỳ thế kỷ 3-5 gọi là Thời kỳ Talmud.
  • 636-1091: Người Ả Rập cai trị Palestine.
  • TK 8 – TK 15: Tây Ban Nha là trung tâm sinh hoạt của người Do Thái lưu vong.
  • 1091-1099: Người Seljuk chiếm Palestine.
  • 1099-1291: Quân Thập Tự Chinh chiếm Palestine.
  • 1291-1516: Quân Mamluk chiếm Palestine.
  • 1492: Vua Tây Ban Nha ra sắc lệnh trục xuất người Do Thái.
  • 1517-1917: Palestine thuộc Đế Quốc Ottoman.
  • TK 16 – TK 18: Ba Lan là trung tâm sinh hoạt của người Do Thái lưu vong.
  • 1840: Rabbi Judah Alkalai ở Bosnia khởi đầu ý tưởng về Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism).
  • 1881: Cuộc đại tàn sát người Do Thái tại Nga của Nga Hoàng.
  • 1897: Theodor Herzl tổ chức quốc Đại hội Zionist để bắt đầu di cư về Đất Thánh.
  • 1901: Theodor Herzl gặp Vua Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman là Abdulhamid II để yêu cầu thành lập quốc gia Do Thái trên mảnh đất Palestine.
  • 1917: Quân đội Anh đánh bại người Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman) và giữ quyền ủy trị Palestine cho đến 1948.
  • 1933: Hitler lên cầm quyền tại Đức.
  • 1939-1945: Thế Chiến II, thảm sát Holocaust. Phát xít Đức giết hại 6 triệu người Do Thái trong các trại tập trung.
  • 1947: Liên Hiệp Quốc đồng ý kế hoạch chia Palestine thành hai quốc gia Do Thái và Ả Rập Palestine.
  • 14/5/1948: Quốc gia Do Thái chính thức ra đời với tên gọi Israel, tuyên bố độc lập ngày 14/05/1948. Hơn 1 triệu người Palestine rời khỏi Israel. Khoảng 250.000 người Do Thái sống sót khỏi thảm sát Holocaust ở châu Âu trở về đất tổ.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây