Giáo hoàng Gioan Phaolô II

285
Giáo hoàng Gioan Phaolô II

Ðức Gioan Phaolô II được biết đến là vị giáo hoàng thứ 264 của Giáo hội Công Giáo. Ngài là giáo hoàng người Ba Lan duy nhất cho đến nay và là giáo hoàng đầu tiên không phải  người dân Ý kể từ thế kỷ 16. Suốt triều đại 26 năm trị vì của mình, Gioan Phaolô II đã có nhiều đóng góp vô cùng to lớn, trở thành một trong những nhân vật quan trọng trong lịch sử công giáo thế giới.

Thấm nhuần những triết lý tôn giáo từ nhỏ

Gioan Phaolo  II tên khai sinh là Karol Jozef Wojtyla sinh vào ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại Wadowice, miền nam Ba Lan.  Là con út trong một gia đình có ba người con, cô chị chết từ khi còn nhỏ. Cha ông là Karol Wojtyla một cựu sĩ quan trong quân đội Habsburg và mẹ là Emilia Kaczorowka. Bà là con của một viên chức chính phủ và chính bà là người đã truyền lại lòng đạo đức sâu sắc cho ông. 

Trong trường tiểu học dành cho trẻ em trai ở Wadowice, ông tỏ ra là một học sinh xuất sắc. Trong phiếu báo điểm đầu tiên, cậu được các điểm “rất tốt” về tôn giáo, hành vẽ, vẽ, hát, trò chơi, thể dục và “tốt” trong tất cả các môn còn lại. Ông rất thích thể thao, là thủ môn cho đội tuyển nhà trường.

Ở tuổi 11, Karol vào học trường trung học dành cho nam sinh của Wadowice. Cũng trong năm đó, ông trở thành một chú bé phụ lễ và có mối quan hệ gần gũi với linh mục Kazimiers Figlewicz. Ngày 5 tháng 12 năm 1932 anh ông là Edmund qua đời khi đang chăm sóc những người bị bệnh dịch. Sau này, trong một giây phút giãi bày tâm sự hiếm hoi, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã kể lại với tác giả người Pháp André Frossard: “cái chết của anh tôi có thể đã tác động tới tôi sâu sắc hơn cái chết của mẹ, do những hoàn cảnh riêng biệt, tất nhiên là đau thương và do tôi đã lớn hơn”

Trong thời gian này ông cũng đã đến với sân khấu. Nhiều trong số các vở kịch được diễn trên sân khấu của trường trung học là do Karol Wojtyla đạo diễn. Những vở kịch này thường đề cập tới những chủ đề yêu nước. Vào cuối những năm trung học, ông đã quen biết với Mieczyslaw Kotlarczyk – một nhà trí thức, người đã sáng lập Nhà hát Đại học nghiệp dư ở Wadowice. 

Sau khi học xong trung học tại Wadowice, Cha ông đưa ông đến Kraków vào tháng 8 năm 1938 khi ông 18 tuổi. Ở đó ông ghi danh vào Đại học Kraków giống như ông anh Edmund. Karol Wojtyła nhanh chóng thích ứng với 1 chương trình rất nặng tại trường đại học bao gồm các môn: từ vựng và ngữ âm Ba Lan, Văn học trung cổ Ba Lan, Kịch Ba Lan thế kỷ XVIII và thi ca đương đại. Ông đã trở thành một sinh viên triết lý và văn chương rất xuất sắc, vừa đồng thời theo học thêm ngành kịch nghệ.

Vào ngày 1 tháng 9 năm 1939 khi Đức tấn công Ba Lan mở màn cho Chiến tranh thế giới lần thứ hai, hai cha con Wojtyła quyết định rời khỏi Kraków. Hai người cuốc bộ đi về phía đông tới vùng núi Tarmobrzeg, cách Kraków 120 dặm thì nhận được tin Nga chuẩn bị xâm nhập phía đông Ba Lan. Hai cha con quyết định quay trở lại Kraków.

Vào mùa Đông năm 1939, Tyranowski đã mời ông tham gia tổ chức Living Rosary – một tổ chức hoạt động tôn giáo rất bí mật. Dưới sự chỉ đạo của Tyranowski, ông lao vào những thực hành huyền bí. Trong thời gian này, ông cũng viết cùng một lúc ba vở kịch: David, Job và Jeremiah bảy tỏ những suy nghĩ, tính huyền bí của sự hi sinh và sự khát khao về một sự giải phóng dân tộc mới. 

Trong những lúc rảnh rỗi, ông đã dành thời gian say mê điện ảnh. Cùng với những người bạn trong đó có Mieczyslaw Katlarczyk, ông đã sáng lập nên nhà hát Rhapsodic, tiền thân của đoàn kịch nghệ quốc gia Ba Lan. Nhưng họ phải hoạt động một cách bí mật vì nếu bị lính Đức quốc xã phát hiện họ sẽ có thể bị giết hay trục xuất. Mặc dù vậy trong khoảng thời gian từ 1941 – 1945, nhà hát đã trình diễn được 22 buổi và Wojtyła đã tỏ ra là một diễn viên xuất sắc.

Quyết định thay đổi tương lai theo con đường của một tu sĩ 

Năm 1941, sau khi cha ông qua đời sau một trận ốm nặng. Ông đã thức suốt đêm để canh thi hài cho cha và suy nghĩ về tương lai cũng như nghề nghiệp của mình. Karol đã quyết định dấn sâu hơn vào việc tái hiện sự huyền bí và triết học. Tại nhà Kydrynskis-một người bạn, nơi ông đã dọn đến và ở trong sáu tháng, người ta thường thấy ông nằm xoài ra sàn nhà cầu nguyện, tay dang ngang như hình thánh giá.

Vào mùa thu năm 1942, sau một cuộc thảo luận dài với cha giải tội Figlewicz, Wojtyla đến nhà riêng tổng Giám mục Sapieha và trình bày ước nguyện trở thành tu sĩ với vị Giám mục. Trước đó, ông đã tới tu viện khổ hạnh dòng Carmeline ở Czerna với hy vọng được vào đây nhưng tu viện này đã bị quốc xã đóng cửa. Mặc dù những người bạn đã cố gắng thuyết phục ông đừng rời bỏ sự nghiệp sân khấu, nhưng ông vẫn quyết định theo con đường mình đã chọn.

Ông bắt đầu lén lút học những môn của Chủng viện Kraków, do Hồng y Adam Stefan Sapieha, lúc đó là Tổng Giám mục Kraków, điều khiển. Trong thời gian này, ông đã đọc cuốn: Luận về sự hiến dâng hoàn toàn cho Đức mẹ đồng trinh của St Louis Grignion de Montfort, Lý thuyết tự nhiên của Kazimierz Wars. 

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Karol Wojtyla trở về phân khoa Thần học của Ðại học Jagiellonia vừa được mở cửa lại. Tại đây, ông đã được bầu làm phó chủ tịch hội sinh viên. Trong thời gian này, ông đã tập trung vào việc hoàn tất các chương trình nghiên cứu của năm 3 và năm 4. Từ tháng 4 năm 1945 cho tới tháng 8 năm 1946, ông cũng làm việc ở cương vị phụ giáo.

Karol Wojtyla cũng đệ đơn xin gia nhập tu viện Czera của dòng Carmelite đã được mở của trở lại. Tuy nhiên, tổng Giám mục Sapieha đã kiên quyết từ chối việc cho phép Wojtyla gia nhập dòng tu.

Từ vị linh mục phụ tá trở thành hồng y có đóng góp quan trọng

Ngày 1 tháng 11 năm 1946, Karol Wojtyla được thụ phong linh mục vào dịp Lễ Các Thánh. Ngày hôm sau, tại nhà lớn Wawel, Karol đã cử hành thánh lễ đầu tiên.

 Sau đó không lâu, hồng y Sapieha gửi linh mục Karol Wojtyla đi du học Roma, tại Ðại học của các linh mục Dòng Ða Minh Angelicum.  Dưới sự hướng dẫn của linh mục dòng Ða Minh nổi tiếng là Garrigou – Lagrange, Karol hoàn thành luận án tiến sĩ thần học về đề tài Ðức tin trong các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh giá vào năm 1948. 

Sau khi hoàn tất học trình tiến sĩ trong thời gian du học ở Roma, tháng 7 năm 1948, Karol Wojtyla được hồng y Sapieha bổ nhiệm làm linh mục phụ tá Niegowic, một giáo xứ hẻo lánh thuộc vùng quê Galicia, cách Kraków 30 dặm. Tháng 3 năm 1949, hồng y Sapieha thuyên chuyển ông về làm việc tại một trường của Ðại học Kraków thuộc giáo xứ Saint Florian. Ông tiếp tục trau dồi triết và thần học tại Ðại học Công giáo Lublin. Tại đây, ông có cơ hội tìm hiểu thêm về giới trẻ, đồng thời khai triển những phương pháp mục vụ trong khi tiếp xúc với đời sống văn hóa cùng các thức giả tại tổng giáo phận Kraków.

Vào ngày 4 tháng 7 năm 1958 ông được Giáo hoàng Piô XII bổ nhiệm làm Giám mục phụ tá giáo phận Kraków. Nửa giờ sau cuộc gặp với Hồng y Wyszynski và nhận sự đề cử làm Giám mục phụ tá, vị linh mục trẻ tìm tới tu viện của các nữ tu áo xám Ursuline bên bờ sông Vistula. Ông đã cầu nguyện liên tục suốt trong 8 tiếng đồng hồ liên tiếp trước khi rời tu viện Ursuline.

Ngày 28 tháng 9 năm 1958, ông được tấn phong Giám mục tại Nhà thờ lớn Wawel ở Kraków, 11 ngày trước khi Giáo hoàng Piô XII qua đời. Một tháng sau, Giáo hoàng Gioan XXIII lên kế vị, mở ra một kỷ nguyên mới cho Giáo hội Công giáo qua quyết định triệu tập Công đồng Vatican II. Vị tân Giám mục 38 tuổi nhận được giấy mời tham dự công đồng

Vào ngày 30 tháng 12 năm 1963, Giáo hoàng Phaolô VI đề bạt ông làm Tổng Giám mục Kraków. Trong cương vị tổng Giám mục, ông tham dự Công đồng Vatican II, góp công soạn thảo các tài liệu Tuyên ngôn về tự do tôn giáo (Dignitatis Humanae) và Hiến chế Mục Vụ Giáo hội trong thế giới ngày nay.

Trong năm 1967 Giáo hoàng Phaolô VI phong ông làm hồng y. Ông cũng đồng thời được bổ nhiệm vào bốn thánh bộ của Vatican: bộ giáo sĩ, thánh bộ Giáo dục công giáo, thánh bộ nghi lễ, bộ các giáo hội Đông Phương và làm cố vấn cho hội đồng về thế tục. Vào tháng 8 năm 1978, sau khi Giáo hoàng Phaolô VI mất, ông đã tham gia Hồng y đoàn chọn Albino Luciani, Hồng y Tổng Giám mục của Venezia làm Giáo hoàng Gioan Phaolô I. Khi được chọn làm giáo hoàng, Luciani chỉ 65 tuổi, trẻ so với nhiều giáo hoàng khác. Vào ngày 28 tháng 9 năm 1978, chỉ 33 ngày sau khi nhậm chức, Giáo hoàng Gioan Phaolô I qua đời. Vào tháng 10 năm 1978 Hồng y Wojtyła trở về lại Tòa Thánh để bầu giáo hoàng mới.

Vị Giáo hoàng gốc Ba Lan đầu tiên trong lịch sử

Lúc 16:30 ngày thứ bảy 14 tháng 10 năm 1978, sau khi cử hành Lễ kính Chúa Thánh Thần tại Ðền thờ Thánh Phêrô vào ban sáng, 111 vị Hồng y từ khắp thế giới bước vào Mật Viện, để bầu Giáo hoàng mới. Bốn lần bỏ phiếu ngày 15 tháng 10 năm 1978, không có kết quả nào cụ thể.

Qua ngày hôm sau, sau 6 lần bỏ phiếu, Hồng y Karol Wojtyla được chọn vào ngôi vị giáo hoàng của thế giới Công giáo. Ông đã được bầu để kế vị Gioan Phaolô I, trở thành Giáo hoàng từ ngoài nước Ý đầu tiên trong gần 500 năm và là vị giáo hoàng gốc người Slav đầu tiên trong lịch sử Công giáo.

Như giáo hoàng trước ông, Gioan Phaolô II đã đơn giản hóa chức vụ này và làm nó bớt huy hoàng. Ông không tự xưng là “chúng tôi” như các giáo hoàng trước; thay vào đó ông dùng “tôi”. Ông chọn làm một lễ tấn phong đơn giản chứ không rườm rà, và ông chưa đội mũ giáo hoàng trong khi đảm nhiệm. Ông làm thế để nhấn mạnh tên chức vụ hầu hạ của mình là tôi tớ của những người tôi tớ của Chúa (Servus Servorum Dei).

Sáng ngày 17 tháng 10, ông đã trình bày chiến lược của ông: trung thành với công đồng và các hội đoàn. Gioan Phaolô II đã kiên quyết khẳng định việc phải tuân thủ lời răn dạy của giáo hoàng, tôn trọng các luật lệ về nghi lễ cũng như về kỷ luật. Sau cùng, ông nhấn mạnh đến nhu cầu tiến hành cuộc đối thoại trên phạm vi toàn thế giới và cam kết của Giáo hội với hòa bình và công lý trên thế giới.

Lòng sùng kính vô tận đối với Đức mẹ Maria

Ngay từ những năm đầu kế vị, Đức Gioan Phaolô II vô cùng gắn bó với những truyền thống tôn vinh Đức Maria và luôn nêu cao tấm gương hiệp thông. 

Ngài đã được cứu sống một cách thần kì trong ngày  13/5/1981 sau khi Ngài ôm hôn một cô bé và bị một thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ tấn công bằng cách nổ súng liên tiếp nhiều phát súng vào người. Hai viên đạn 9mm có sức công phá rất lớn đã gây thương tích ở bụng, cùi tay bên phải, ngón tay trỏ bàn tay trái của Vị Giáo hoàng.

Giáo hoàng Gioan Phaolô II ngã xuống, ngay lập tức được đưa tới bệnh viện. Cuộc phẫu thuật kéo dài 5 tiếng 20 phút, Gioan Phaolô II bị cắt 55cm ruột và mất ¾ máu nhưng không bị hủy diệt một cơ quan chính yếu nào cả. 

Sau khi ra viện. Giáo hoàng đã ghé thăm kẻ ám sát đang ở trong tù và rồi đã tha thứ cho hành động của hắn.

Giáo hoàng của những kỷ lục “lần đầu tiên”

Ngài là vị Giáo hoàng công du nhiều nhất trong lịch sử giáo hội, rời Vatican 1500 lần để thực hiện các chuyến công du chính thức viếng thăm 129 quốc gia. Giáo hoàng Gioan Phaolo II đã đi được với tổng chiều dài 1 triệu km, tương đương với 30 lần  vòng quanh Trái Đất.

Ngài là một trong những vị giáo hoàng đã tước tác nhiều nhất và phong chân phước, tôn phong hiển thánh nhiều nhất với 1340 chân phước và 843 thánh nhiều hơn tổng số thánh của các vị giáo hoàng tiền nhiệm trong năm thế kỷ vòng lại. 

Ngài cũng là vị giáo hoàng đầu tiên có sáng kiến tư tưởng đầu tiên quy tụ các thành viên thuộc các niềm tin tôn giáo khác nhau để cầu nguyện cho hòa bình thế giới. 

Ngay lần đầu tiên tổ chức tại Assisi, ngày 27 tháng 10 năm 1986 đã có hơn 120 đại diện đến từ các tôn giáo khác nhau hiện diện để cùng nhau cầu nguyện cho hòa bình của thế giới. 

Ngài có khả năng nói lưu loát 14 ngoại ngữ, là nhà thơ, diễn viên, nhà soạn kịch, về giáo dục, nhà triết học, lịch sử… Năm 2004, Ngài đã gửi lời Chúc Mừng Lễ Phục Sinh đến toàn thế giới bằng 65 thứ tiếng khác nhau trên truyền hình, trong đó có cả Tiếng Việt.

Ngoài những kỷ lục này, Gioan Phaolo II còn là vị Giáo hoàng đầu tiên đứng ra xin lỗi toàn thế giới về những lỗi lầm của Giáo hội trong quá khứ. Ông là người đứng ra hòa giải với Chính thống giáo và Do thái giáo. Và đồng thời cũng là Vị Giáo hoàng đầu tiên đứng ra tổ chức các cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo các tôn giáo khác như: Phật Giáo, Khổng giáo, Chính thống giáo, Cao Đài và Hồi giáo. 

Tận tâm với tôn giáo đến hơi thở cuối cùng

Mặc dù Vatican đã không thửa nhận cho tới năm 2003 nhưng nhiều người tin rằng Giáo hoàng Gioan Phaolo II đã bắt đầu mắc chứng Parkinson vào đầu những năm 1990. Ngài nói chậm hơn và gặp khó khăn khi đi lại, nhưng vẫn duy trì công việc. Trong những năm cuối đời, phải ủy thác những nhiệm vụ chính thức của mình những Ngài vẫn đủ khỏe mạnh để trò chuyện cùng với các tính hữu tại một trụ sở tại Vatican.

Tháng 02/2005, Giáo hoàng đã phải nhập viện với các biến chứng do cúm. Khi Ngài biết rằng đã đến lúc mình phải đi về cõi vĩnh hằng, với sự đồng ý của các bác sĩ cho phép Giáo hoàng không đi bệnh viện nữa mà ở lại Vatican. Ngài muốn chịu đau khổ và chết ở nhà của mình gần bên mộ thánh Phêrô.

Ngay sau khi Gioan Phaolo II trút hơi thở cuối cùng, Hồng y Nhiếp chính đã thực hiện nghi thức hủy bỏ chiếc nhẫn Ngư phủ, bằng cách đập nát chiếc nhẫn trước sự chứng kiến của nhiều người. 

Hành động này nhằm ngăn chặn việc tạo ra các tài liệu giả mạo trong thời điểm trống tòa giáo hoàng

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây