Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Hàn Quốc

162

Đất nước Hàn Quốc có một bề dày lịch sử đáng nể phục. Trải qua nhiều thời đại Vua Chúa…giờ đây Hàn Quốc là một đất nước độc lập và phát triển. Với những thành tựu đáng khâm phục, Hàn Quốc đã cho cả Thế giới biết đến tên tuổi của mình.

Lịch sử Hàn Quốc bắt đầu từ thần thoại Dangun, sau đó được chia thành các giai đoạn: thời đại Tam Quốc – Shilla Thống Nhất – Goryeo – Joseon – thời kỳ bị Nhật chiếm đóng – thời kỳ chia cách Nam-Bắc và thời đại Đại Hàn Dân Quốc.

Lãnh thổ Hàn Quốc bị giới hạn trong phạm vi “Bán đảo Hàn Quốc và các đảo phụ thuộc” nhưng lịch sử Hàn Quốc bao quát 1 khu vực rộng lớn bao gồm cả bán đảo Hàn Quốc và một số tỉnh Đông Bắc của Trung Quốc hiện nay.

1. Thần thoại Dangun và thời đại Gojoseon (Joseon cổ)

Xuất phát điểm của dân tộc Hàn và lịch sử quốc gia là thần thoại Dangun.

Với mong muốn cai trị tốt thế giới loài người, Hwan Woong, con trai của Hwan In (Thượng đế) đã dẫn các vị thần Gió, thần Mây, thần Mưa hạ giới xuống gần cây cổ thụ đan hương trên sườn núi Taebaek (ngày nay là núi Myohyang San) và dựng nên thành Shinshi.

Lúc bấy giờ, gấu và hổ đến cầu xin Hwan Woong cho được hóa thành người và được ngài truyền dặn rằng “Chỉ được ăn cây ngải cứu và tỏi, không được nhìn ánh nắng mặt trời trong vòng 100 ngày”.

Với lòng nhẫn nại, gấu đã hóa thành một thiếu nữ, tức là Woongnyo, còn cọp thì thất bại. Với mong ước được sinh con đẻ cái Woongnyo đã kết hôn cùng với Hwan Woong, khi này đã hóa thân thành người, và hạ sinh một người con trai mang tên Dangun.

lịch sử hàn quốc
Gấu và hổ đến cầu xin Hwan Woong cho được hóa thành người

Vua Dangun lập đô tại Bình Nhưỡng và lấy quốc hiệu là Joseon, quốc gia đầu tiên trong lịch sử bán đảo. Dangun đã trị vì đất nước trong 1500 năm, sống đến 1908 tuổi và sau đó hóa thân thành Thần núi.

Nhân vật Dangun được phân tích dựa theo quá trình tổ tiên của dân tộc Hàn chuyển đến bán đảo Hàn Quốc và cai trị người dân bản địa. Việc truyền thuyết nói rằng Dangun dẫn theo nhiều vị thần có thể hiểu là người hàn cổ đã nắm được những kỹ thuật tiên tiến trong đó có canh tác nông nghiệp.

Woongnyo tượng trưng cho người dân bản địa và việc kết hôn giữa Hwan Woong và Woongnyo được xem là sự kết hợp giữa lực lượng bên ngoài và lực lượng bản địa để hình thành nên một dân tộc. Dangun được coi là nhà lãnh đạo và là biểu tượng của một dân tộc mới.

1.1 Thời đại Gojoseon (2333 TCN ~ Thế kỷ 2 TCN)

Theo thư tịch cổ, vua Dangun lập nước vào khoảng 50 năm trước Công nguyên, khi Liêu đế của Trung Quốc lên ngôi hoàng đế. Theo tính toán thì đó là vào năm 2333 trước Công nguyên (TCN). Triều đại Joseon cổ thuộc thời tiền sử và do đó lịch sử chỉ được nghiên cứu dựa trên các tư liệu cổ đại của Trung Quốc hoặc những chứng cứ khảo cổ học.

Danh xưng vua Dangun là từ chỉ là thời đại có sự hợp nhất giữa việc cúng tế và chính sự quốc gia. Triều đại Joseon cổ đã khép lại sau thất bại trong cuộc giao tranh giành quyền lực với nhà Hán của Trung Quốc vào thế kỷ thứ 2 TCN.

lịch sử hàn quốc

1.2 Thời kỳ đồ đồng

Thời kỳ đồ đồng thường được cho là bắt đầu khoảng 1500 – 1000 trước Công Nguyên tại Triều Tiên, dù những bằng chứng khảo cổ học gần đây cho thấy có thể nó đã bắt đầu ngay từ năm 2500 trước Công Nguyên. Dao găm, gương và các vũ khí bằng đồng cũng như bằng chứng về các hình thức tổ chức chính quyền kiểu đô thị với tường bao đã được phát hiện. Gạo, đậu đỏ, đậu nành và kê đã được canh tác, và những ngôi nhà hầm hình chữ nhật cùng những khu mai táng bằng mộ đá ngày càng rộng lớn đã được tìm thấy trên toàn bán đảo. Những ghi chép cùng thời cho thấy Cổ Triều Tiên đã chuyển tiếp từ một quần thể phong kiến với các đô thị có tường bao trở thành một vương quốc trung ương tập quyền ít nhất từ trước thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên.

1.3 Thời kỳ đồ sắt

Mọi người tin rằng tới thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên, văn hóa đồ sắt đã phát triển và các chiến quốc Trung Quốc đã đẩy lùi những dân tộc tị nạn về phía đông và phía nam. Tuy nhiên, gần đây, một tấm gương sắt đã được tìm thấy tại Songseok-ri Kangdong-gun Bình Nhưỡng ở CHDCND Triều Tiên. chiếc gương này có thể có niên đại từ năm 1200 trước Công Nguyên.

Ở khoảng thời gian này, một quốc gia gọi là Thìn Quốc nổi lên ở phần phía nam bán đảo Triều Tiên. Chúng ta biết rất ít về nước này, nhưng thực sự nó đã thiết lập các mối quan hệ với nhà Hán và xuất khẩu các đồ thủ công tới Di Sanh (Yayoi) Nhật Bản. Một vị vua Cơ Tử Triều Tiên có thể đã bỏ chạy tới Thìn sau khi bị Vệ Mãn (Wiman) lật đổ. Sau này phát triển thành liên minh Tam Hàn.

1.4 Suy tàn và sụp đổ

Quá trình suy tàn và sụp đổ của Gojoseon vẫn còn đang gây tranh cãi, tùy thuộc theo quan điểm của các nhà sử học về Cơ Tử Triều Tiên. Lý thuyết do Triều Tiên thượng cổ (Joseon Sangosa) đưa ra cho rằng Cổ Triều Tiên đã tan rã từ khoảng năm 300 trước Công Nguyên và dần mất quyền kiểm soát các thuộc quốc cũ của mình. Nhiều nước nhỏ hơn nổi lên từ vùng lãnh thổ cũ của Cổ Triều Tiên như Phù Dư, Ốc Trở, Đông Uế, . Cao Câu Ly và Bách Tế coi mình là hậu duệ của Phù Dư.

2. Trước thời Tam quốc

Thời kỳ Tiền Tam Quốc, thỉnh thoảng được gọi là Thập Quốc thời đại, là khoảng thời gian trước khi Tam Quốc Triều Tiên, gồm Cao Câu Ly, Tân La, và Bách Tế, xuất hiện, và sau khi Cổ Triều Tiên sụp đổ. Khoảng thời gian này chứng kiến sự xuất hiện của nhiều tiểu quốc từ những lãnh thổ cũ của Cổ Triều Tiên. Trong số các nước đó, nước lớn nhất và có ảnh hướng nhất là Đông Phù Dư và Bắc Phù Dư.

2.1 Phù Dư

Bắc Phù Dư

Sau khi Cổ Triều Tiên sụp đổ, Hae Mosu, một nhân vật hậu duệ của Cổ Triều Tiên, đã thu thập một đạo quân gồm những người Cổ Triều Tiên tại Núi Ung Sơn để thành lập một vương quốc sau này sẽ mang lại thời kỳ phục hưng của Cổ Triều Tiên. Năm 239 trước Công Nguyên, Hae Mosu thành lập Phù Dư, và được trao danh hiệu “Dangun”, danh hiệu từng được trao tặng cho những vị vua cai trị Cổ Triều Tiên. Hae Mosu và con cháu của mình đã cai quản vùng Buyeo trong bảy thế hệ. Ông và hậu duệ đã liên tục phải chiến đấu với Vệ Mãn Triều Tiên và các nước láng giềng. Phù Dư dần trở thành kẻ chinh phục với các nước đó, tái thống nhất đa phần các lãnh thổ cũ của Cổ Triều Tiên. Tới năm 86 trước Công Nguyên, Phù Dư chia rẽ sau cái chết của vị Dangun thứ 4, Go Uru. Cùng với cái chết của Go Uru, ngôi báu Phù Dư được trao cho Giải Phu Lũ (Hae Buru), người anh/em của Cao Ưu Lâu. Giải Phu Lũ bị Go Dumak, hậu duệ của Goyeolga Dangun, vị vua cuối cùng của Cổ Triều Tiên, và cũng là người trong hàng ngũ thừa kế không thừa nhận. Hae Buru bị đánh bại và phải bỏ chạy về phía đông, nơi ông tái lập vương quốc của mình là Dongbuyeo. Sau sự kiện này, Go Dumak sáp nhập vương quốc Dongmyeong với Buyeo, hình thành nên Jolbon Buyeo. Go Dumak tiếp tục trở thành vị vua cai trị thứ năm của Buyeo, và truyền lại ngôi báu cho con trai mình, Go Museo Dangun, khi ông qua đời năm 60 trước Công Nguyên. Go Museo cai trị Jolbon Buyeo trong hai năm và mất năm 38 trước Công Nguyên. Go Museo Dangun không có con trai, vì thế ngôi báu được truyền lại cho con rể của ông là Cao Chu Mông, người sáng lập Cao Câu Ly. Jolbon Buyeo sau này trở thành người thành lập Cổ Triều Tiên, vương quốc ở xa nhất phía bắc và đã lớn mạnh để trở thành nước mạnh nhất trong Tam Quốc Triều Tiên.

Đông Phù Dư

Đông Phù Dư được Vua Giải Phu Lũ thành lập năm 86 trước Công Nguyên, ông là anh/em trai của vị Dagun thứ tư của Phù Dư. Người kế tục Giải Phu Lũ là Kim Oa, ông này đã được đề cập tới trong huyền thoại thành lập Cổ Triều Tiên. Con trai của Kim Oa, Đại Tổ, đã trở thành vị vua thứ ba và cuối cùng của Đông Phù Dư. Ông đã chiến đấu chống lại Vua Daemusin, và thiệt mạng, chấm dứt Đông Phù Dư.

2.2 Ốc Trở

Vương quốc Ốc Trở (Okjeo) là một quốc gia kiểu bộ tộc nằm ở phía bắc Bán đảo Triều Tiên, và đã được thành lập sau khi Cổ Triều Tiên sụp đổ. Ốc Trở từng là một phần của Cổ Triều Tiên trước đó. Ốc Trở chưa bao giờ phát triển tới mức một quốc gia hoàn toàn vì sự can thiệp từ các vương quốc lân cận. Ốc Trở đã trở thành một nước chư hầu của Cao Câu Ly, và cuối cùng bị Quảng Khai Thổ Thái Vương của Cao Câu Ly (Gwanggaeto Taewang) sáp nhập vào Cao Câu Ly ở thế kỷ thứ 5.

2.3 Đông Uế

Đông Uế (Dongye) là một vương quốc nhỏ khác nằm ở phía bắc bán đảo Triều Tiên. Đông Uế giáp biên giới với Ốc Trở, và hai vương quốc có cùng số phận khi trở thành chư hầu của đế chế Cao Câu Ly ngày càng phát triển. Đông Uế cũng từng là một phần của Cổ Triều Tiên trước khi vương quốc này sụp đổ.

2.4 Lạc Lãng

Sau khi Cổ Triều Tiên sụp đổ năm 239 trước Công Nguyên, Choe Soong, một quan chức cũ của Cổ Triều Tiên, đã thành lập một nước “Cổ Triều Tiên mới” tại Liêu Ninh, tự gọi mình là Lạc Lãng Quốc (Nangnang-guk). Sau vài năm, Lạc Lãng Quốc dời về phía nam Bán đảo Triều Tiên gần Sông Đại Đồng, vì những cuộc tấn công liên tục từ Vệ Mãn Triều Tiên. Dù sự tồn tại của quốc gia này còn bị tranh cãi khá gay gắt, một số đoạn trong Tam quốc sử ký và nhiều nguồn thông tin cổ khác có ghi lại bằng chứng về điều đó. Nó cùng tồn tại và triều cống cho Phù Dư. Dù đa số các vị vua cai trị quốc gia này không được biết tới hay không được ghi lại tên tuổi trong sách sử, vị vua cuối cùng của nó thực sự có lưu danh. Choe Ri là vị vua cuối cùng của Nangnang Joseon và là cha của Công chúa Nangnang, một trong những nhân vật chính trong một câu chuyện tình lịch sử Triều Tiên. Công chúa và Hoàng tử Hodong của Cao Câu Ly đã yêu và sống cùng nhau dù có cuộc chiến giữa Cao Câu Ly và Lạc Lãng Quốc. Lạc Lãng Quốc bị Cao Câu Ly chinh phục năm 32 sau Công nguyên.

2.5 Tam Hàn

Tam Hàn (Samhan) là từ chỉ ba liên minh gồm Mã Hàn (Mahan), Thìn Hàn (Jinhan), và Biện Hàn (Byeohan). Tam Hàn nằm ở vùng phía nam Bán đảo Triều Tiên. Ba liên minh này cuối cùng trở thành nền tảng thành lập nên ba nước là Bách Tế, Tân La, và Già Da (Gaya). Mã Hàn là nước lớn nhất và gồm 54 tiểu quốc bộ lạc. Biện Hàn và Thìn Hàn đều gồm 12 tiểu quốc, đưa tổng số thành 78 tiểu quốc bộ lạc trong Tam Hàn. Thuật ngữ “Tam Hàn” sau này đã được dùng để miêu tả Tam Quốc Triều Tiên.

3. Thời đại Tam Quốc (thế kỷ 1 TCN ~ 668 SCN)

Vào thế kỷ thứ 1 TCN, nhiều bộ tộc sống tại khu vực giữa bán đảo Hàn Quốc và khu vực Mãn Châu đã hợp lại và lập ra 3 vương quốc. Đó là thời đại Tam Quốc trong lịch sử Hàn Quốc với vương quốc Goguryo nằm ở phía Bắc bán đảo Hàn Quốc và khu vực Mãn Châu, Baekjae nằm ở phía Tây và Shilla nằm ở phía Đông. Ba quốc gia này đã hợp nhất được nhiều dân tộc và có những bước phát triển nhất định.

lịch sử hàn quốc

3.1 Goguryo (năm 37 TCN ~ năm 668 SCN):

Là vương quốc của bộ tộc Buyeo do Jumong (Đông Minh Thánh Vương) xây dựng trên khu vực Nam Mãn Châu, Goguryo đã thống trị toàn bộ khu vực Mãn Châu và một phần phía Bắc của bán đảo Hàn Quốc. Do nằm trên con đường huyết mạch tiến vào bán đảo Hàn Quốc nên kể từ khi bắt đầu dựng nước, Goguryo không thể tránh khỏi xung đột với Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử.

Khi triều đại Gojoseon cổ bị diệt vong, Goguryo đã thu phục quân Nakrang và quân Daebang, các lực lượng mà Trung Quốc đang nắm giữ để đánh đuổi hoàn toàn quân Trung Quốc ra khỏi bán đảo Hàn Quốc. Sau khi quét sạch đại quân của nhà Tùy vào năm 598, Goguryo đã trở thành một quốc gia hùng mạnh ở vùng Đông Bắc Á. Trong thời kỳ Tam Quốc, triều đại Goguryo có lãnh thổ lớn nhất và lực lượng quân sự mạnh nhất.

Tuy nhiên, số lượng lớn các cuộc chiến tranh đã làm Cao Câu Ly kiệt quệ và trở thành một nước yếu ớt. Sau những cuộc tranh giành quyền lực nội bộ, nó đã bị liên minh các lực lượng Tân La-Đường chinh phục năm 668.

lịch sử hàn quốc
Bức tranh săn bắn cổ Goguryo

3.2 Baekjae (năm 18 TCN ~ năm 660 SCN):

Theo truyền thuyết, Onjo và Biryu, hai con trai của vua Đông Minh Thánh Vương nước Goguryo bị vua cha đuổi. Họ di chuyển xuống phía Nam và lập nên vương quốc Baekjae.

Baekjae hay xung đột với Goguryo, vương quốc án ngữ lối ra vào ở phía Bắc, nhưng mặt khác lại giao lưu với nhiều vương quốc của Trung Quốc bên biển. Baekjae thu phục quân Daebang, một lực lượng của Trung Quốc trên bán đảo Hàn Quốc rồi tiến đánh Goguryo ở phía Bắc và Shilla ở phía Nam. Baekjae cũng mở rộng mối bang giao với các vương triều ở Nhật Bản.

Baekjae đã có một nền văn hóa rực rỡ nhưng cuộc chiến liên miên với Goguryo và Shilla đã khiến vương quốc này dần dần suy yếu và cuối cùng bị liên quân Shilla – Đường đánh bại và bị diệt vong vào năm 660.

Sau khi quốc gia bị diệt vọng, nhiều người dân Baekjae đã sang Nhật Bản và đóng góp rất lớn vào sự phát triển của các vương triều Nhật cổ đại, nhất là trong lĩnh vực văn hóa.

3.3 Shilla (năm 57 TCN ~ năm 935 SCN, bao gồm thời đại Shilla thống nhất):

Cả Goguryo và Baekjae đều là các quốc gia xuất phát từ Buyeo, trong khi Shilla là dựa theo truyền thuyết tổ tiên của Shilla là Bakhyukkeos từ trong trứng sinh ra. Nói cách khác, Shilla được hình thành nhờ sự kết hợp giữa những người thuộc nền văn minh tiên tiến hơn ở bên ngoài và người dân bản địa.

Nếu tính cả Shilla thống nhất thì vương quốc này tồn tại được 992 năm, qua 56 đời vua và được gọi là “Vương quốc ngàn năm” trong lịch sử Hàn Quốc.

Do nằm ở phía Đông Nam bán đảo Hàn Quốc nên tiếp nhận nhiều văn minh tiên tiến và cũng đã gặp nhiều khó khăn cho việc này, do vậy mà vương quốc này phát triển trễ nhất trong 3 nước thời tam quốc.

Tuy nhiên do phát triển ổn định, Shilla đã xây dựng được 1 đất nước hùng mạnh cả về quân sự lẫn văn hoá. Shilla đã liên kết với nhà Đường và lần lượt đánh bại quân Baekjae và Goguryo để thống nhất lãnh thổ.

4. Thời đại Shilla thống nhất (năm 668 ~ 935)

Sau khi thống nhất 3 nước, Shilla đã dẹp bỏ được sự can thiệp của nhà Đường và chiếm lĩnh hầu như toàn bộ bán đảo Hàn Quốc, chỉ ngoại trừ vương quốc Balhae do các du dân của Goguryo lập nên ở phía Bắc. Có nền văn hóa phát triển rực rỡ và được gọi là vương quốc Phật giáo, Shill thống nhất chính là nền tảng hình thành nên dân tộc Hàn thống nhất và phát triển.

Sau những cuộc chiến tranh thống nhất, nhà Đường đã thiết lập những lãnh thổ tại Goguryo trước kia, và bắt đầu quản lý cũng như thành lập các cộng đồng tại Bách Tế. Tân La đã tấn công người những người Trung Quốc tại Bách Tế và Bắc Triều Tiên năm 671.

Sau đó Trung Quốc xâm chiếm Tân La năm 674 nhưng dưới sự lãnh đạo của Tướng Kim Yu-shin, Tân La đánh bại quân đội Trung Quốc ở phía bắc. Tân La buộc các lực lượng Đường phải rời khỏi bán đảo năm 676 và hoàn thành thống nhất đa phần Tam Quốc.

Tân La Thống nhất là một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật Triều Tiên và Phật giáo đã đóng một vai trò lớn trong văn hóa Tân La. Các ngôi chùa Phật giáo như Bulguksa (Phật quốc tự) là những minh chứng về sự tiến bộ kiến trúc và ảnh hưởng Phật giáo Triều Tiên. Những công trình nghệ thuật và kiến trúc được nhà nước xây cất trong thời gian này gồm Đền Hwangnyongsa (Hoàng Long tự), Bunhwangsa (Phân Hoàng tự), và Seokguram (Thạch Quật Am), một Di sản Thế giới.

Tân La bắt đầu gặp phải các rắc rối chính trị năm 780 khi các vị vua bắt đầu ám sát các thủ lĩnh nổi dậy. Việc này đã làm Tân La suy yếu nhanh chóng một thời gian ngắn sau đó, các hậu duệ của Bách Tế trước kia lập ra Hậu Bách Tế. Ở phía bắc, những kẻ nổi dậy tái lập Cao Cấu Ly, bắt đầu giai đoạn Hậu Tam Quốc.

5. Hậu Tam Quốc

Hậu Tam Quốc (892 – 936) gồm Tân La, Hậu Bách Tế, và Thái Phong (Taebong, cũng được gọi là Hậu Cao Câu Ly). Hai nước sau, được thành lập khi Tân La Thống nhất trải qua giai đoạn suy tàn quyền lực, và được coi là những nước hậu duệ của Tam Quốc Triều Tiên.

Thái Phong (Hậu Cao Cấu Ly) ban đầu do Cung Duệ (Gung Ye), một nhà sư phật giáo người lập ra Hậu Cao Câu Ly lãnh đạo. Nhân vật kém tên tuổi Cung Duệ sau đó đã bị Vương Kiến (Wang Geon) (877-943) hạ bệ năm 918, khi Cung Duệ giết vợ và con trai ông. Wang Geon là người được nhân dân ưa thích, và ông đã quyết định thống nhất toàn bộ bán đảo dưới một chính quyền duy nhất. Ông tấn công Hậu Bách Tế năm 934 và nhận sự đầu hàng của Tân La năm sau đó. Năm 936, Cao Ly chinh phục Hậu Bách Tế.

6. Cao Ly

Cao Ly được thành lập năm 918 và tới năm 936, đã thay thế Tân La với tư cách triều đại cai trị Triều Tiên. Triều đại này tồn tại tới tận năm 1392. Trong giai đoạn này các bộ luật đã được soạn thảo và một hệ thống dịch vụ dân sự được đưa ra áp dụng. Phật giáo phát triển mạnh và mở rộng ra toàn bán đảo. Công nghiệp đồ tráng men phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 12 và 13. Sự xuất bản cuốn Bát vạn đại tạng kinh, và kỹ thuật in kim loại đầu tiên trên thế giới trong thế kỷ 13, là minh chứng cho những thành tựu văn hóa của Cao Ly.

Năm 1231, người Mông Cổ bắt đầu những chiến dịch chinh phục Triều Tiên và sau 25 năm chiến đấu, gia đình hoàng gia đã phải chùn bước qua hành động ký kết một hiệp ước với những người Mông Cổ. Trong 80 năm tiếp sau Cao Ly vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng dưới sự can thiệp Mông Cổ. Trong những năm 1340, đế chế Mông Cổ nhanh chóng suy tàn vì những cuộc tranh giành nội bộ. Cao Ly Cung Mẫn Vương (Cungmin) cuối cùng cũng được tự do hành động cải cách chính phủ Cao Ly. Cung Mẫn Vương phải đương đầu với nhiều vấn đề gay gắt, gồm cả việc loại bỏ những vị quan và tướng lĩnh ủng hộ Mông Cổ, vấn đề sở hữu đất đai và dập tắt tình trạng thù địch giữa những tín đồ Phật giáo và các học giả Khổng giáo.

Một vấn đề khác là hải tặc “Nhật Bản”, khi ấy đã tổ chức những cuộc tấn công sâu vào trong nội địa đất nước. Tướng Lý Thành Quế (Lee Seong Gye) đã thành công với hàng loạt những chiến dịch đẩy lùi hải tặc. Triều đại Cao Ly tồn tại tới năm 1392, khi Lý Thành Quế, người có sự ủng hộ mạnh mẽ của tầng lớp quan lại, dễ dàng tiến hành một cuộc đảo chính.

lịch sử hàn quốc
Cao Ly Thái Tổ

7. Thời đại Joseon (1392 ~ 1910)

Năm 1392, một vị tướng Triều Tiên là Lee Seong Gye được cử tới Trung Quốc trong chiến dịch chống lại nhà Minh, nhưng thay vì thực hiện sứ mệnh, ông đã quay lại để lật đổ vị vua Cao Ly và thành lập một triều đại mới. Ông đặt tên cho nó là Triều đại Triều Tiên để vinh danh Cổ Triều Tiên trước đó (chữ “Cổ” về sau được thêm vào để phân biệt). Vua Thái Tổ dời thủ đô tới Hanseong (Hán Thành) (tên chính thức là Hanyang (Hán Dương) – Seoul ngày nay) và xây dựng Gyeongbokgung (Cảnh Phúc cung). Năm 1394 ông đưa Khổng giáo trở thành tôn giáo chính thức của đất nước, dẫn tới sự suy giảm quyền lực và của cải của phe Phật giáo. Nhà Triều Tiên có nhiều tiến bộ trong khoa học và văn hoá: đáng chú ý nhất là bảng chữ cái Hangul do Thế Tông phát minh năm 1443. Triều đại Triều Tiên được cho là triều đại thực sự nắm quyền lâu nhất tại Đông Á trong thiên niên kỷ qua.

lịch sử hàn quốc
Nghệ thuật – Văn hóa phát triển rực rỡ nhất dưới triều đại Joseon

7.1 Kinh tế

Joseon duy trì được một nền kinh tế ổn định trong những thời kỳ hòa bình. Sau khi triều đình Triều Tiên được thành lập và hoàn thiện, kinh tế cũng bắt đầu khởi sắc. Buổi đầu thời Triều Tiên, kinh tế ổn định, đặc biệt dưới thời cai trị của vua Thế Tông. Tuy nhiên, kinh tế đã bị trì trệ sau cuộc xâm lược 1592-1598 của Nhật Bản và tình trạng tham nhũng, ăn hối lộ, thuế má nặng nề.

7.2 Tôn ti xã hội

Nhà Triều Tiên đã thành lập một hệ thống tầng lớp xã hội rất chặt chẽ gây ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế. Vua là người ở trên đỉnh hệ thống, còn các “lưỡng ban” (yangban) và các vị quan trong triều cùng các tướng lĩnh ở dưới ông. Lưỡng ban là những học giả có uy tín trong Triều đại Joseon. Tầng lớp trung lưu gồm một số thương nhân và thợ thủ công. Đa số người trong xã hội thuộc tầng lớp thấp hơn như nông dân và tầng lớp thấp nhất là những người nô lệ không phải trả bất kỳ khoản thuế nào cho chính phủ. Có thời điểm, nô lệ chiếm tới 30% dân số.

7.3 Ngoại xâm

Joseon đã phải đương đầu với hai cuộc xâm lược của Nhật Bản từ 1592 tới 1598 (Chiến tranh Imjin). Cuộc xung đột này khiến Đô đốc Yi Sun-sin (Lý Thuấn Thuần) trở nên nổi bật, và cũng là lần đầu các tàu rùa và hwacha được đưa vào sử dụng trong quân đội Triều tiên. Sau này, có thêm các cuộc xâm lược khác từ Mãn Châu năm 1627 (xem Cuộc xâm lược Triều Tiên lần thứ nhất của Mãn Châu) và một lần nữa năm 1636 (xem Cuộc xâm lược Triều Tiên lần thứ hai của Mãn Châu), sau những cuộc xâm lược này, nhà Triều Tiên đã công nhận tính pháp lý của Đế chế Thanh. Thương mại với người Nhật Bản được mở tại Busan, và các sứ thần đã được cử tới Edo tại Nhật Bản. Người châu Âu không được phép buôn bán tại các cảng Triều Tiên cho tới tận những năm 1880.

lịch sử hàn quốc
Chiến tranh Hàn – Nhật

7.4 Thế kỷ XIX

lịch sử hàn quốc
Cuộc khởi nghĩa của nông dân

Trong thế kỷ XIX, Triều Tiên tìm cách kiểm soát các ảnh hưởng từ bên ngoài thông qua việc đóng cửa các biên giới với tất cả các nước, ngoại trừ Trung Quốc. Năm 1853 chiếc USS South America, một tàu chiến Mỹ, đã tới thăm Phủ Sơn trong 10 ngày và có những tiếp xúc thân thiện với các vị quan chức địa phương Triều Tiên. Nhiều người Mỹ từng bị đắm tàu dạt vào Triều Tiên vào các năm 1855 và 1865 cũng được đối xử tốt, sau đó họ đều được gửi sang Trung Quốc để hồi hương. Triều đình Triều Tiên cai trị Triều Tiên, biết rõ những cuộc xâm lược và những hiệp ước liên quan tới nhà Thanh, cũng như Những cuộc chiến tranh nha phiến, và áp dụng một chính sách thận trọng với những thay đổi chậm chạp với phương tây. Năm 1866, Vụ việc Tướng Sherman khiến Triều Tiên và Hoa Kỳ rơi vào tình trạng đối đầu.

Năm 1871, Hoa Kỳ xung đột với quân đội Triều Tiên, sau đó rút lui, người Triều Tiên gọi cuộc xung đột đó là Sinmiyangyo. Tới năm 1876, một đất nước Nhật Bản hiện đại nhanh chóng và đã có thể đương đầu thành công với Nhà Thanh trong Chiến tranh Trung – Nhật (1894-1895), đã buộc Triều Tiên phải mở cửa các cảng biển. Năm 1895, người Nhật ám sát Hoàng hậu Minh Thành người đang tìm cách lôi kéo sự giúp đỡ từ phía Nga, và người Nga đã buộc phải rút lui khỏi Triều Tiên.

Năm 1897, Joseon được đổi tên thành Đại Hàn đế quốc, và Cao Tông Đại Vương trở thành Cao Tông Hoàng đế. Tiếp đó là một giai đoạn ảnh hưởng của Nga, cho tới khi Nhật Bản đánh bại Nga trong cuộc Chiến tranh Nga Nhật (1904-1905). Triều Tiên thực tế đã thành một quốc gia bị bảo hộ của Nhật Bản ngày 25 tháng 7 năm 1907, Hiệp ước Bảo hộ 1905 đã được ban hành nhưng không có dấu triện của Hoàng đế Cao Tông như thông lệ.

8. Thời kỳ bị Nhật chiếm đóng (1910 ~ 1945)

Năm 1910, Nhật Bản hoàn toàn thôn tính Triều Tiên bằng Hiệp ước sáp nhập Nhật Bản – Triều Tiên. Tuy tính pháp lý của hiệp ước vẫn được phía Nhật Bản xác nhận, nói chung nó không được thừa nhận tại Triều Tiên bởi vị Hoàng đế Triều Tiên không ký kết vào văn bản này theo yêu cầu cần thiết và sự vi phạm vào thỏa ước quốc tế về những áp lực từ bên ngoài liên quan tới các hiệp ước. Triều Tiên bị Nhật Bản cai quản dưới cái gọi là Tướng-Toàn quyền Nhật Bản cho tới khi họ đầu hàng không điều kiện trước các lực lượng Đồng Minh, ngày 15 tháng 8 năm 1945, với chủ quyền trên danh nghĩa đã được chuyển từ Triều đại Triều Tiên sang Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Triều Tiên.

Các mạng lưới vận tải và viễn thông kiểu châu Âu đã được thiết lập trên khắp đất nước. Đây là điều kiện tốt cho công cuộc khai thác của Nhật Bản, nhưng sự hiện đại hóa mang lại rất ít nếu không nói là không mang lại gì cho người dân Triều Tiên. Mà chỉ chủ yếu phục vụ cho các nhu cầu thương mại của Nhật Bản, và những biện pháp quản lý trung ương hóa chặt chẽ của họ. Người nhật đã phế bỏ hệ thống triều đình Triều Tiên, phá hủy Cảnh Phúc cung, và sửa đổi hệ thống thuế của Triều Tiên nhằm chiếm đoạt đất đai của người nông dân, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp Triều Tiên sang Nhật Bản gây ra nạn đói tại Triều Tiên; và đưa ra nhiều biện pháp dã man gồm cả ám sát những người từ chối trả thuế tại các tỉnh; bắt buộc lao động nô lệ trên các công trình xây dựng đường sá, hầm mỏ và các nhà máy tại Triều Tiên. Sau đó Nhật Bản còn mở rộng thêm nữa lao động nô lệ Triều Tiên tại Nhật Bản và những vùng lãnh thổ họ chiếm đóng bằng cách đưa lao động nô lệ tới các vùng đó.

lịch sử hàn quốc
Người dân Hàn Quốc bị bắt trong cuộc cuộc Cách mạng 1 tháng 3 năm 1919

Sau khi Hoàng đế Triều Tiên Cao Tông qua đời tháng 1 năm 1919, với tin đồn về sự đầu độc, những cuộc tuần hành đòi độc lập chống lại những kẻ xâm lược Nhật Bản diễn ra trên khắp cả nước ngày 1 tháng 3 năm 1919 (Phong trào mùng 1 tháng 3 (Samil)). Phong trào này đã bị đàn áp bằng vũ lực và khoảng 7.000 người đã bị cảnh sát và binh lính Nhật giết hại. Một con số ước tính 2 triệu người đã tham gia vào các cuộc tuần hành hòa bình, ủng hộ giải phóng. (Những ghi chép của Nhật Bản đưa ra con số chưa tới nửa triệu người). Nhiều tín đồ Thiên chúa giáo Triều Tiên, gồm toàn bộ làng Jeamri, đã bị đóng đinh hay bị thiêu sống tại các nhà thờ khi họ đấu tranh cho sự độc lập của Triều Tiên. Phong trào này một phần có ảnh hưởng từ bài diễn văn năm 1919 của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson, tuyên bố ủng hộ quyền tự quyết và sự chấm dứt quyền cai quản thuộc địa của người châu Âu. Wilson không đưa ra lời bình luận nào về nền độc lập của Triều tiên, có lẽ một phái ủng hộ Nhật Bản tại Hoa Kỳ tìm cách mở những con đường thương mại vào Trung Quốc qua bán đảo Triều Tiên.

Chính phủ Lâm thời của Cộng hòa Triều Tiên đã được thành lập tại Thượng Hải, Trung Quốc, sau Phong trào mùng 1 tháng 3, chính phủ này phối hợp với các phong trào giải phóng và kháng chiến trong nước chống lại sự kiểm soát của Nhật Bản. Một số thắng lợi của Chính phủ Lâm thời gồm Trận Chingshanli năm 1920 và cuộc phục kích vào giới lãnh đạo quân sự Nhật tại Trung Quốc năm 1932. Chính phủ Lâm thời được coi là chính phủ trên danh nghĩa của nhân dân Triều Tiên trong giai đoạn từ 1919 đến 1948, và tính hợp pháp của nó đã được ghi nhận trong lời mở đầu hiến pháp Hàn Quốc.

Những cuộc nổi dậy chống Nhật Bản sau đó, như cuộc nổi dậy toàn quốc của sinh viên tháng 11 năm 1929, đã dẫn tới việc tăng cường quản lý quân sự năm 1931. Sau khi Chiến tranh Trung – Nhật năm 1937 và Thế chiến thứ II bùng nổ Nhật Bản đã tìm cách tiêu diệt sự hiện diện của Triều Tiên với tư cách một quốc gia. Việc thờ cúng tại các miếu thờ Shinto Nhật Bản trở thành bắt buộc. Chương trình học được sửa đổi triệt để để loại trừ việc dạy học bằng tiếng Triều Tiên và lịch Triều Tiên. Sự tiếp nối của văn hóa Triều Tiên bắt đầu bị coi là bất hợp pháp. Văn hóa và kinh tế Triều Tiên đã bị hủy hoại đáng kể. Ngôn ngữ Triều Tiên bị cấm đoán và người Triều Tiên bị buộc phải chấp nhận những cái tên Nhật Bản. Nhiều đồ vật thủ công văn hóa Triều Tiên bị phá hủy hay bị đưa sang Nhật Bản. Tới ngày nay, những đồ thủ công giá trị của Triều Tiên thường hiện diện trong các bảo tàng Nhật Bản hay nằm trong những bộ sưu tập cá nhân. Báo chí bị cấm xuất bản bằng tiếng Triều Tiên và việc nghiên cứu lịch sử Triều Tiên cũng bị cấm đoán tại các trường đại học, sách sử Triều Tiên bị đốt, phá hủy hay bị cấm đoán. Theo một cuộc điều tra do Chính phủ Hàn Quốc tiến hành, 75.311 tài sản văn hóa đã bị chiếm đoạt khỏi Triều Tiên. Nhật Bản sở hữu 34.369, Hoa Kỳ 17.803.

Một số người Triều Tiên đã rời bán đảo Triều Tiên tới Mãn Châu và Primorsky Krai. Người Triều Tiên tại Mãn Châu đã thành lập những nhóm kháng chiến được gọi là Dongnipgun (Quân đội Độc lập) họ thường xuyên xâm nhập qua biên giới Triều Tiên-Trung Quốc, tiến hành chiến tranh du kích với các lực lượng Nhật Bản. Những đội quân du kích đã tập hợp với nhau trong thập niên 1940 để trở thành Quân đội Giải phóng Triều Tiên và đội quân này đã tham gia vào hoạt động đồng minh tại Trung Quốc và nhiều khu vực ở Đông Nam Á. Hàng chục nghìn người Triều Tiên cũng đã gia nhập Quân đội Giải phóng Nhân dân và Quân đội Cách mạng Quốc gia.

Trong Thế chiến thứ II, người Triều Tiên đã bị buộc phải ủng hộ Nhật Bản. Hàng chục nghìn nam giới bị bắt tham gia quân đội Nhật Bản. Khoảng 200.000 cô gái và phụ nữ, chủ yếu từ Triều Tiên và Trung Quốc, bị bắt làm việc như những nô lệ tình dục, theo lối nói hoa mỹ là “Phụ nữ giải trí”.

9. Thời kỳ hiện đại

9.1 Giải phóng, chia cắt Bắc-Nam và thành lập Dân Quốc

Thời kỳ Đế quốc Nhật Bản thống trị Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945 chấm dứt cùng với Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1945, Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền. Liên bang Xô viết chiếm đóng miền bắc cho đến vĩ tuyến 38 và Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về phía nam. Hoa Kỳ và Liên Xô sau đó đã không thể đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên.

Vào tháng 11 năm 1947, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã đề ra một giải pháp tiến hành tổng bầu cử tại Triều Tiên dưới sự hỗ trợ của Ủy ban Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, các chính phủ lâm thời tại 2 miền Triều Tiên đã khước từ việc tuân theo giải pháp này. Hội đồng Liên Hiệp Quốc sau đó đã đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử tại các địa phương với sự giúp đỡ của Ủy ban Liên Hiệp Quốc. Những cuộc bầu cử đầu tiên được tiến hành riêng rẽ vào ngày 10 tháng 5 năm 1948, tại những tỉnh nằm ở phía nam vĩ tuyến 38. Vĩ tuyến này đã trở thành đường chia cắt bán đảo Triều Tiên thành hai miền nam và bắc Triều Tiên.

Điều này dẫn tới việc thành lập các chính phủ riêng biệt ở miền bắc và miền nam, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở phía bắc và Đại Hàn Dân Quốc ở phía nam, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên.

Căng thẳng tăng lên giữa hai chính phủ ở miền bắc và miền nam cuối cùng dẫn tới cuộc Chiến tranh Triều Tiên, khi ngày 25 tháng 6 năm 1950, Quân đội Nhân dân Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, cáo buộc quân đội miền nam đã vượt qua trước, và tấn công – Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn Đại Hàn Dân Quốc, còn đứng đằng sau Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là Liên Xô và Trung Quốc. Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953, khi lực lượng Liên Hiệp Quốc và Quân đội Nhân dân Triều Tiên cùng Chí nguyện quân Trung Quốc ký kết Thoả thuận đình chiến Chiến tranh Triều Tiên. Vùng phi quân sự Triều Tiên phân chia hai nước, và bán đảo Triều Tiên bị chia cắt cho đến ngày nay.

Hơn 3 triệu người đã thiệt mạng hoặc bị thương và hàng chục triệu người khác bị mất nhà cửa hoặc vĩnh viễn chia lìa những người thân trong gia đình trong cuộc chiến tranh tàn khốc này.

lịch sử hàn quốc
Ngôi làng bị tàn phá trong cuộc chiến tranh Triều Tiên

Sau đó, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thống nhất đất nước trên cơ sở lập luận “một Triều Tiên”, không công nhận chính phủ Hàn Quốc và chọn con đường thống nhất đất nước bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hàn Quốc cũng coi chính phủ của mình là có chủ quyền hợp pháp trên toàn bán đảo Triều Tiên và không công nhận chính phủ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng này khiến cho quá trình hòa giải giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến tận thập niên 1960. Đến thập niên 1970 quan hệ hai bên dần được cải thiện. Hai bên Triều Tiên đã chính thức công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991, cả hai nước được công nhận để chính thức gia nhập Liên Hiệp Quốc cùng một lúc. Hàn Quốc đã đầu tư kinh tế và là nước chủ yếu viện trợ lương thực giúp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990 thông qua chương trình lương thực Thế giới WEP của Liên hiệp quốc.

lịch sử hàn quốc
Park Geun-hye – con gái của Tổng thống Park Chung-hee và là nữ tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc.

Năm 1948, được sự hậu thuẫn từ phía chính phủ Hoa Kỳ, Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) – một chính trị gia từng du học tại Hoa Kỳ đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử ở khu vực phía nam bán đảo Triều Tiên và trở thành vị tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc. Lý Thừa Vãn sau khi lên nắm quyền lực đã cho thực thi một chính sách cai trị độc tài, đàn áp quyết liệt, thẳng tay những người cánh tả, thậm chí còn sát hại không ít nhân vật, chính khách bất đồng chính kiến. Đồng thời, bộ máy quản lý đất nước do ông xây dựng lại bị nạn tham nhũng đục khoét, tàn phá nặng nề, kinh tế đất nước phát triển chậm chạp. Chính vì thế nên sang đến năm 1960, Lý Thừa Vãn phải đối mặt với làn sóng bất bình cực lớn của người dân. Cuối cùng, ông phải rời bỏ nhiệm sở, lên máy bay chạy sang bang Honolulu (Hoa Kỳ) và sống tị nạn tại đây cho tới cuối đời. Cho tới nay, dư luận ở Hàn Quốc vẫn đánh giá về Lý Thừa Vãn rất tiêu cực.

9.2 Thời kỳ độc tài quân sự (1961-1988)

Chính phủ kế nhiệm của Chang Myon bị lật đổ sau cuộc đảo chính của tướng Park Chung-hee vào ngày 16 tháng 5 năm 1961. Năm 1963, Park Chung-hee chính thức trở thành tổng thống và sau đó trở thành nhà độc tài thứ 2 tại Hàn Quốc.

Thông qua hoạt động của “Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia”, Park Chung-hee đã giải tán Quốc hội và các đảng phái chính trị đối lập hoạt động, đồng thời thẳng tay đàn áp các phong trào chống đối. Park Chung-hee ban hành các sắc lệnh cấm công nhân mít tinh, biểu tình, diễu hành. Ông còn cài cắm nhân viên thân chính phủ bên trong các tổ chức công đoàn của công nhân để giám sát và kìm hãm phong trào đấu tranh của họ. Quân đội Hàn Quốc được sử dụng như đạo quân lê dương đánh thuê cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, và cũng là lực lượng chính tiến hành các vụ đàn áp, bắt bớ và do thám trong nước theo mệnh lệnh của Park Chung Hee.

Trong suốt thập niên 1960, chính phủ của Park Chung-hee có xu hướng đàn áp thô bạo ngày càng gia tăng. Năm 1971, Park Chung-hee đã ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia “dựa trên thực tế nguy hiểm của tình hình quốc tế”. Tới tháng 10 năm 1972, ông lại khởi xướng một cuộc đảo chính để tự giải thể quốc hội và đình chỉ hiến pháp, dọn đường để bản thân lên nắm quyền lực thông qua bản hiến pháp Duy Tân vào tháng 11 và sau đó là một cuộc trưng cầu dân ý bị đánh giá, chỉ trích là gian lận nặng nề, theo đó chấm dứt bầu cử trực tiếp và chính thức suy tôn Park Chung-hee làm ‟Tổng thống trọn đời”. Park bị chỉ trích là một nhà độc tài quân sự tàn nhẫn, thế nhưng nền kinh tế Hàn Quốc đã được cải thiện rất đáng kể dưới nhiệm kỳ của Park. Chính phủ của ông đã phát triển một hệ thống đường cao tốc trên toàn quốc, hệ thống tàu điện ngầm Seoul và đặt nền tảng to lớn, vững chắc cho sự chuyển biến thần kỳ, mạnh mẽ của đất nước Hàn Quốc trong những thập niên sau đó.

Ngày 16 tháng 10 năm 1979, tại Trường Đại học Busan, một nhóm sinh viên đã xuống đường kêu gọi chấm dứt ‟chế độ độc tài”. Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan rộng, buổi tối hôm đó đã có tới 50.000 người tụ tập ở phía trước của hội trường thành phố Busan. Trong hai ngày tiếp theo, một số văn phòng công cộng đã bị tấn công và khoảng 400 người biểu tình đã bị bắt giữ. Vào ngày 18 tháng 10, chính phủ Park Chung Hee tuyên bố thiết quân luật tại Busan. Thế nhưng các cuộc biểu tình đã lan tới thành phố Masan, đặc biệt là ở Trường Đại học Tổng hợp Kyungnam. Bạo lực leo thang với các cuộc tấn công vào các đồn cảnh sát và trụ sở các cơ quan của đảng cầm quyền trong thành phố. Khủng hoảng xã hội đã khiến nội bộ lực lượng cầm quyền bị rạn nứt. Ngày 26 tháng 10 năm 1979, Park Chung-hee đã bị bắn chết bởi Kim Jae-gyu, đương kim Giám đốc cơ quan tình báo quốc gia Hàn Quốc (NIS). Sau đó Kim Jae-gyu đã bị tử hình nhưng cho đến tận ngày nay, một Uỷ ban đặc biệt của chính phủ vẫn phải tiếp tục thảo luận về việc có nên coi Kim Jae-gyu là người có công cho quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc hay không.

Thời đại Park Chung-hee kết thúc trong bạo lực và bất ổn xã hội. Một chính phủ tạm thời được thành lập, đất nước bị đặt trong tình trạng thiết quân luật. Bản thân Park Chung-hee chết do bị ám sát bởi một quan chức thân tín phản bội. Sự nghiệp chính trị của ông cũng bị hoen ố vì độc tài và ngày nay, nhiều người Hàn Quốc căm ghét Park Chung Hee dù ông có công rất lớn trong việc xây dựng và tái thiết lại đất nước. Khi Roh Moo-hyun lên làm Tổng thống vào năm 2003, chính phủ vẫn phải tiếp tục ban hành các đạo luật mới và thành lập các uỷ ban điều tra về tình trạng bạo lực dưới thời Park Chung-hee. Tuy vậy, trong một cuộc khảo sát của Viện nghiên cứu và phân tích thông tin Gallup vào năm 2015 tại Hàn Quốc, Park Chung-hee đã được bình chọn là Tổng thống vĩ đại nhất trong lịch sử nước này (với tỉ lệ bình chọn là 44%).

lịch sử hàn quốc
Thi thể các nạn nhân của vụ thảm sát Gwangju

Năm 1980, Chun Doo-hwan được một hội đồng bầu cử bầu lên làm tổng thống. Ngày 18 tháng 5 năm 1980, tại thành phố Gwangju – thủ phủ của tỉnh Jeolla Nam khi đó – đã xảy ra vụ nổi dậy Gwangju khi người dân địa phương đánh cướp kho vũ khí của các trạm cảnh sát địa phương để chống lại cảnh sát chính phủ của Chun Doo-hwan sau khi lực lượng này đàn áp một cuộc biểu tình ôn hòa đòi cải cách nền dân chủ của sinh viên địa phương. Quân đội Hàn Quốc với cả vũ khí sát thương, vòi rồng, xe tăng, xe bọc thép đã được điều động đến, 4 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm 1980, quân đội từ 5 hướng tiến vào trung tâm thành phố và đánh bại hoàn toàn lực lượng dân quân chỉ trong vòng 90 phút. Trong sự kiện này, quân đội Hàn Quốc được cho là đã nổ súng bắn chết khoảng 1.000 tới 2.000 thường dân.

Sau khi đàn áp hoàn toàn cuộc nổi dậy của người dân trong cuộc Thảm sát Gwangju, Chun Doo-hwan bắt đầu tiến hành kiểm soát đất nước một cách chặt chẽ hơn, ông ta loại bỏ hoàn toàn các chính trị gia đối lập khỏi chính trường, và thanh lọc xã hội theo quy mô lớn. Đồng thời, chính phủ Hàn Quốc thiết lập một cơ sở đào tạo quân sự đặc biệt “Samcheong Education Troops”, để tiến hành chương trình “giáo dục thanh lọc”. Khoảng hơn 40 nghìn người đã bị bắt đưa đến các cơ sở của Samcheong Education Troops. Số liệu thống kê về sau cho thấy có khoảng 54 người đã bị giết trong quá trình giam giữ và 397 người bị chết sau đó. Vào năm 1986, Chun Doo-hwan ra lệnh bắt giữ và tra tấn nhiều nhà hoạt động, và rất nhiều tổ chức bị đàn áp như Liên minh Dân chủ Thống nhất và Phong trào Nhân dân.

Vào tháng 1 năm 1987, một vụ tra tấn của đã dẫn tới cái chết của Park Jong-cheol, sinh viên của trường Đại học Quốc gia Seoul. Đầu năm 1987, người dân Hàn Quốc lại bắt đầu nổi dậy sau cái chết của sinh viên họ Park. Họ tổ chức hàng loạt các cuộc bạo động lớn để phản đối chính sách bắt bớ, thủ tiêu và tra tấn tàn bạo của chế độ Chung và đồng thời tiếp tục yêu cầu tiến hành sửa đổi Hiến pháp. Đây cũng chính là sự khởi đầu cho “Cuộc Nổi dậy Dân chủ Tháng Sáu”, từ ngày 26 đến ngày 29, có đến hơn 1,4 triệu người đã tham gia cuộc “Tuần hành Hòa bình Vĩ đại của Nhân dân”, được tổ chức tại 34 thành phố và 4 tỉnh, họ hô to khẩu hiệu “Bãi bỏ hiến pháp xấu xa” và “Xóa bỏ chế độ độc tài”. Dưới áp lực ấy, chính quyền Chun Doo-hwan đã buộc phải sửa đổi Hiến pháp, ban hành bản Hiến pháp mới vào ngày 29 tháng 10 năm 1987. Mặc cho tội ác thảm sát của mình, Chun Doo-hwan vẫn nắm vị trí cao nhất trong bộ máy quyền lực ở Hàn Quốc cho tới tận năm 1988. Năm 1996, ông bị chính phủ mới kết tội tham nhũng, hối lộ, ra lệnh thảm sát và bị kết án tử hình (sau đó được giảm xuống còn chung thân, tuy vậy ông ta nhanh chóng được Tổng thống Kim Young-sam ân xá vào ngày 22 tháng 12 năm 1997).

9.3 Chính phủ dân sự (1992-nay)

Các cuộc nổi dậy đã để lại dấu ấn to lớn cho sự ra đời của chính phủ dân sự vào năm 1992 với đường lối đối ngoại mềm mỏng hơn rất nhiều. Trước đó, vào năm 1987, hiến pháp Hàn Quốc đã được sửa đổi, theo đó, người dân lại được quyền trực tiếp bầu ra tổng thống. Sự kiện này đánh dấu quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ của Hàn Quốc. Thủ đô Seoul của Hàn Quốc đã được chọn làm nơi tổ chức Thế vận hội Olympic năm 1988, một kỳ Thế vận hội vô cùng thành công và đã thúc đẩy đáng kể vị thế quốc tế của quốc gia này. Hàn Quốc chính thức được mời trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc vào năm 1991.

lịch sử hàn quốc
Tổng thống Kim Dae-jung, chủ nhân giải Nobel Hòa bình năm 2000 vì đã thúc đẩy nền dân chủ và nhân quyền ở Hàn Quốc và Đông Á và các chính sách hòa giải với Bắc Triều Tiên, ông đôi khi được gọi là “Nelson Mandela của châu Á”.

Các đời tổng thống tiếp theo là tướng Roh Tae-woo (1987) và Kim Young-sam (1992). Vị tổng thống thứ sáu là Roh Tae-woo cũng bị kết án vì tội hối lộ, tham nhũng. Năm 1997, Tổng thống Kim Dae-jung được trao giải Nobel hoà bình vì những nỗ lực của ông trong việc bình thường hóa quan hệ với CHDCND Triều Tiên. Vào tháng 6 năm 2000, một hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưỡng, thủ đô của CHDCND Triều Tiên, hội nghị là thành quả tích cực sau nhiều năm Hàn Quốc thực thi “Chính sách Ánh dương” với CHDCND Triều Tiên do Tổng thống Kim Dae-jung đề xướng. Cuối năm đó, ông Kim đã nhận được giải thưởng Nobel Hòa bình do Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao tặng, giải thưởng nhằm vinh danh cho những nỗ lực to lớn, thiết thực của ông vì nền hòa bình lâu dài trên bán đảo Triều Tiên. Năm 2003 học trò của ông, Roh Moo-hyun kế nhiệm chức Tổng thống Hàn Quốc. Thế nhưng sau đó, đến lượt Roh Moo-hyun cũng phải đối mặt với lời buộc tội tham nhũng, và ông Roh tự sát vào ngày 23 tháng 5 năm 2009 bằng cách nhảy xuống từ một mỏm núi khi các cuộc điều tra đang tiếp diễn, do vậy nhiều người nghi ngờ vụ tự sát của ông là do sức ép từ các thế lực khác.

Sau đó là ông Lee Myung-bak làm tổng thống trong giai đoạn 2008-2013. Năm 2018, ông Lee bị bắt giam do bị tòa án cáo buộc ít nhất 12 tội danh, trong đó có việc nhận hối lộ 11 tỷ won (tương đương 10,2 triệu USD) của Cơ quan Tình báo nhà nước và các doanh nghiệp Hàn Quốc. Bên cạnh đó, còn là những cáo buộc về tội danh trốn thuế và chiếm đoạt 35 tỷ won từ một công ty mà ông Lee Myung-bak bí mật sở hữu. Vào tháng 3.2019, ông Lee được tại ngoại vì những lo ngại về sức khỏe. Tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 2 năm 2020, tòa án quận trung tâm Seoul đã tuyên án ông Lee Myung-bak 17 năm tù và phạt tiền 13 tỷ won (tương đương 11 triệu USD).

Tiếp đến là Park Geun-hye (con gái của cố Tổng thống – nhà độc tài Park Chung-hee), bà là nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại đồng thời là vị Tổng thống dân cử đầu tiên tại châu Á. Tuy nhiên, tới đầu năm 2017, đến lượt bà Park Geun-hye cũng bị Quốc hội nước này phế truất và bắt giam với các cáo buộc rằng bà Park đã tiết lộ bí mật quốc gia, nhận hối lộ, để người không có bất kỳ chức vụ, thẩm quyền gì là bà Choi Soon-sil (bạn thân của bà Park) can thiệp bất hợp pháp vào các tài liệu mật cũng như các công việc nội bộ của chính phủ, lạm quyền và tham nhũng.

Như vậy, tính đến năm 2018, trong số 11 Tổng thống Hàn Quốc (không tính các quyền Tổng thống chỉ tạm đảm nhiệm chức vụ trong mấy tháng do khủng hoảng chính trị), đã có một người bị ám sát, 1 người tự sát do bị điều tra, 1 người bị đảo chính và phải chạy ra nước ngoài tị nạn, 4 người khác bị bắt giam do các tội danh liên quan đến tham nhũng, nhận hối lộ.

Tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên là một chủ đề chính trị đang được bàn luận ở Hàn Quốc hiện nay, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một hiệp định hoà bình nào được ký kết. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ hoặc phát biểu ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có thể bị kết án lên tới 10 năm tù giam. Tổng thống Roh Moo-hyun đã nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại điều đó vẫn chưa được thực thi.

10. Quá trình khôi phục và phát triển nền kinh tế

10.1 Chính sách độc tài khắc khổ

Sau Chiến tranh Triều Tiên, vào giai đoạn lịch sử trước khi Tướng Park Chung-hee lên nắm quyền vào năm 1961, kinh tế Hàn Quốc khá nghèo nàn với thu nhập bình quân đầu người ít hơn $100 USD mỗi năm. Hàn Quốc thời điểm đó được xếp hạng là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Ở giai đoạn này, kinh tế Hàn Quốc cơ bản phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu là từ Mỹ. Khi đó, viện trợ của Chính phủ Mỹ chiếm tới gần 80% tổng ngân sách của chính phủ và chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của Hàn Quốc. Mặc dù cho một số khu vực của đất nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa từ thời kỳ chiếm đóng của Nhật Bản, nhưng phần lớn chủ yếu tập trung tại miền Bắc và nhìn chung, vào đầu thập niên 60, Hàn Quốc vẫn là một nước thuần nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển hơn về mọi mặt so với nền kinh tế của CHDCND Triều Tiên – vốn rất giàu có về tài nguyên thiên thiên cũng như được Trung Quốc, Liên Xô và khối các quốc gia Xã hội Chủ nghĩa giúp đỡ.

Để tái tạo động lực phát triển kinh tế, Park Chung-hee đã thành lập Hội đồng Tối cao phụ trách Tái thiết Quốc gia, mang “kỷ luật quân đội” và chính sách cải cách kinh tế – xã hội kiểu “độc tài” – áp dụng trên toàn quốc. Một trong những mục tiêu chính của tướng Park là chấm dứt tình trạng lạc hậu, nghèo đói ở Hàn Quốc và biến đất nước này từ một nền kinh tế thuộc Thế giới thứ ba trở thành một cường quốc kinh tế hàng đầu của thế giới, ông phát biểu cũng như đặt câu hỏi với các tướng lĩnh cấp dưới rằng: “Chúng ta có nghĩa vụ, trách nhiệm là phải chấm dứt sự nghèo đói và lạc hậu ở Hàn Quốc, để cho các thế hệ sau không còn phải sống như những gì chúng ta đang trải qua bây giờ, làm thế nào để một đất nước nghèo như Hàn Quốc, có cùng hoàn cảnh lịch sử cũng như vốn không được chuẩn bị đầy đủ cho kỷ nguyên sắp tới, lại có thể giàu mạnh được như Tây Đức bây giờ?”.

Ngay sau khi thực hiện thành công cuộc đảo chính để lên nắm chính quyền vào tháng 7 năm 1961, tướng Park Chung-hee tuyên bố rằng ông sẽ tiến hành “dọn rác” để làm sạch, thanh lọc xã hội. Ông đã trực tiếp chỉ đạo các lực lượng cảnh sát, quân đội thực hiện hàng ngàn vụ đàn áp, bắt bớ và tái khẳng định quyết tâm của mình khi diễn thuyết trước hơn 20.000 sinh viên của Đại học Seoul rằng: “Toàn dân Hàn Quốc sẽ phải thắt lưng buộc bụng trong vòng 5 năm, phải cắn răng mà làm việc nếu muốn được sống còn. Nếu làm được như vậy thì trong vòng 10 năm tới, chúng ta sẽ tạo ra được một nền kinh tế đứng hàng đầu ở khu vực Đông Á, và sau 20 năm, chúng ta sẽ trở thành Cường quốc kinh tế trên thế giới. Chúng ta sẽ khiến cho thế giới phải ngưỡng mộ, phải nể phục, tôn trọng chúng ta… Hôm nay, có thể vẫn còn có một số người dân bất đồng ý kiến với tôi, nhưng xin mọi người hãy hiểu cho rằng, tổ quốc của chúng ta quan trọng hơn quyền lợi cá nhân. Tôi không hề muốn mị dân, tôi sẽ cương quyết ban hành một chính sách khắc khổ. Tôi sẽ đem bắn tất cả những ai ăn cắp của công, dù chỉ một đồng. Tôi sẵn lòng chết cho lý tưởng mà mình đã đề ra”.

Một trong những việc đầu tiên ông làm là đem tử hình 24 quan chức và doanh nhân vì tội tham nhũng. Toàn xã hội “thắt lưng buộc bụng”, trong các công ty, mọi người đều phải làm việc hết sức mình, ai làm không chăm sẽ bị phê bình, mắng nhiếc trước mặt mọi người, thậm chí, trong văn hóa, nội quy của các công ty, doanh nghiệp Hàn Quốc thời bấy giờ có quy định “nếu như nhân viên mắc lỗi, làm sai hoặc lười biếng thì cấp trên có quyền tát, bạt tai để làm gương mà người đó không được phép tỏ thái độ hay phản đối”. Một số ngành do quân đội xây dựng, khi người lính làm việc không chăm, cấp trên có quyền trừng phạt bằng đòn roi. Những du học sinh trước khi ra nước ngoài học tập phải cam kết không ở lại nước ngoài mà phải về nước phục vụ dù muốn hay không, những ai đã học xong mà không quay về nước thì gia đình họ sẽ phải chịu những hình phạt nặng.

lịch sử hàn quốc
Tổng thống Park Chung-hee đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển nhanh chóng nền kinh tế Hàn Quốc thông qua công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu.

Park chuyển chiến lược của nền kinh tế đất nước từ công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Park thành lập một Ủy ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) để điều hành nền kinh tế đất nước. Lấy những “kế hoạch kinh tế 5 năm” của Liên Xô làm kiểu mẫu, Park đã đề ra Kế hoạch 5 năm đầu tiên vào năm 1962, nhiệm vụ chủ chốt của Kế hoạch 5 năm đầu tiên là tập trung phát triển các ngành công nghiệp nhẹ nhằm mục đích xuất khẩu. Ông tuyên bố thành phố Ulsan là một “khu vực phát triển công nghiệp đặc biệt” của đất nước. Ngay sau đó, Hyundai – một trong những tài phiệt lớn đầu tiên của Hàn Quốc đã nhanh chân tận dụng vị thế đặc biệt của Ulsan để biến thành phố này thành nơi đặt các nhà máy chính của mình.

Hầu hết các nhà sử học đều coi Kế hoạch 5 năm đầu tiên là điểm cất cánh của nền kinh tế Hàn Quốc. Từ năm 1962 đến năm 1966, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Hàn Quốc đạt tới 7,6%. Sản lượng xuất khẩu tăng trên 30% mỗi năm, sản lượng sản xuất tăng trên 15% mỗi năm. Vì các chính sách phát triển kinh tế của Park được thúc đẩy bởi chủ nghĩa dân tộc và mong muốn giành quyền tự chủ cho đất nước của mình, do đó Park chủ trương không để cho nền kinh tế của Hàn Quốc bị phụ thuộc và chi phối bởi nước ngoài. Do đó, ban đầu ông đã ra sức hạn chế đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Hàn Quốc. Tuy nhiên, theo lời khuyên của các nhà kinh tế, ông bắt đầu dần dần nới lỏng những hạn chế này. Năm 1966, Đạo luật kích thích vốn đầu tư nước ngoài được chính phủ Park thông qua đã cung cấp những ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài và hợp lý hóa quy trình đầu tư vào Hàn Quốc. Kế hoạch năm năm lần thứ hai (1967-1971) cũng đã nhấn mạnh hơn vào việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và cải thiện cơ sở hạ tầng trong nước.

Vào năm 1972, Park tuyên bố thiết quân luật và ban hành một hiến pháp mới mang lại cho ông ta quyền lực tuyệt đối tới mức gần như trở thành một nhà độc tài. Sử dụng quyền lực của mình, Park đã chuyển hướng nền kinh tế của đất nước sang tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp nặng và hóa chất. Từ năm 1973, nền kinh tế Hàn Quốc đặt trọng tâm chủ yếu vào 6 ngành: thép, hóa chất, luyện kim, chế tạo máy, đóng tàu và điện tử. Giai đoạn phát triển công nghiệp này tập trung tại các thành phố nhỏ nằm ở phía đông nam của đất nước.

Kế hoạch phát triển kinh tế của Park Chung-hee là dựa vào xuất khẩu nhờ giá thành thấp. Chi phí sản xuất được cố tình hạ thấp đến mức tối thiểu bằng cách toàn dân phải cam chịu gian khổ, tiêu dùng hết sức tiết kiệm. Để người lao động có thể sống với mức lương rất thấp, chính quyền đã áp dụng biện pháp giữ giá những sản phẩm nông nghiệp ở mức rất thấp. Cuối thập niên 70, các tập đoàn công nghiệp của Hàn Quốc đã sản xuất được máy thu hình màu, nhưng chỉ để xuất khẩu, trong nước chỉ dùng TV trắng đen. Các sản phẩm xa xỉ như mỹ phẩm, xe hơi cao cấp, quần áo thời trang… đều bị hạn chế nhập khẩu ở mức tối đa để nguồn vốn quý giá không chảy ra nước ngoài.

Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của Hàn Quốc cũng phải trả giá bằng sự hy sinh rất lớn của tầng lớp lao động. Quyền của người lao động bị hạn chế tối đa vì từ năm 1962, chính sách toàn quốc thắt lưng buộc bụng được áp dụng triệt để, không có ngoại lệ, từ Tổng thống, quan chức đến dân chúng. Người dân, người lao động Hàn Quốc thời kỳ đó phải làm việc cật lực, nặng nhọc và triền miên, nhưng sống rất kham khổ. Hàng tuần mỗi người dân đều phải nhịn ăn một bữa, không hút thuốc lá ngoại nhập, không uống cà phê, không mặc quần áo thời trang đắt tiền. Thời gian lao động kéo dài đến 12-14 tiếng mỗi ngày. Điều kiện lao động kém, tiền lương rất thấp. Những phản kháng tự phát của công nhân, nông dân hoặc của dân nghèo thành thị đòi hỏi cải thiện điều kiện sống đều bị chính quyền Park Chung Hee đàn áp không thương tiếc. Như Michael Schuman, một nhà báo nổi tiếng chuyên về kinh tế của thời báo Time (Mỹ) về sau nhận định: “Chế độ Park Chung-hee đã thực hiện quyền kiểm soát nhà nước đối với nền kinh tế một cách tàn bạo vượt xa cả con quỷ Sahashi”.

10.2 Tham chiến tại Việt Nam (1964-1973)

Mặt khác, theo yêu cầu của Mỹ và từ các chính quyền Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Park Chung-hee đã cử khoảng 320.000 quân nhân sang tham chiến cùng với Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam – vừa để nhằm mục đích “nâng cao vị thế quốc gia” sau nội chiến, cũng như đổi lấy những khoản viện trợ từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Ước tính có hơn 5.000 binh lính Hàn Quốc đã chết và khoảng 11.000 lính khác bị thương tật nặng trong cuộc chiến này. Đội quân này cũng gây ra một danh sách dài những tội ác chiến tranh, những vụ thảm sát thường dân Việt Nam bị nghi ngờ là du kích Việt Cộng khi tham chiến và đã bỏ lại nơi đây hàng ngàn đứa con lai sau khi rời đi (phía Hàn Quốc thống kê lính của họ đã giết tổng cộng khoảng 41.000 người Việt Nam, phần lớn là thường dân).

lịch sử hàn quốc
Cuộc thảm sát năm 1968, lính Hàn Quốc gây ra cho người dân Việt Nam

Đổi lại, chính phủ Hoa Kỳ tài trợ mọi khoản chiến phí và trả tiền lương cho lính Hàn Quốc. Tổng cộng Mỹ đã viện trợ hoặc cho Hàn Quốc vay ưu đãi khoảng 10 tỷ USD (tương đương 70 tỷ USD theo thời giá năm 2017) từ năm 1946 tới năm 1978. Trong đó nhiều nhất là trong giai đoạn 1965-1972, khi Hàn Quốc cử lính sang Việt Nam để đánh thuê cho Mỹ: chỉ riêng trong 8 năm này, Hàn Quốc nhận được 5 tỷ USD viện trợ của Mỹ (tương đương 35 tỷ USD theo thời giá 2017), nhiều gấp 3 lần mức viện trợ trong giai đoạn trước. Trong hai năm đầu (1965-1966), thu nhập từ việc đánh thuê cho Mỹ chiếm 40% thu nhập ngoại hối của Hàn Quốc. Một số học giả cho rằng số tiền có được từ cuộc chiến chiếm từ 7-8% GDP của Hàn Quốc trong những năm 1966-1969. Số tiền đánh thuê được chuyển thẳng cho chính phủ Hàn Quốc dưới hình thức “bán công khai” như trợ cấp phát triển quốc phòng, hợp đồng dân sự, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường bởi các đời Tổng thống Lyndon B. Johnson và Richard Nixon.

Theo chân quân đội Hàn Quốc sang Việt Nam, các công ty công nghiệp lớn của nước này thời ấy; như Hyundai; đã tranh thủ tích lũy được những kinh nghiệm quý báu khi tham gia vào việc hoàn thành các dự án xây dựng, vận tải, hậu cần và giao thông cho Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam, điều mà họ đã áp dụng về sau này để giành được nhiều hơn những hợp đồng béo bở ở Trung Đông và nhiều nơi khác trên khắp thế giới.

Nhờ viện trợ và tiền lương của Mỹ trả cho binh lính Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam, kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh chóng. Chỉ trong 10 năm từ 1964 tới 1974, GNP bình quân của Hàn Quốc đã tăng hơn 5 lần (từ 103 USD lên 541 USD). Rất nhiều máu đã đổ khi lính Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam, và nhiều ý kiến khẳng định rằng những tổn thất sinh mạng đó đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc. Sau này, trong bài phát biểu nhân “Ngày tưởng niệm” (6/6/2017), Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã khẳng định rằng: “Nền kinh tế Hàn Quốc đã tồn tại được là nhờ vào sự cống hiến và hy sinh to lớn của những người lính tham gia chiến tranh Việt Nam!”

10.3 Hỗ trợ từ phía Nhật Bản và Hoa Kỳ

Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc. Tướng Park đã quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào năm 1965, một động thái gặp phải sự phản đối gay gắt của người dân Hàn Quốc. Lao động giá rẻ ở trong nước kết hợp với vốn và công nghệ của Nhật Bản đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc. Sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Nhật Bản đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai ở Hàn Quốc, chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Trong vòng mười năm sau đó, thương mại giữa hai nước đã mở rộng hơn mười lần; Từ năm 1962 đến 1979, 60% công nghệ từ nước ngoài của Hàn Quốc là do Nhật Bản cung cấp.

Thị trường Hoa Kỳ cùng với các khoản đầu tư và chuyển giao công nghệ của Nhật Bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển biến thần kỳ của nền kinh tế Hàn Quốc. Kinh tế Nhật Bản cũng là một mô hình hoàn hảo để Hàn Quốc noi theo trong công cuộc phát triển kinh tế. Trong thời kỳ thuộc địa và kể cả sau khi giành được độc lập, người Hàn Quốc đã học hỏi được rất nhiều điều từ người Nhật về những gì mà một quốc gia không thuộc phương Tây có thể làm để công nghiệp hóa và hiện đại hóa thành công. Một nhà kinh tế học người Hàn Quốc đã mô tả chính sách của cộng đồng doanh nghiệp nước này là: “Làm hệt như những gì người Nhật đã làm, nhưng làm điều đó một cách nhanh hơn, hiệu quả và ít tốn kém hơn”.

10.4 Chính sách cải cách văn hóa – xã hội

Park Chung-hee cho rằng, Hàn Quốc trước tiên cần phải phát triển kinh tế vững mạnh rồi sau đó mới có thể có được dân chủ: “Người châu Á sợ hãi đói nghèo hơn là sợ độc tài. Các dân tộc châu Á muốn có bình đẳng kinh tế trước rồi sau đó mới có thể nghĩ đến chuyện xây dựng một cơ chế chính trị công bằng hơn… và, viên ngọc mang tên dân chủ chắc chắn sẽ chẳng bao giờ có thể trở nên rực rỡ, nó là vô nghĩa đối với những người đang đói khát và tuyệt vọng”.

Bằng lý lẽ này, Park Chung-hee sử dụng hệ thống cảnh sát mật để theo dõi và dẹp tan mọi hành vi chống lại ông. Tất cả mọi cá nhân có phát ngôn hoặc hành động chống lại Chính phủ, mọi cuộc biểu tình đòi tăng lương đều bị trấn áp thẳng tay. Park Chung-hee sử dụng luật an ninh chống cộng để bỏ tù và tra tấn bất cứ ai bất đồng chính kiến. Các cuộc biểu tình, hệ thống báo chí và phát ngôn nói chung đều bị kiểm duyệt hà khắc. Các sĩ quan cảnh sát mang thước và chặn thanh niên trên phố để đo tóc và váy của họ. Chính quyền sẽ can thiệp rất thô bạo nếu thanh niên để tóc dài, phụ nữ mặc váy ngắn. Gián điệp, chỉ điểm có mặt khắp mọi nơi, giám sát đến cả trường học. Những người bất đồng chính kiến khó thoát khỏi bị bắt và kết cục là cuộc sống mòn mỏi ở trong tù. Ở Hàn Quốc thời điểm này, nếu một người bị quy là người cộng sản, người đó sẽ mất hết mọi quyền tồn tại trong xã hội. Quy kết và phê phán nhằm vào một chính sách nào đó của chính phủ, chính khách đối lập là mang tư tưởng “Cộng sản chủ nghĩa” là phương cách được chính quyền Park ưa thích và tận dụng rất hiệu quả. Khi một nhà hoạt động xã hội bị bắt, người đó sẽ bị tra tấn dã man để phải thú nhận mình là người cộng sản. Cho đến nay, không một chính trị gia Hàn Quốc nào có thể tạo được một sự uy quyền bao trùm tuyệt đối lên đất nước cũng như khiến cả một thế hệ người dân Hàn Quốc sợ hãi như Park Chung-hee.

Chế độ độc tài quân sự của Park Chung-hee mang tính chất chuyên chế độc đoán, phản dân chủ mạnh mẽ, nhưng cũng không thể phủ nhận những mặt tích cực của chế độ chính trị này đối với việc định hướng diện mạo nền kinh tế và xã hội Hàn Quốc ngày nay. Bên cạnh các biện pháp chính trị, Park Chung-hee sử dụng các yếu tố văn hóa Nho giáo để thúc đẩy phát triển đất nước. Vào đầu những năm 1970, Park Chung-hee dự định dẹp bỏ tất cả những gì gọi là truyền thống để nhanh chóng đạt được hiện đại hóa. “Phong trào xây dựng nông thôn mới” đã đập phá nhiều di sản văn hóa, những truyền thống đều bị coi là “cổ hủ”, “lạc hậu” và “lỗi thời”, cần phải gạt bỏ nhanh chóng để tiến lên hiện đại hóa: “Người Hàn Quốc mắc kẹt với lối sống truyền thống của họ mà không hề biết điều gì đang xảy ra bên ngoài đất nước. Chúng tôi giống như con ếch trong giếng”.

Nhưng về tư tưởng, Park Chung-hee nhận thấy ông không thể đưa ra được một học thuyết chính trị mới nào để thay thế Nho giáo mà nhận ra rằng, không thể không sử dụng những yếu tố tích cực của Nho giáo, trong đó, Trung (trung thành) và Hiếu (hiếu thảo) là giá trị quan xuyên suốt nhiều thế kỷ ở Hàn Quốc. Đã xảy ra nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng giữa các học giả Hàn Quốc về tính hữu dụng của truyền thống, của yếu tố tích cực trong Nho giáo mà kết quả cuối cùng là Park Chung-hee đã đi đến quyết định: “Giá trị quan của Nho giáo về “Trung” và “Hiếu” là nền tảng của xã hội”, những chính sách giáo dục đề cao đạo Khổng được ông ra chỉ thị tiếp tục dạy trong nhà trường và truyền bá sâu rộng trong đời sống nhân dân.

10.5 Thành quả

lịch sử hàn quốc
Hàn Quốc là nước chủ nhà của nhóm G-20 trong Hội nghị Thượng đỉnh Seoul 2010.

Sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này đã cải thiện đáng kể mức sống cho người dân Hàn Quốc. Cuối năm 1965, khoảng 58,7% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng tỷ lệ này đã giảm xuống còn 50,4% vào năm 1970 và 38,4% vào năm 1978. Công nghiệp hóa dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng dân số đô thị của Hàn Quốc, tăng từ 28,3% tổng số năm 1960 lên 54,9% vào năm 1979. Năm 1960, khoảng một phần ba trẻ em từ 12 đến 14 tuổi theo học tại các trường trung học; tỷ lệ đó tăng lên 53,3% vào năm 1970 và 74,0% vào năm 1975. Năm 1960, chỉ có khoảng 19,9% dân số từ 15 đến 17 tuổi đi học; tỷ lệ đó tăng lên 29,3% vào năm 1970 và 40,5% vào năm 1975. Năm 1970, quá trình xây dựng tuyến đường cao tốc Gyeongbu đã được hoàn thành, liên kết Seoul với khu vực phía đông nam của quốc gia và các thành phố cảng lớn như Incheon và Busan. Vào năm 1969, cả nước chỉ có 200.000 máy truyền hình, đến năm 1979 đã có sáu triệu máy truyền hình. Nếu như vào năm 1969, chỉ có 6% hộ gia đình ở Hàn Quốc sở hữu một chiếc TV; thì đến năm 1979, đã có 4/5 hộ gia đình Hàn Quốc sở hữu TV.

Nhờ những biện pháp cứng rắn về chính trị, khắc khổ về kinh tế cũng như sử dụng yếu tố văn hóa, từ thập niên 1960, kinh tế Hàn Quốc phát triển với tốc độ rất nhanh. Tuy nhiên, vào ngày 26 tháng 10 năm 1979, tổng thống Park Chung-hee bất ngờ bị ám sát, sự tăng trưởng thịnh vượng đều đặn của đất nước cũng đột ngột dừng lại, kéo theo đó là một thời kỳ hỗn loạn liên tiếp về chính trị, cộng với sự tăng vọt của giá dầu mỏ trong năm 1979, một vụ thu hoạch lúa thất bát và tỷ lệ lạm phát đáng báo động là 44%, khiến cho nền kinh tế Hàn Quốc phải chịu mức suy thoái lên tới 6% trong năm 1980. Nhưng nền kinh tế đã nhanh chóng phục hồi. Thập niên 1980 chứng kiến tốc độ tăng trưởng GDP cao, đạt đỉnh điểm vào những năm 1986-1988 ở mức 12% mỗi năm, nền kinh tế Hàn Quốc trở thành nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao nhất thế giới, Hàn Quốc thời điểm đó được xếp vào một trong những nước công nghiệp hóa mới (NICs) của thế giới. Những năm kế tiếp, tốc độ tăng trưởng tuy chậm lại, nhưng nền kinh tế Hàn Quốc tiếp tục tăng trưởng nhanh cho đến năm 1996 với tốc độ tăng trưởng trung bình là hơn 10% mỗi năm. Năm 2004, GDP của Hàn Quốc là 680 tỷ USD (Đô la Mỹ), vươn đứng thứ 12 trên thế giới. Giai thoại về sự thành công trong công cuộc phát triển kinh tế của Hàn Quốc được gọi là “Kỳ tích sông Hán”

10.6 Sự hình thành Chaebol

lịch sử hàn quốc
5 Chaebol lớn mạnh nhất Hàn Quốc.

Trong bối cảnh chính trị như vậy, nền kinh tế Hàn Quốc cũng phát triển theo mô hình “Độc tài”. Các Chaebol – tức Tài phiệt, là tên gọi của các đại tập đoàn gia đình lớn của Hàn Quốc. Thông thường tài phiệt là các tập đoàn đa quốc gia, với thành viên bao gồm rất nhiều các doanh nghiệp quốc tế nhưng đều nằm dưới sự điều khiển của một ông chủ nắm quyền hành trên tất cả các cơ sở này. Hiện nay, ở Hàn Quốc có đến hàng chục nhóm tài phiệt như vậy, hầu hết nằm dưới sự điều khiển tuyệt đối của một vài gia tộc. Đến năm 2008, khoảng 80% GDP của Hàn Quốc có nguồn gốc từ các tài phiệt, chỉ riêng Samsung đã chiếm tới 1/5 giá trị xuất khẩu của nước này. Các tài phiệt đóng một vai trò quan trọng trong việc chi phối nền chính trị Hàn Quốc. Ví dụ, vào năm 1988, chủ tịch của tập đoàn Hyundai là ông Jeong Mong-jun đã trúng cử vào Quốc hội Hàn Quốc. Một số lãnh đạo tài phiệt khác cũng trúng cử đại biểu quốc hội thông qua cơ chế đại biểu tỷ lệ.

Các tài phiệt chỉ nắm giữ một phần nhỏ cổ phần nhưng lại có rất nhiều quyền lực và có khả năng kiểm soát tất cả các công ty con. Ví dụ: Samsung chỉ sở hữu 0,5% tài sản của các hãng thuộc quyền, nhưng thực tế thì một tổ chức mẹ có quyền chi phối mọi mặt tất cả các công ty con này. Điều này cho thấy mức độ tuân thủ pháp luật ở các tài phiệt Hàn Quốc là rất thấp. Các tài phiệt duy trì quyền lực của mình thông qua việc sở hữu chéo (cross-holding). Các tài phiệt lũng đoạn nền kinh tế của Hàn Quốc, một số công ty như Hyundai và SK thậm chí có dính líu đến các vụ bê bối liên quan tới các tổng thống như Kim Dae-jung, Roh Moo-hyun.

Từ 1998 đến 2007, Hàn Quốc đã có những tiến bộ trong tiến trình dân chủ hoá, song đôi khi vẫn trượt theo hướng độc tài. Đã có rất nhiều tổ chức phi chính phủ giả hiệu (pseudo-NGOs) hoạt động theo mệnh lệnh của chính quyền, nhiều nhóm cánh hữu, nhiều tổ chức hiện “vẫn tìm cách bảo vệ những quyền ưu tiên mà họ có được từ thời của chế độ độc tài”. Ở Hàn Quốc, quá trình dân chủ hoá diễn ra trong bối cảnh của tăng trưởng kinh tế nhưng không phải là sự phát triển kinh tế trực tiếp thúc đẩy dân chủ hoá. Các phương thức phát triển kinh tế trở nên phản nhân văn và mang nặng tính bóc lột. Người Hàn Quốc hiện nay phải gánh chịu rất nhiều áp lực trong cuộc sống, nhất là về sự thành công, công việc và học tập.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây