Lenin Và Những Cống Hiến Để Đời Cho Nhân Loại

516
lenin

Vladimir Ilyich Lenin là một nhà cách mạng, chính khách, nhà lý luận chính trị người Nga. Ông từng là người đứng đầu chính phủ của nước Nga Xô Viết từ năm 1917 đến năm 1924 và của Liên Xô từ năm 1922 đến năm 1924.

Tóm lược về Lenin

Vladimir Ilyich Lenin (tiếng Nga: Влади́мир Ильи́ч Ле́нин, phiên âm tiếng Việt: Vla-đi-mia I-lích Lê-nin, tên khai sinh là Vladimir Ilyich Ulyanov (tiếng Nga: Влади́мир Ильи́ч Улья́нов), còn thường được gọi với tên V. I. Lenin hay N. Lenin, có các bí danh: V.Ilin, K.Tulin, Karpov…; 22 tháng 4 [lịch cũ 10 tháng 4] năm 1870 năm 1870 – 21 tháng 1 năm 1924) là một nhà cách mạng, chính khách, nhà lý luận chính trị người Nga. Ông từng là người đứng đầu chính phủ của nước Nga Xô Viết từ năm 1917 đến năm 1924 và của Liên Xô từ năm 1922 đến năm 1924. Dưới sự lãnh đạo của ông, Nga, và sau đó là Liên Xô, trở thành một nhà nước độc đảng theo chủ nghĩa Marx-Lenin do Đảng Cộng sản Liên Xô điều hành. Ông đã phát triển một biến thể của chủ nghĩa Marx được gọi là chủ nghĩa Lenin.

Ông sinh ra trong một gia đinh thuộc tầng lớp trung lưu ở thành phố Simbirsk, Lenin đã sớm đón nhận quan điểm chính trị cách mạng xã hội chủ nghĩa sau vụ xử tử anh trai ông năm 1887. Bị đuổi khỏi trường Đại học hoàng gia Kazan vì tham gia vào những phong trào chống lại chính phủ Sa hoàng của Đế quốc Nga, ông dành những năm sau đó học ngành luật. Lenin tới Saint Petersburg vào năm 1893 và trở thành một thành viên Marxist cao cấp. Trong năm 1897, Lenin bị bắt vì hoạt động chống chính phủ Sa hoàng và bị lưu đày tới Shushenskoye trong 3 năm, nơi ông kết hôn với Nadezhda Krupskaya. Sau cuộc lưu đày, Lenin tới Tây Âu, nơi ông trở thành một nhà lí luận nổi bật trong Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga. Trong năm 1903, ông đóng một vai trò quan trọng trong sự chia tách Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga, lãnh đạo nhóm Bolshevik chống lại nhóm Menshevik do Julius Martov lãnh đạo. Lenin khuyến khích các cuộc nổi dậy trong thời gian sau cuộc Cách mạng Nga 1905, ông sau đó tham gia vận động các phong trào cách mạng vô sản rộng khắp châu Âu trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ nhất, điều mà một người theo chủ nghĩa Marx như ông tin sẽ là nguyên nhân cho sự lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa và thay thế nó với chế độ xã hội chủ nghĩa. Sau năm 1917, Cách mạng tháng Hai đã lật đổ Sa hoàng và thành lập Chính phủ lâm thời, ông trở về Nga và đóng vai trò lãnh đạo trong Cách mạng tháng Mười Nga, kết quả là những người Bolshevik giành chiến thắng và thiết lập một nhà nước mới tại nước Nga lúc đó.

Chính phủ Bolshevik ban đầu hợp tác với Đảng Cánh tả Cách mạng Xã hội chủ nghĩa, được bầu bởi các đại biểu Xô-viết và một Hội đồng Lập hiến đa đảng, mặc dù cho đến năm 1918 đã tập trung quyền lực trong Đảng Cộng sản mới. Chính quyền của Lenin phân phối lại ruộng đất cho nông dân nghèo và quốc hữu hóa các ngân hàng cũng như các ngành công nghiệp với quy mô lớn. Nước Nga rút khỏi Chiến tranh thế giới thứ nhất bằng việc kí kết một hiệp ước nhượng bộ một phần lãnh thổ đối với Liên minh Trung Tâm (phe Đức, Áo-Hung,…) và vận động thúc đẩy cách mạng thế giới thông qua Quốc tế cộng sản. Những gián điệp của các nhóm chống Cách mạng đã bị dẹp tan trong cuộc Khủng bố Đỏ. Chính quyền của ông đã đánh bại các đội quân chống Bolshevik (gọi chung là Bạch Vệ) và các lực lượng quân đội nước ngoài can thiệp (Mỹ, Anh, Đức, Nhật,…) trong cuộc Nội chiến Nga từ 1917 đến 1922 và tham gia cuộc chiến tranh Nga – Ba Lan 1919-1921. Nhằm khắc phục sự tàn nặng nề do chiến tranh, nạn đói và những cuộc nổi dậy của người dân, năm 1921 Lenin khuyến khích nền kinh tế phát triển thông qua chính sách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – chính sách kinh tế mới, chính sách này thu được kết quả tốt và giúp đất nước ổn định và phát triển. Một vài quốc gia thuộc Đế quốc Nga cũ đã giành độc lập sau năm 1917, nhưng 3 năm sau được tái thống nhất vào Liên bang Xô viết mới trong năm 1922. Cũng trong năm đó, sức khỏe của Lenin suy yếu, ông mất tại Gorki vào năm 1924, Joseph Stalin kế nhiệm ông trở thành nhân vật lãnh đạo tối cao trong chính phủ Xô viết.

Được xem là một trong những nhân vật quan trọng và ảnh hưởng nhất của thế kỉ 20, Lenin là đối tượng của sự sùng bái tại Liên bang Xô viết sau khi ông qua đời cho đến khi giải thể vào năm 1991. Ông trở thành một biểu tượng tư tưởng, gắn liền với Chủ nghĩa Marx-Lenin mở ra trang sử mới cho cách mạng vô sản thế giới. Bởi vai trò chính trị quá nổi bật, ông cũng là một nhân vật lịch sử để lại nhiều tranh luận, những người ủng hộ coi ông là một nhà cách mạng đã thiết lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử, ủng hộ bình đẳng và phúc lợi xã hội cho toàn dân, mưu cầu quyền lợi cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc và thực thi quyền bình đẳng giữa các sắc tộc, trong khi những nhân vật chống Nhà nước Liên Xô thì cáo buộc ông đã sáng lập một nhà nước đã thực hiện những vụ trấn áp chính trị. Những người cộng sản gọi ông là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, lãnh tụ lỗi lạc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Năm 1998, ông được tạp chí Time đánh giá là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất đến lịch sử thế giới trong thế kỷ 20. Ngày nay ở Nga có 2 tỉnh và 1 thành phố được đặt theo tên ông (tỉnh Leningrad Oblast và tỉnh/thành phố Ulyanovsk)

Những cống hiến của Lênin đối với nhân loại

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác vào thực tiễn nước Nga, dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 đã thắng lợi trọn vẹn. Sự kiện này đã đặt ra nhiệm vụ mới đối với V.I.Lênin – nhiệm vụ lãnh đạo Đảng Cộng sản Nga, nhân dân Nga bảo vệ chính quyền công – nông, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Nga và lãnh đạo cách mạng vô sản đang hình thành và phát triển ở nhiều nước trên thế giới. V.I.Lênin đã dành toàn bộ phần còn lại của cuộc đời thực hiện nhiệm vụ này.

Có thể nói, trong cuộc đời hoạt động cách mạng, V.I.Lênin đã cống hiến cho nhân loại nhiều thành tựu vĩ đại cả về lý luận và thực tiễn.

Về lý luận, V.I.Lênin đã đúc kết toàn bộ chủ nghĩa Mác một cách khoa học, hệ thống, cơ bản và trong khi bảo vệ chủ nghĩa Mác trước sự xuyên tạc của phái dân túy, của những người theo chủ nghĩa Makhơ, theo chủ nghĩa cơ hội, xét lại và luận điệu phản cách mạng của nhiều nhà tư tưởng tư sản khác, V.I.Lênin đã bổ sung nhiều nội dung mang tính chân lý bền vững cho cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, trong đó:

Ở triết học, đấy là những nội dung về thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật, về lý luận nhận thức, về nhân tố chủ quan trong cách mạng xã hội, về vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử, về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về nhà nước, nhà nước chuyên chính vô sản, v.v.

Ở kinh tế học chính trị, V.I.Lênin là người đầu tiên đưa ra kế hoạch đi lên chủ nghĩa xã hội ở quốc gia mà giai cấp vô sản đã giành được chính quyền nhưng tiền đề về kinh tế và văn hóa của chủ nghĩa xã hội chưa đầy đủ. Đó là Chính sách kinh tế mới (NEP) với nhiều thành phần kinh tế mà mục tiêu của nó là phát triển sản xuất để giải phóng người lao động trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến, quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự quản lý của nhà nước chuyên chính vô sản. V.I.Lênin cũng là người xác định nhiệm vụ kinh tế – xã hội cơ bản có ý nghĩa quyết định trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thực hiện xã hội hóa sản xuất trong thực tế với những nhiệm vụ cơ bản là công nghiệp hóa, từng bước đưa nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn thông qua con đường hợp tác hóa đồng thời phải tiến hành cách mạng về văn hóa, không ngừng nâng cao ý thức chính trị, trình độ học vấn, khoa học – kỹ thuật cho nhân dân, kiên quyết đấu tranh xóa bỏ tư tưởng, tập quán cũ, làm cho nhiệt tình cách mạng, tinh thần sáng tạo của nhân dân được phát huy mạnh mẽ v.v.

Ở chủ nghĩa xã hội khoa học, V.I.Lênin đã làm giàu thêm chủ nghĩa xã hội khoa học bằng lý luận về khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản trước tiên ở một số nước, thậm chí ở một nước; về đặc điểm của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, về thời kỳ quá độ với các hình thức quá độ, các “bước quá độ”, các mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ; đặc điểm, thực chất của thời kỳ quá độ, v.v.

Với những cống hiến của V.I.Lênin, chủ nghĩa Mác đã phát triển thành Chủ nghĩa Mác-Lênin – chủ nghĩa thể hiện trọn vẹn sự thống nhất giữa tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân văn của những người đã sáng lập, bảo vệ và phát triển nó.

Về thực tiễn, dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin, thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917 đã làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực.  Khác với các cuộc cách mạng trước đó, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười ở Nga không thay thế hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác mà cuộc cách mạng này đã thiết lập nền chuyên chính vô sản, thủ tiêu mọi hình thức bóc lột vì vậy đã tạo ra một bước ngoặt căn bản trong lịch sử, mở ra một thời đại mới cho nhân loại – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

Là Lãnh tụ của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, V.I.Lênin không chỉ quan tâm đến vận mệnh của nước Nga, mà còn luôn quan tâm sâu sắc đến vận mệnh của các dân tộc thuộc địa. Bằng sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của cách mạng Nga, V.I.Lênin đã xác định đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, giữa yếu tố dân tộc và yếu tố quốc tế trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản; đồng thời vạch ra những vấn đề có tính nguyên tắc của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Tư tưởng của V.I.Lênin về đoàn kết giai cấp công nhân ở tất cả các quốc gia; các dân tộc bị áp bức là một chủ thể trong tiến trình thực hiện cách mạng; vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại; v.v. còn mang tính chiến lược định hướng, thúc đẩy các cuộc đấu tranh giành độc lập trên phạm vi toàn cầu, thúc đẩy cho các trào lưu đấu tranh giành quyền tự do dân chủ ở các nước tư bản chủ nghĩa.

Đối với Việt Nam, nội dung “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đã tạo ra bước ngoặt căn bản về chất trong sự phát triển nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước. Hướng đi đúng đắn của sự nghiệp giải phóng dân tộc đã được xác định, chấm dứt cuộc khủng hoảng lâu dài, sâu sắc về đường lối của cách mạng Việt Nam. Có thể khẳng định, từ lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lê nin, đến nay, lý luận của Lênin nói riêng, của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung luôn đồng hành, định hướng để dân tộc Việt Nam đạt được những thắng lợi vĩ đại trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cả cuộc đời hoạt động, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, V.I.Lênin đã để lại cho chúng ta một gia tài đồ sộ. Đó là di sản quý báu về tư tưởng và lý luận; đó là tấm gương đạo đức cao đẹp, mẫu mực của người cộng sản chân chính, suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người khỏi nạn áp bức, nô dịch. Dù thời gian đã lùi xa và thế giới hiện đã có nhiều đổi thay to lớn, song tư tưởng của V.I.Lênin vẫn là ngọn đuốc soi đường cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, dân sinh, vì tiến bộ và công bằng xã hội trên toàn thế giới.  

Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh của V.I.Lênin trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, là dịp chúng ta thêm một lần nữa nhìn nhận, khẳng định những công lao, cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng vì sự tiến bộ của nhân loại; chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo những tư tưởng cơ bản của Lê nin, của chủ nghĩa Mác – Lênin cho phù hợp với thành tựu của cách mạng thế giới, của khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ở Việt Nam. Đó cũng chính là thực hiện tốt lời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta kỷ niệm đồng chí Lê-nin, thương nhớ đồng chí Lê-nin thì càng phải học tập và thực hành chủ nghĩa Mác-Lênin”, “là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây